II.
Trời
thu cao cây lá ngủ mơ hồ (1072-1079)
LỜI
DẪN
Trời
mùa Thu, là trời cho nỗi sầu Riêng Biệt của Thơ. Trời Thu
thuờng quạnh ráo, nen cao vọi không cùng. Càng cao, càng trong,
càng tĩnh lặng trong điệu buồn thiên cổ. Cũng ở chỗ đó
mà trời Thu đẹp với cốt các diễm lệ kiêu kỳ. Diễm lệ
kiêu kỳ như Nàng Tây Tử.
Tuy
nhiên, trời Thu cũng thường có mưa gió, cũng có mùa nước
lũ. Vậy thì, buồn tĩnh lặng của vòm trời nhưng cũng là
nỗi buồn xôn xao của mặt đất. Tây Hồ và Tây Tử, hoặc
xôn xao với mưa gió và xiêm y; hay tư lự khi quạnh ráo hay
lột hết trang phục , nét thanh tân tú lệ vẫn là cốt cách
tài hoa:
Dục
bả Tây Hồ tỉ Tây Tử
Đạm
trang nùng diễm tổng tương nghi
Trong
ngọn gió thu, bàng bạc có những cuộc giao tình. Tình của
Thiên nhiên bủa rộng bao la và tình của những tao nhân tri
ngộ. Ở đây Lịch sử hoá thân nơi mùa thu và tóc trắng.
Cuộc lịch nghiệm nghe ra những thống thiết nguyên sơ.
I.
Mắt
người mang cả quê hương
Lòng
ta mang cả đoạn trường tháng năm
(HOÀI
KHANH)
Năm
Hi ninh thứ 5, nhâm tý (1072), Ông 37 tuổi, bấy giờ ra giữ
chức thông phán tại Hàng châu. Trước đó, năm ất tỵ (1065),
Ông được triệu về kinh sư, làm việc tại sử quán. Cho
đến năm 36 tuổi, tân hợi (1071), lúc đang giữ chức Giám
quan cáo viện; nhân việc Vương An Thạch muốn sửa đổi thể
lệ thi cử, Thần tông đưa ra cho Lưỡng chế và Tam quán nghị
sự. ông dâng lên Thần tông ba điểm, khiến đảng Vương
An Thạch bất mãn, nên tìm cớ vu tấu những lỗi lầm của
Ông. Ông không một lời biện hộ, xin đi ngoại nhiệm để
tránh. Do đó được cử đi làm thông phán tại Hàng châu.
Lúc mới đến được hàng châu, Ông làm hai bài thơ tuyệt
cú gửi Tử Do, lời co 1 đôi chút than trách pha lẫn vẻ tràolộng.
Đại để như 2 câu:
Thánh
triều khoan đại hứa toàn thân
Suy
bịnh tồi đồi tự ý nhân
Ông
nói đến bịnh hoạn của mình và làm như có vẻ sợ thiên
hạ
Những
bài thơ Ông làm kể từ năm 36 tuổi về sau, phong vận
không thay đổi, nhưng tình tự hình như đã biến cách rất
nhiều. Rồi ta sẽ thấy, càng già dặn phong trần, tình quê
hương của Ông càng thắm thiết. Thơ Ông như là những đồng
vọng từ phương trời diệu vợi vủa quê hương. Đó là một
thứ tình cảm hoài vọng thoạt trông có vẻ dung dị, bình
thường, nhưng cảng đọc thơ Ông, càng thấy cái tình đó
mở ra một trời thơ bát ngát
Văn
Trưởng lão, một nhà sư đồng hương với Ông, hình như là
hiện thân cụ thể của một cõi nào đó trong thơ Ông. Cho
nên, những bài thơ Ông làm tặng nhà sư này đều từ một
cảm hứng tự nhiên và rất bình thường, nhưng cũng từ đó,
thơ bỗng chuyển thành âm hưởng kỳ lạ, vọng tới một
khát vọng u trầm nào đó. Cõi thơ có thể là nơi trường
mộng của đêm dài sinh tử, mà cũng chính ở đó là cõi Hư
Không tịch mặc, với một màu xanh thẳm nhưng xa xôi không
cùng tận.
Ba
bài thơ trích ở dưới đây, Ông làm rải rác trong các thời
gian khác nhau. Đọc chung một lần, sẽ thấy cốt cách của
Ông, và đó là cốt cách cho suốt cả thời gian Ông làm thông
phán tại Hàng châu.
Bài
thứ nhất, sau khi đến Hàng châu một năm, trên đường đi
Nhuận châu, Ông ghé thăm. Sáu năm sau, Ông đến thăm lần
nữa, bấy giờ Văn trưởng lão bịnh. Mười năm sau, từ Hàn
lâm học sĩ, Ông ra làm thái thú Hàng Châu, bấy giờ Văn đã
tịch
BÀI
THỨ NHẤT
秀州報本禪院
鄉僧文長老方丈
TÚ
CHÂU[1] BÁO BẢN THIỀN VIỆN
HƯƠNG
TĂNG VĂN TRƯỞNG LÃO PHƯƠNG TRƯỢNG
Vạn
lý gia sơn nhất mộng trung
Ngô
âm[2] tiệm dĩ bến nhi đồng
Mỗi
phùng Thục tẩu[3] đàm chung nhật
Tiện
giác Nga mi[4] thúy tảo không
Sư
dĩ vong ngôn chân hữu đạo
Ngã
trừ sưu cú bách vô công
Minh
niên thái dược Thiên thai[5] khứ
Cánh
dục đề thi mãn Triết đông[6]
萬里家山一夢中,
吳音漸已變兒童。
每逢蜀叟談終日,
便覺峨眉翠掃空。
師已忘言真有道,
我除搜句百無功。
明年採藥天台去,
更欲題詩滿浙東。
Quê
hương diệu vợi tưởng chừng như trong một giấc mộng.
Bấy
giờ, giọng của ta đã dần dần bập bẹ như giọng trẻ
nít
Nhưng
mỗi lần gặp cụ Thục thì vẫn còn bàn bạc suốc cả một
ngày.
Rồi
bỗng thấy ra ngọn núi Nga Mi xanh mướt quét bầu trời
Sư
đã quên lời, quả tình là sư đã có Đạo
Tôi
thì ngoài việc tìm câu nối chữ, hoàn toàn vô công.
Sang
năm sẽ vào núi Thiên thai hái thuốc để cầu Đạo
Những
vẫn còn muốn đề thơ đầy cả Triết đông
BÀI
HAI:
DẠ
CHÍ VĨNH LẠC VĂN TRƯỞNG LÃO VIỆN
Dạ
văn[7] Ba tẩu[8] ngọa hoang đồn[9]
Lai
đả tam canh nguyệt hạ môn
Vãng
sự[10] quá niên như tạc nhật
Thử
thân vị tử đắc trùng luân
Lão
phi hoài thổ tình tương đắc
Bịnh
bất khai đường đạo ích tôn
Duy
hữu cô thê cựu thời hạc
Cử
đầu kiến khách tợ trường ngôn
愁聞巴叟臥荒村,
來打三更月下門。
往事過年如昨日,
此身未死得重論。
老非懷土情相得,
病不開堂道益尊。
惟有孤棲舊時鶴,
舉頭見客似長言。
Ban
đêm, Ông đến Vĩnh Lạc, thăm Văn trưởng lão. Bấy giờ
trưởng lão ngọa bịnh không tiếp khách. Ông làm thơ tặng.
Từ và ý của bài thơ cũng bình thường. Nhưng nếu đã đọc
lại bài thơ Ông tặng Văn trưởng lão ở trên, và sẽ đọc
một bài khác sau này nữa, ta sẽ thấy nơi Ông, tình thơ và
tình quê hương là hai mối tình khắng khít. Tình quê hương
thì thấp thoáng như những bóng hình trong mộng. Tình thơ thì
hiu hắt như đồng vọng không lời của hư không.
Chừng
đêm, hay cụ Ba thục ngọa bịnh nơi xóm vắng;
Canh
ba đến gõ cửa dưới trăng
Chuyện
qua năm trước, trông như vừa hôm qua;
May
nhờ cái thân này chưa chết nên được cùng ngài chuyện trò
nữa.
Cụ
tuổi già mà không phải là hạng bo bo (khép kín miệnt) cho
nên tình lại càng tương đắc;
Nhưng
lúc này cụ bịnh, không khai đường, không tiếp khách hay
giảng đạo, thì cái đạo của cụ lại càng thêm cao. (Ông
muốn nói, đến thăm, dù không được tiếp chuyện mà vẫn
không có ý trách).
Chỉ
có con hạc tự năm nào vẫn đứng lẻ loi ở đó.
Ngẩng
đầu nhìn khách vẻ như đã nói rất nhiều.
BÀI
BA:
過
永 樂 文 長 老 已 卒
QUÁ
VĨNH LẠC VĂN TRƯỞNG LÃO DĨ TỐT
Sơ
kinh hạc sấu bất khả thức
Tuyền
giác vân qui vô xứ tầm
Tam
quá môn gian lão bịnh tử
Nhất
đàn chỉ khoảnh khứ lai kim
Tồn
vong quân kiến hồn vô lệ
Hương
tỉnh[11] nan vong thượng hữu tâm
Dục
hướng Tiền đường phỏng Viên Trạch[12]
Cát
Hồng[13] xuyên bạn đãi thu thâm
初
驚 鶴 瘦 不 可 識
旋
覺 雲 歸 無 處 尋
三
過 門 間 老 病 死 一 彈 指 頃 去 來 今
存
亡 慣 見 渾 無 淚
鄉
井 難 忘 尚 有 心
欲
向 錢 塘 訪 圓 澤
葛
洪 川 畔 待 秋 深
Ban
đầu, sửng sốt vì cánh hạc đã hao gầy mà không hay.
Nhưng
vừa tỉnh cơn sửng sốt, thì cụm mây trời đã bay về nơi
không vết tích.
Người
đời có ba cửa ải: già, bịnh và chế (mà ngài đã đi qua
hết cả ba).
Cuộc
đời thoảng trong một cái búng tay là đủ cả cái đã qua,
cái đang đó và cái sẽ đến (bây giờ ngài trong một thoáng
đó mà đã là thiên thu)
Chuyện
mất còn nhìn đã quen, nên nước mắt ráo quạnh;
Nhưng
cái tình hương lý khó nguôi được trong lòng.
Tôi
muốn đến Tiền đường hỏi thăm Viên Trạch.
Tiên
Cát Hồng đứng bên bờ suối đợi cái thu già.
2.
湖上飲
HỒ
THƯỢNG ẨM
(I)
Triêu
hi nghinh khách diễm trùng cương
Vãn
vũ lưu nhân nhập túy hương
Thử
ú tự giai quân bất hội
Nhất
bôi đương chúc thủy tiên vương[14]
朝曦迎客艷重岡
晚
雨留人入醉鄉
此意自佳君不會
一杯當屬水仙王
(II)
Thủy
quang liễm diễm tình phương hảo
Sơn
sắc không mông vũ diệc kỳ
Dục
bả Tây hồ[15] tỉ Tây Tử[16]
Đạm
trang nùng mạt tổng tương nghi.
水光瀲灩晴方好
山色空濛雨亦奇
欲把西湖比西子
淡妝濃抹總相宜
Nguyên
đề: “Ẩm Hồ thượng sơ tình hậu vũ nhị thủ”. Uống
rượu trên tây hồ, vừa tạnh sau cơn mưa, 2 bài.
Bút
pháp trong bài vô cùng độc đáo, nên thường được truyền
tụng. Khi trời mưa, hồ được bao phủ trong lớp bụi mờ
như nàng Tây Thi khoác lên mình lớp áo lụa mỏng. Lúc trời
tạnh ráo, cảnh hồ lộ liễu như nàng Tây Thi đẹp với vẻ
trong ngọc trăng ngà. Có thể thấy cái tài hoa lãng mạn của
Ông trong lối thơ ngoạn cảnh như bài này.
(Bài
I)
Nắng
mai đón khách rải vẻ tươi thắm trên những sườn núi chập
chùng
Buổi
chiều, cơn mưa cầm chân khách, rồi đưa khách vào làng say
Tình
ý đó bộc lộ một cách nồng nàn mà tự nhiên cho những
người ngoạn cảnh.
Vậy
hãy nâng một chén mời ngài Thủy tiên vương.
(Bài
II)
Mặt
nước sáng lóng lánh, mưa vừa tạnh trông càng đẹp
Sắc
núi quạnh ráo, mưa lại càng làm cho trông lạ ra.
Có
thể đem Tây hồ mà sánh với nàng Tây Tử
Dù
trang điểm sơ sài, hay rửa sạch hết phấn son, cả hai đều
diễm lệ
3
DU
TÂY BỒ ĐỀ TỰ
Lộ
chuyển sơn yêu vị túc di
Thủy
thanh thạch sấu tiện năng ký
Bạch
vân tự chiếm đông tây lãnh
Minh
nguyệt thùy phân thượng hạ trì
Hắc
tất hoàng lương sơ thục hậu
Chu
cam lục quất bán kiềm thì
Nhân
sinh thử lạc tu thiên phó
Mạc
khiến nhi lang thủ thứ tri
遊西菩寺
路转山腰足未移
水清石瘦便能奇
白雲自占东西嶺
明月谁分上下池
黑黍黄粟初熟候
朱柑绿橘半甜時
人生此樂须天付
莫遣兒曹取次知
Kỷ
Hiểu Lam, nhà bình thơ Đông Pha khá nổi tiếng, nói, nội
một bài này đã đủ mở ra thì phái Kiếm nam.
Kiếm
nam là đất Tứ xuyên, phong thổ đó đã lôi cuốn được
tay thi bá một thời: Tống Lục Du. Rồi tên đó trở thành
tập sách bất hủ của Lục Du.
Niên
hiệu Hi ninh thứ 7 (1074), theo lời chú của ông, ngày 27 tháng
8, ông cùng Mao Quan Bảo và Úy Phương Quân Vũ đi chơi ở Minh
Trí viện trên núi Tây bồ; tương truyền thơ đề khắc vào
đá nay vẫn còn (?). Chùa Tây bồ (đề) cách huyện Tiềm (?)
25 dặm.
Bài
thơ tả những phong thổ và nhân tình. Cảnh trí thơ mộng
với những con đường uốn lượn quanh co qua eo núi, với những
dòng nước trong, những tảng đá gầy ngộ nghĩnh, những cánh
đồng nức mùi lúa chín, những khu vườn đầy cam quít. Không
cần ngụ tình mà tình vẫn đẹp, đó cũng là chỗ độc đáo
trong lối thơ ngoạn cảnh của Ông.
Dịch
nghĩa. _ Đường đã chuyển quanh eo núi mà chân chưa dời bước.
Nước
trong, đá gầy, càng trông lạ.
Mây
trắng chiếm trọn một giải từ ngọn núi đông sang tây.
Trăng
sáng, như chia ao ra làm trên và dưới.
Lúa
hắc thử, thóc hoàng lương vừa đến độ chín
Cam
đỏ quít xanh đang nửa mùa ngọt
Cái
vui đó của cuộc nhân sinh phải nói là của trời cho.
Đừng
để lại cho con cháu coi thường điều ấy. (Có lẽ ông ngụ
ý chê tân pháp của Vương An Thạch; cái thanh bình giả tạo
của người không sao hơn nổi cái vui có sẵn của trời cho)
4.
Những
bài thơ cảm hứng từ nhạc, ít khi được phô diễn trực
tiếp. Âm thanh phát ra từ cung bậc của nhạc, vượt ra ngoài
sự rung động bình thường; nó rung từ một chiều sâu bất
tận. Do đó, tiếng nhạc khi kích động dòng cảm hứng của
thơ, không còn là những tiếng có thể nghe bằng lỗ tai. Các
thi sĩ Trung Hoa cũng thường làm các bài thơ gợi hứng từ
nhạc, mà được truyền tụng nhiều nhất có lẽ là bài “Cầm
sắt” của Lý Thương Ẩn, với các câu độc đáo:
Trang
Chu hiểu mộng mê hồ điệp
Vọng
đế xuân tâm thác đỗ quyên
Thương
hải nguyệt minh châu hữu lệ
Lam
điền nhật noãn ngọc sinh yên.
Khúc
đâu đầm ấm dương hòa
Ấy
là hồ điệp hay là Trang sinh
Khúc
đâu êm ái xuân tình
Ấy
hồn Thục đế hay mình Đỗ quyên
Trong
sao châu dọ duềnh quyên
Ấm
sao hạt ngọc Lam điền mới đông
Một
bài khác của Lý Hạ với những âm hưởng kỳ dị: Nghe Lý
Bằng đàn Không hầu. Đàn này là một loại nhạc khí được
chế từ đời Hán, có gốc ở rợ Hồ; hình gãy và dài, có
23 dây. Lý Bằng là tay đàn trong đám nhạc công của Đường
Huyền Tôn. Những câu tiêu biểu trong bài thơ này của Lý
Hạ:
Côn
sơn ngọc toái, phượng hoàng khiếu
Phù
dung khấp lộ, hương lan tiếu
Thập
nhị môn tiền dung lãnh quang
Nhị
thập tam ty động Tử hoàng
Nữ
Oa luyện thạch bổ thiên xứ
Thạch
phá thiên kinh đậu thu vũ
(…..)
Lộ
cước tà phi thấp hàn thố
Tiếng
đàn như tiếng ngọc rạn vỡ trên Côn sơn, quê hương của
các loại ngọc. Tiếng đàn như tiếng phượng hoàng réo rắt.
Long lanh như phù dung khóc sương sớm. Như hương lan vừa hé
nụ. Mười hai cổng thành Trường an như đẫm ánh sáng mờ
lạnh lẽo. Hai mươi ba sợi tơ đàn ngân tiếng vang dội đến
chín cung trời. Chỗ Nữ Oa luyện đá vá trời, tiếng đàn
nghe đá vỡ, trời rung, tuôn mưa thu xuống…. Tiếng đàn như
sương mù lảng vảng dưới chân; như sương mù đẫm ướt
vầng trăng lạnh.
Nhạc
mà nghe đến chỗ đó là đã đến mức thượng thừa. Nhưng
vì lời thơ không nói thẳng vào lời nhạc được, mà luôn
luôn phải thác lời vào những cái không phải là nhạc, cho
nên, dễ trở thành sáo.
Một
bài thơ khác của ông, gợi hứng từ cuộc nghe đàn tranh tại
chùa Cam lộ, cũng chỉ phô diễn gián tiếp cảm hứng về
nhạc:
Giang
phi xuất thính vụ vũ sầu
Bạch
lãng phiên không động phù ngọc
Hoán
thủ ngô gia song phượng tào
Khiển
tác Tam giáp cô viên hào
Ở
đây, tiếng nhạc lên khơi vơi cho bầu trời như thu mình trong
lớp bụi mưa mù. Từng tiếng nhạc bềnh bồng như từng hạt
ngọc lóng lánh trên lớp sóng. Đôi cánh phượng múa, và con
vượn lẻ loi kêu gào giữa sườn núi vắng.
Chỗ
tận cùng của nhạc là những đồng vọng không lời, mà lời
thơ lại cảm hứng từ đồng vọng đó; nghe đã khó mà nghe
qua lời thơ lại càng khó.
Bài
thơ của ông được trích dưới đây cũng nằm trong chỗ khó
này. Nó chỉ nói cái cảnh chung quanh chỗ tấu nhạc, mà không
nói thẳng tiếng nhạc. Nhưng nghe được từ chỗ đó, thì
thấy tình tự tài hoa của ông. Dĩ nhiên, không thể bàn cho
thấu đáo nổi. Trừ phi muốn nói lai rai mà chơi.
THÍNH
HIỀN SƯ CẦM
Đại
huyền xuân ôn hòa thả bình
Tiểu
huyền liêm chiết lượng dĩ thanh
Bình
sinh vị thức cung dữ giốc
Đản
văn ngưu minh ảnh trung
Trĩ
đang mộc môn tiền bác trác
Thùy
khấu môn sơn tăng vị nhàn
Quân
vật sân
Qui
gia thả mịch thiên hộc thủy
Tịnh
tẩy tùng lai tranh địch nhĩ
聽賢師琴
大
絃 春 溫 和 且 平
小
絃 廉 折 亮 以 清
平
生 未 識 宮 與 角
但
聞 牛 鳴 盎 中
雉
登 木 門 前 剝啄
誰
叩 門 山 僧 未 閑
君
勿 嗔
歸
家 且 覓 千 斛 水
淨
洗 從 前 箏 笛 耳
Sư
Hiền là ai thì không rõ, nhưng tài chơi đàn của sư có lẽ
khá tuyệt vời. Nghe sư đàn, ông có cảm tưởng những tiếng
nhạc được nghe trước đây chỉ như tiếng trâu rống trong
ảng sành hay tiếng chim sẻ mổ cánh cửa gỗ; rửa sach cái
lỗ tai đó, cũng phải mất hết hằng nghìn thùng nước.
Tiết
điệu thơ bắt nhịp với cảm hứng thơ, tạo cho bài thơ
có phong vận tiêu sái đặc biệt.
* *
*
Giây
lớn tỏa hơi ấm mùa xuân, vừa thong thả vừa nhịp nhàng.
Giây
nhỏ nghe thanh thót, gãy gọn, mà trong sáng
Bình
sinh, tôi chưa biết cung và giốc là gì
Chỉ
nghe tiếng trâu rống trong ảng sành
Hoặc
con chim sẻ đậu trước cửa gỗ, mổ và rỉa
Rồi
có ai đến gõ cửa, thầy không còn rảnh nữa
Ngài
đừng giận!
Về
nhà, hãy kiếm một nghìn thùng nước,
Rửa
sạch cái lỗ tai vướng những tiếng tranh tiếng sáo trước
kia.
5.
HỌA
TỬ DO TỐNG XUÂN
子由送椿
Mộng
lý thanh xuân khả đắc truy
Dục
tương thi cú bạn dư huy
Tửu
lan bịnh khách duy tư thụy
Mật
thục hoàng phong diệc lại phi
Thược
dược anh đào cu tảo địa
Bính
ti thiền sắp tưỡng vong ki
Bằng
quân tá thủ pháp giới quán
Nhất
tẩy nhân gian vạn sự phi
夢裏青春可得追
欲將詩句絆餘暉
酒闌病客惟思睡
蜜熟黃蜂亦懶飛
芍葯櫻桃俱掃地
鬢絲禪榻兩忘機
憑君借取
法界觀
一洗人間萬事非
Bài
họa thơ Tống xuân của Tử Do
Bấy
giờ là cuối mùa xuân năm ất mão (1075), Ông 40 tuổi, đã
đổi sang làm quan ở Mật chây. Bài trích là một trong bốn
bài họa gởi cho Tử Do. Ông với Tử Do, ngoài tình anh em,
còn có mối giao tình thi tứ rất đậm đà, nên những bài
thơ qua lại mang nỗi ngậm ngùi khôn tả.
Trong
thời này, Ông phải ra đi một cách bất đắc dĩ, để tránh
tai họa; ẩn tình đó còn thấy rõ ở bài khác: vị ưng hồi
thủ yểm lung tù, chưa dám quay đầu, vì còn sợ tù đày giam
hãm.
Suốt
tám năm đi thông thú các nơi: Hàng châu, Mật châu, rồi Từ
châu, thơ Ông phần nhiều bị gò bó, rất ít bài có phong
vận tài hoa cố hữu. Những bài thơ làm để thù tạc thì
không đáng kể. Chúng vẫn hay về âm vận thanh tao, bút pháp
điêu luyện, nhưng vẫn chỉ là thù tạc. Những bài khác,
thường vương cái sầu héo, hiu hắt, của một người lữ
khách bất đắc dĩ:
Thanh
xuân thấp thoáng mộng dài
Muốn
đem thi tứ dệt lời tà huy
Tuổi
thanh xuân chỉ còn tìm thấy thấp thoáng trong giấc mộng.
Nên
chỉ muốn mượn câu thơ kết dệt cái ánh tà huy còn sót
lại của một đời người.
Rượu
đã tàn, người mệt mỏi, chỉ tưởng đến giấc ngủ cho
xong.
Mật
đã chín, mà con ong vàng lại biếng bay.
Thược
dược và anh đào rải đầy mặt đất.
Mái
tóc bạc trắng và chiếc giường thiền, cả hai cùng lỡ cả.
Chi
bằng mượn môn Pháp giới quán của nhà Phật,
Để
một lần rửa sách hết vạn sự trong nhân gian, tất cả là
không cả.
8.
Năm
đinh tị (1077), Ông 44 tuổi, từ Mật châu đổi sang Hà trung
phủ, rồi đến tháng 4 năm đó lại đổi sang Từ châu. Trước
khi đi, ông làm bài thơ lưu biệt này:
LƯU
BIỆT THÍCH CA VIỆN
Xuân
phong tiểu việc khước lai thì
Bích
gian duy kiến sứ quân thi
Ưng
vấn sứ quân hà xứ khứ
Bằng
hoa thuyết dữ xuân phong tri
Niên
niên tuế tuế hà cùng dĩ
Hoa
tợ kim niên nhân lão hỉ
Khứ
niên Thôi Hộ khước trùng lai
Tiền
độ Lưu Lang tại thiên lý
留別釋迦院
春
風 小 院 卻 來 時
壁
間 惟 見 使 君 詩
應
問 使 君 何 處 去
憑
花 說 與 春 風 知
年
年 歲 歲 何 窮 已
花
似 今 年 人 老 喜
去
年 崔 護 若 重 來
前
度 劉 郎 在 千 里
Nếu
ngọn gió mùa xuân đi tới nơi chùa nhỏ,
Hẳn
là chỉ thấy bài thơ của sứ quân đề trên vắc.
Có
lẽ sẽ hỏi sứ quân đi đâu
Nhờ
hoa nói cho ngọn gió biết
Năm
này rồi năm khác, bao giờ cùng tận nổi;
Nhưng
hoa vẫn còn như là hoa năm nay,
Mà
người thì đã cằn cỗi ra rồi.
Nếu
chàng Thôi Hộ năm xưa có trở lại lần nữa,
Thì
chàng Lưu đã đi ngoài xa diệu vợi
Từ
đầu đến cuối, ông hoàn toàn mượn ý cổ nhân. Nhưng vẫn
giữ được bản sắc. So hai câu 5 và 6 của ông với hai câu
Lưu Hi Di đời Đường:
Niên
niên tuế tuế hoa tương tợ
Tuế
tuế niên niên nhân bất đồng
Trong
hai câu của Lưu Hi Di, những điệp ngữ muốn bắt theo cái
nhịp vận hành, đi và đến rồi đi của tuế nguyệt, cùng
cái đi mất của tuổi người. Nhưng lời còn pha nhiều vẻ
tục.
Ông
cũng dùng các điệp ngữ đó, nhưng cốt cách của chúng, cứ
so lại sẽ thấy. Đem tài hoa mà trộn vào tục, thì cái tục
trở thành thanh tao kỳ lạ!
9
ĐỘC
MẠNH GIAO THI
(I)
Dạ
độc Mạnh Giao thi
Tế
tự như ngưu mao
Hàn
đăng chiếu hôn hoa
Giai
xứ nhất thời tao
Cô
phương[17] trạc hoang uế
Khổ
ngữ dư thi tao[18]
Thủy
thanh thạch tạc tạc
Thoan
kích bất thọ cao
Sơ
như thực tiểu ngư
Sở
đắc bất thường lao
Hựu
tợ chử bành việt[19]
Cánh
nhật trì không ngao
Yếu
đương đấu Tăng thanh
Vị
túc đường Hàn hào
Nhân
sinh như triêu lộ
Nhật
dạ hỏa tiêu cao
Hà
khổ tương lưỡng nhĩ
Thính
thử hàn trùng hào
Bất
như thả trí chi
Ẩm
ngã ngọc sắc giao.
(II)
Ngã
tắng Mạnh Giao thi
Phục
tác Mạnh Giao ngữ
Cơ
trường tự minh hoán
Không
bích chuyển cơ thử
Thì
tùng phế phủ xuất
Xuất
triếp sầu phế phủ
Hữu
như Hoàng hà ngư
Xuất
cao dĩ tự chử
Thượng
ái đồng đấu ca[20]
Bỉ
lý phả cận cổ
Đào
cung xạ áp bãi
Độc
tốc[21] đoản thoa vũ
Bất
ưu đạp thuyền phiên
Đạp
lãng bất đạp thổ[22]
Ngô
cơ sương tuyết bạch
Xích
cước hoán bạch trữ
Giá
dữ đạp lãng nhi
Bất
thức li biệt khổ
Ca
quân giang hồ khúc
Cảm
ngã trường cơ lữ
讀
孟 郊 詩
細字
如 牛 毛
寒燈
照 昏 花
佳處一時
遭
孤
芳 擢 荒 穢
苦
語 餘 詩 騷
水
清 石 鑿 鑿
湍
激 不 受 篙
初
如 食 小 魚
所
得 不 償 勞
又
似 煮 彭 蚎
竟
日 持 空 螯
要
當 鬥 僧 清
未
足 當 韓 豪
人
生 如 朝 露
日
夜 火 消 膏
何
苦 將 兩 耳
聽
此 寒 蟲 號
不
如 且 置 之
飲
我 玉 色 醪
(II)
我
憎 孟 郊 詩
復
作 孟 郊 語
飢
腸 自 鳴 喚
空
壁 轉 飢 鼠
詩
從 肺 腑 出
出
輒 愁 肺 腑
有
如 黃 河 魚
出
膏 以 自 煮
尚
愛 銅 斗 歌
鄙
俚 頗 近 古
桃
弓 射 鴨 罷
獨
速 短 蓑 舞
不
憂 踏 船 翻
踏
浪 不 踏 土
吳
姬 霜 雪 白
赤
腳 浣 白 紵
嫁
與 踏 浪 兒
不
識 離 別 苦
歌
君 江 湖 曲
感
我 長 羈 旅 。
Mạnh
Giao, tự Đông Dã (751-814), người Lạc dương, ẩn cư Tung
sơn, gần 50 tuổi mới đến Trường An thi tiến sĩ. Năm Trinh
nguyên 12 (795), đậu tiến sĩ; năm sau được tuyển ra làm
Phiêu dương úy. Tính cô độc đơn bạc; thơ thì khúc mắc,
khắc khổ, bài nào cũng trầm buồn cùng độ; chúng như ẩn
khuất một tâm sự nào đó mà lời không nói hết. Hàn Dũ
rất thích thơ ông, kết bạn rất thân thiết. Mất năm 64
tuổi.
Hai
bài trích ở trên, Đông Pha làm theo lối thơ khúc mắc của
Mạnh Giao, gọi là thể thơ Đông dã. Kỷ Hiểu Lam phê rằng,
thể đó, dù Hàn Dũ và Phàn Tông Sư đời Đường rất thích,
nhưng chưa chắc đã làm nổi. Những Đông Pha cậy cái hùng
tài quán triệt của mình nên không ngại.
Lối
thơ này không cần giàu âm vận như các bài luật thi. Hai bài
của Đông Pha rất giàu hình ảnh, mà hình ảnh nào cũng độc
đáo, được gói trong các tiết nhịp khúc mắc, rất trầm
buồn. Buồn một cách cô đơn kỳ lạ.
(I)
Đêm
đọc thơ Mạnh Giao
Chữ
nhỏ như lông trâu
Đèn
nhạt rọi hoa tối
Cái
hay lại gặp nhau
Khơi
vơi giủ cấu bợn
Khúc
mắc thơ héo sầu
Nước
trong đá vằng vặc
Bọt
xoáy không chịu sào
Mới
như ăn cá nhỏ
Cái
được chẳng thấm đâu
Lại
như bắt còng nấu
Trọn
ngày ôm cua sao?
Có
thể đọ Tăng thanh
Chưa
thể đọ Hàn hào
Đời
người như sương sớm
Sáng
tối lửa cạn dầu
Sao
khổ hai tai vễnh
Nghe
sâu lạnh lẽo kêu?
Chi
bằng bỏ quách đi
Mời
uống chén rượu ngầu.
(II)
Ta
ghét thơ Mạnh Giao
Lại
làm thể Đông dã
Bụng
đói sôi sục reo
Chuột
đói lần vách đá
Thơ
từ phế phủ ra
Lại
gây sầu phế phủ
Tựa
như cá Hoàng hà
Phun
dầu tự nấu nó
Còn
ham đồng đấu ca
Quê
kệch mường tượng cổ
Cung
đào bắn con vịt
Lênh
đênh múa áo lá
Không
sợ đạp lệch thuyền
Đạp
sóng chê đất thó
Vợ
tớ sương tuyết trắng
Chân
trần giặt vải lụa
Làm
vợ gã rong chơi
Không
màng li biệt khổ
Hát
khúc chàng giang hồ
Rầu
ta mãi cô lữ
10
THỨ
VẬN TĂNG TIỀM[23] KIẾN TẶNG
Đạo
nhân hung trung thủy kính thanh
Vạn
tượng khởi diệt vô đào hình
Độc
y cổ tự chủng thu cúc
Yến
bạn tao nhân xan lạc anh
Nhân
gian để xứ hữu nam bắc
Phân
phân hồng nhạn hà tằng minh
Bế
môn tọa huyệt nhất thiền sáp
Đầu
thượng tuế nguyệt không tranh vanh
Kim
nhật ngẫu xuất vị cầu pháp
Dục
dữ tuệ kiếm gia long hình
Vân
nam tân ma sơn thủy xuất
Sương
tì bất tiển nhi đồng kinh
Công
hầu dục thức bất khả đắc
Cố
tri ỷ thị vô khuynh thành
Thu
phong xuy mộng quá Hoài thủy
Tưởng
kiến quật dữu thùy không đình
Cố
nhân các tại thiên nhất giác
Tương
vọng lạc lạc như thần tinh
Bành
thành lão thú hà túc cố
Táo
lâm tang dã tương yêu nghinh
Thiên
sơn bất đạn hoang điếm viễn
Lưỡng
cước dục sấn như nhu khinh
Đa
sinh ỷ ngữ ma bất tận
Thượng
hữu uyển chuyển thi nhân tình
Viên
ngâm hạc lệ bản vô ý
Bất
tri hạ hữu hành nhân hành
Không
giai dạ vũ tự thanh tuyệt
Thùy
sử yểm ức đề cô quỳnh
Ngã
dục tiên sơn chuyết dao thảo
Khuynh
khuông tọa thán hà thời doanh
Bạc
thơ tiên phố tận điền ủy
Chử
minh thiêu lật nghi tiêu chinh
Khất
thủ ma ni chiếu trược thủy
Cọng
khan lạc nguyệt kim bồn doanh
次韻僧潛見贈
道
人 胸 中 水 鏡 清
萬
象 起 滅 無 逃 形
獨
依 古 寺 種 秋 菊
要
伴 騷 人 餐 落 英
人
問 底 處 有 南 北
紛
紛 鴻 雁 何 曾 冥
閉
門 坐 穴 一 禪 榻
頭
上 歲 月 空 崢 嶸
今
年 偶 出 為 求 法
欲
與 慧 劍 加 礱 硎
雲
衲 新 磨 山 水 出
霜
髭 不 剪 兒 童 驚
公
侯 欲 識 不 可 得
故
知 倚 市 無 傾 城
秋
風 吹 夢 過 淮 水
想
見 橘 柚 垂 空 庭
故
人 各 在 天 一 角
相
望 落 落 如 晨 星
彭
城 老 守 何 足 顧
棗
林 桑 野 相 邀 迎
千
山 不 憚 荒 店 遠
兩
腳 欲 趁 飛 猱 輕
多
生 綺 語 磨 不 盡
尚
有 宛 轉 詩 人 情
猿
吟 鶴 唳 本 無 意
不
知 下 有 行 人 行
空
階 夜 雨 自 清 絕
誰
使 掩 抑 啼 孤 惸
我
欲 仙 山 掇 瑤 草
傾
筐 坐 歎 何 時 盈
簿
書 鞭 扑 晝 填 委
煮
茗 燒 栗 宜 宵 征
乞
取 摩 尼 照 濁 水
共
看 落 月 金 盆 傾
Bi
này vốn là một bài họa, do thơ của Đào Tiềm tặng Ông.
Nói là họa, nhưng bút pháp và chương pháp của thơ rất ung
dung. Đó là chỗ điêu luyện của người làm thơ. Cốt cách
và đời sống của Đạo TIềm được tả trong những nét
rất linh hoạt. Ngay ở hai câu đầu, lời thơ và tứ thơ đã
đi ngay vào chỗ độc đáo bằng biết nhịp và hình ảnh sống
động. Thỉnh thoảng trong thơ đột nhiên nổi lên với những
hình ảnh rất đẹp được gói trong lời và tứ kỳ diệu.
Đại để các câu:
Bế
môn tọa huyệt nhất thiền sáp
Đầu
thượng tuế nguyệt không tranh vanh
Khép
cửa hang sâu một giường thiền
Trên
đầu năm tháng trôi chênh vênh
Năm
tháng là tuổi già, là mùa thu và tóc trắng, là những hoài
vọng xa xôi của nhà thơ. Hoài vọng đó là hình ảnh hiu hắt
khép kín cửa trong hang sâu giữa núi rừng xa vắng, và thầm
lặng trôi qua trên đầu nhà sư cô quạnh. Cho nên, tấm lòng
của sư như một mặt nước trong ngần, bao nhiêu chìm nổi
thiên hình vạn trạng của cõi đời hiện rõ lên trong đó.
Rồi
khi sư thả bộ rong chơi, màu áo còn pha màu sương khói của
núi rừng. Sư mang cái tình đạo đó kết duyên với tình thơ
của khách thơ, như ngọn gió mùa thu thổi những phương trời
viễn mộng đến làng thơ, thì tình thơ bỗng ngọt ngào như
cam quít đang mùa chín đỏ; một thứ ngọt ngào trầm lặng:
Thu
phong xuy mộng quá Hoài thủy
Tưởng
kiến quật dữu thùy không đình
Gió
thu đưa mộng qua Hoài thủy
Này
cam nọ quít rũ sân buồn
Khách
làng thơ lại muốn bỏ qua những ngày bươn bả, để cùng
sư, trong những đêm dài xa xôi, đốt củi nấu trà, ngồi
xem bóng trăng nghiêng xuống đáy cốc. Tình thơ sống động,
nhưng xa xôi và đơn bạc.
Tấm
lòng nhà đạo như nước phẳng;
Rọi
bóng chìm nổi của cõi đời.
Chùa
xưa lẻ bóng trồng thu cúc
Bạn
với làng thơ thưởng chút tài
Cõi
nhân gian có chia đường nam nẻo bắc
Mà
cánh hồng cánh nhạn vẫn đơn độc lẻ loi
Trên
đầu năm tháng trôi chênh vênh
Nay
hứng dậy tìm duyên cùng khách tục
Muốn
đem kiếm tuệ miệt mài thêm
Áo
mây vừa khoác vương màu non nước
Râu
sương không cạo trẻ thấy mà kinh
Công
hầu muốn quen, quen chẳng được
Mới
biết nơi chợ không kẻ khuynh thành
Gió
thu thổi mộng qua Hoài Thủy
Tưởng
thấy cam quít rũ sân buồn
Bè
bạn mỗi người riêng một cõi,
Trông
nhau lác đác như sao mai
Người
bận việc quan thôi khỏi nói
Rừng
táo nương dâu mong đợi nhau
Đường
xa quán lẻ không đáng ngại,
Gót
vượn nhẹ nhàng bước như bay.
Lời
đẹp mấy đời còn dệt mãi,
Tình
thơ uyển chuyển còn nhau đây,
Vượn
gào hạc réo thế là thế,
Nào
biết người đi qua dưới này
Thềm
vắng, mưa đêm, buồn da diết,
Nghẹn
ngào cô quạnh khóc ai đây?
Tôi
muốn núi tiên bứt cỏ dao,
Nghiêng
giỏ ngồi than, đầy được sao?
Chép
sách, đánh roi, đã làm hết,
Nấu
trà đốt củi hẹn đêm nào.
Xin
hạt ma ni soi nước đục,
Cùng
đợi đáy cốc trăng lao xao.
[1]
TÚ CHÂU, một dãy đất chạy dài từ huyện Gia Hưng tỉnh
Triết Giang đến huyện Tùng Giang tỉnh Giang Tô
[2]
NGÔ ÂM, hay THANH GIANG, điệu nhạc Thanh thương khúc, thịnh
hành tại các vùng Giang Nam, đất Ngô, qua các điệu dân dao.
Đến đời Đường, điệu ca biến đổi về sau ít truyền
tụng.
Ngô
âm cũng chỉ cho giọng nói vùng đất Ngô trung nằm ở đông
bộ tỉnh Giang tô và tây bộ tỉnh Triết giang.
Ngô
âm ở đây có nghĩa bình thường: giọng nói của TỚ; lối
nói thông thường của người đất Thục.
[3]
THỤC TẨU, cụ giả đất Thục, chỉ cho Văn trưởng lão,
cùng quê với Ông ở đất Thục.
[4]
NGA MI, núi Nga Mi, hai ngọn đối nhau như hai nét lông mày. Nhà
Phật gọi là núi Quang Minh. Đạo gia gọi là Hư linh động
thiên; hoặc Linh Lăng thái điện thiên. Núi ở phía Tây nam
huyện Nga mi tỉnh Tứ Xuyên. Tại tây bắc huyện giáp tỉnh
Hà Nam cũng thấy một ngọn mà ông cho là giống với Nga Mi
ở quê ông nên đặt tên là Tiểu Nga Mi, trên đó có đền
thờ Tam Tô (ba cha con Ông)
[5]
THIÊN THAI, ngọn núi phía bắc huyện Thiên thai tỉnh Triết
Giang. Tương truyền, đời Hán có Lưu Thần và Nguyễn Triệu
vào núi hái thuốc mà gặp tiên.
[6]
TRIẾT ĐÔNG, đông nam bộ trong tỉnh Triết Giang
[7]
DẠ VĂN, có chỗ chép SẦU VĂN
[8]
BA TẨU, cũng như Thục tẩu, do chữ Ba thục (xem chú thích
bài trước)
[9]
HOANG ĐỒN, có chỗ chép HOANG THÔN
[10]
VÃNG SỰ: hai câu 3 và 4, có lẽ ông muốn nhắc đến chuyện
năm tân hợi, xích mích đảng Vương An Thạch, suýt vong
mạng. Nay đi tìm lại người cố cựu, thấy lại tình quê
hương vẫn đậm đà. Nhưng tình đó không nói thành lời được.
Chỉ có “ Con Oanh học nói trên cành mỉa mai” thôi ư?
[11]
HƯƠNG TỈNH, giếng làng, chỉ cho tình hương lý
[12]
VIÊN TRẠCH, tăng đời Đường; bạn là Lý Thiện Nguyện ba
lần chứng kiến sự tái sinh của sư. Lần chót, do hẹn gặp
nhau tại chùa Thiên Trúc, vào đêm trăng thu, Thiện Nguyên y
hẹn, vừa đến cổng chùa, bỗng thấy một mục đồng ngồi
trên lưng trâu ca:
Tam
sinh thạch tượng cựu linh hồn
Thưởng
nguyệt ngâm phong bất yếu luân
Tàm
quĩ tình nhân viễn tương phỏng
Thử
thân tuy dị tánh thường tồn
[13]
CÁT HỒNG, người đời Tấn, tự xưng Tiểu Cát tiên
ông; thích phép đạo dưỡng của thần tiên; nghe đồn Giao
chỉ có nhiều đan sa, dẫn con cháu đến núi La phù luyện
đan, khi đan thành thì thi thể đã rã. Ở đây ngụ ý người
không sao thoát khỏi cái chết.
[14]
THỦY TIÊN VƯƠNG, Ông tựchú: trên hồ có miếu Thủy Tiên
vương
[15]
TÂY HỒ, có tám nơi tất cả, mà trong bài này chỉ cho Tây
hồ thành tây huyện Hàng châu tỉnh Triết giang. Hồ này còn
có những tên khác: hồ TIỀN ĐƯỜNG, hồ MINH THÁNH, hồ KIM
NGƯU. Nhân câu thơ của Ông: “Dục bả “Tây hồ tỉ Tây
Tử”, nên cũng được gọi là hồ Tây Tử. Ba mặt là núi
vây quanh; nam và bắc có hai ngọn núi cao đối nhau, trong hồ
có các con đê Tô, Bạch, chia nước hồ ra làm HỒ TRONG và
HỒ NGOÀI và HỒ SAU. Bốn mùa phong vật tốt tươi, với 10
cảnh trí nên thơ và nổi danh.
[16]
TÂY TỬ, tức Tây Thi
[17]
CÔ PHƯƠNG, cao vọi một mình, tuyệt hẳn thói tục.
Thơ
Hàn Dũ:
Dị
chất kỵ xử quần
Cô
phương nan ký lâm
(chất
riêng không cùng bọn. Cao vọi khó ở rừng)
Thơ
Chu Hy:
Long
đông điêu bách hủy
Giang
hải lệ cô phương
(Trời
lạnh cây cỏ úa. Sông biển một mình trôi.)
[18]
THI TAO, nỗi sầu héo của thơ. Thơ buồn khổ
[19]
BÀNH VIỆT, có lẽ con còng, loại cua nhỏ
[20]
ĐỒNG ĐẤU CA. Chữ trong thơ Mạnh Giao
Đồng
đấu ẩm giang tửu
Thủ
phách đồng đấu ca
(Đấu
đồng uống rượu sông, tay vỗ đấu đồng ca)
[21]
ĐẠP THUYỀN, ĐỘC TỐC. Thơ Mạnh Giao:
Cước
đạp tiểu thuyền đầu
Độc
tốc vô quyển sa
(Gót
đạp đầu thuyền nhỏ, lênh đênh không bến cỏ.)
[22]
ĐẠP LÃNG, ĐẠP THỔ. Chữ trong thơ Mạnh Giao:
Nùng
thị đạp lãng nhi
Mỗi
đạp thanh lãng du
Tiếu
y hương cống lang
Đạp
thổ xưng phong lưu.
(Ta
là người sóng xanh, cưỡi sóng mà rong chơi. Cười y gã hương
cống, dẫm đất gọi phong lưu.)
[23]
TĂNG TIỀM: Tăng Đạo Tiềm ở Tiền Đường, hiệu Sam Liêu
Tử, trơ vơ như sao Hôm hoàng hôn, là bạn thơ rất thân với
Đông Pha.