NHỮNG
PHƯƠNG TRỜI LỮ THỨ
Thơ
từ phế phủ ra
Lại
làm sầu phế phủ
Nào
chỉ có thế thôi ư? Thơ phát ra từ những khổ lụy và những
nguyện ước khơi vơi của cuộc tồn sinh; từ độ đó, Thơ
đi vào giữa những thảm họa hoành sinh của Lịch sử. Từ
buổi bình mình, Thơ vang vọng những lời tình tự thiết tha,
từ tiếng chim thư cưu nơi cồn cát, đến những đêm dài
trăn trọc, trong nguyện ước lứa đôi. Cho tới lúc, Thơ là
Ly tao, là nỗi buồn cô quạnh của một lão thần nơi đất
Trích, bên dòng sông Mịch la. Lịch sử đã gây nên những
trường khốc liệt, cuộn sòng Thơ trôi mãi, trôi không bao
giờ thấy lại được nguồn suối ban sơ; đừng nói chi đến
việc trở về. Thơ bị đẩy trôi theo tuế nguyệt. Mà Tuế
nguyệt đã đi là đi mất. Thế là, từ những phương trời
viễn mộng ban sơ, Thơ dấn bước đi vào Cuộc Lữ, kỳ cùng
trong những phương trời của Cuộc Lữ. Nhưng Cuộc Lữ không
bao giờ cùng tận. Vì tượng của cuộc Lữ là những ngọn
lửa bốc cháy trên đỉnh núi, cháy liên miên không hề gián
đoạn. Núi vẫn đứng trơ ra đó, mà lửa thì cứ mãi bốc
thẳng và mất hút trong bầu trời cô tịch. Tại sao lại phải
từ cái có, muôn đời có đó, để đi vào cái không? Kiệt
tận bình sinh, hay sống trọn đời với tuổi đời, hay sống
cho tận cùng cuộc sống, thì tất cả đời sống đó đã
không ngừng mang trọn tài hoa phong nhụy đổ vào khơi vơi,
vào cõi miền hư tịch, không hư, không hình tích, không bóng
dáng và không lời. Cuộc Lữ nếu được đi trong mực Trung
Dung, thì cũng đi như mũi tên bắn thẳng tới phía trước,
dù có bắn được một con chim Trĩ, chim của biểu tưởng
văn minh, của lịch sử hiền hòa; nhưng mũi tên bắn đi không
còn cách nào quay đầu trở lại. Nếu Cuộc Lữ được dẫn
tới chỗ kỳ cùng của Cuộc Lữ, đấy là lúc con chim trên
rừng đã đốt tổ bay đi. Có muốn về, cũng không còn tổ
ấm bao dung của Quê Hương nguyên thủy nữa.
Thơ
phát ra từ cuộc Lữ đọa đày, rồi trở lại đọa đày
cuộc Lữ. Cuộc Lữ là trường thể nghiệm Lịch sử tồn
sinh thảm họa của Thơ. Và Thơ mở rộng những phương trời
Lữ Thứ. Quê Hương nguyên thủy chỉ là những âm vang của
Lịch sử, vang dội ngân dài trong những phương trời viễn
mộng. Cho nên, Đất của Thơ đất Trích, là những vùng đày
ải; Đường của Thơ là Quán Trọ, là những bước đường
ngược gió. Mặn nồng nơi Đất Trích, lân la nơi Quán Trọ,
cuộc thể nghiệm dây dưa hằng triệu vấn vương, và cũng
là cuộc thể nghiệm cho khước từ tuyệt đối. Cho nên lời
Thơ càng lúc càng trầm trọng, như viên sỏi rơi vào lòng
biển bao giờ cho tới đáy thì thôi. Biết bao giờ cho tới
đáy, để lấy đó làm Quê Hương hằng cửu? Bởi cách điệu
trầm trọng như thế, nên Thơ là phong vận tài hoa, đẹp như
những cụm mây trời trong nắng sớm.
Từ
đây trở xuống, Thơ của ông sẽ được công bố cho thành
một Cuộc Đi, đi trong những đoạn đường Lữ Thứ, đi trong
những phương trời Lữ Thứ. Bố trí cho Thơ lịch nghiệm
trong cuộc Riêng, để thể nghiệm trong cuộc Chung của Lịch
sử. Trong cuộc Riêng, Tình Thơ sẽ cũng chỉ là Tình Riêng.
Một vài lời phụ chú, một ít chuyện bàn bạc của người
soạn sách, từ cuộc Riêng đó, nỗ lực giới hạn, trên những
trang lịch sử của phong trần cổ lục, để xem có thể dẫn
tới được một cuộc Chung đồng vọng nào đó chăng?
I.
TRỜI
QUÊ HƯƠNG KHÓI MÙ BAY VIỄN MỘNG
(1061
-1071)
LỜI
DẪN
1061-1071,
trong khoảng 10 năm này, ông làm quan tại các chỗ: Kiểm phán
tại Phượng tường, rồi Giám quan cáo viện tại Sử quán
ở Kinh đô, và sau đó xin ngoại nhiệm, được đổi ra Hàng
châu vào năm 1071. Những chi tiết về sự vụ làm quan của
ông, ở đây chỉ lược đại khái.
Bắt
đầu với bài thơ Hoài Cựu. Rồi chúng ta sẽ thấy, Đất
Khách luôn luôn phảng phất bóng dáng Quê Hương; trời của
quê hương là vang vọng của lịch sử. Sầu cố quận hay tình
tha phương là những tiếng ngân dài của lịch sử. Đó là
đoạn đầu của một cuộc lịch nghiệm. Thơ được trích
do bố trí dự định sẵn, thì những cách điệu khác nhau
của chúng chỉ là những sai dị trong bước đi mà thôi. Cái
Tình ẩn và cái Tình hiện trong mỗi bài thơ chỉ cùng chung
một nỗi. Nỗi đó, tạm thời gói lại trong Trời quê hương
khói mù bay viễn mộng ở đây. Gọi là trời quê hương, là
muốn nói tới hoài vọng của người khách vừa bước ra đi,
từ giã quê hương, cho đoạn đầu của Lữ Thứ. Quê hương
qua lớp khói mù, là muốn nói tới hoài vọng trẻ trung, vì
quê hương là nơi ngụ ẩn tình của lịch sử. Bay viễn mộng,
là đoạn đường Lữ Thứ đã mở ra rồi, nên cuộc lịch
nghiệm thoáng hệin những nét đăm chiêu. Cũng có thể lưu
ý rằng, những chữ này chỉ dùng theo nghĩa Riêng của đoạn
này, để tương xứng với một cuộc Tình Riêng của Thơ
I.
Đồi
mai ngơ ngác nụ cười
Cánh
hồng là mộng của đời lưu ly
Tồn
sinh thấp thoáng nẻo về
Dấu
trơ bãi tuyết ngoài tê cánh đồng
Sư
già tháp mới hồn không
Tường
rêu đổ xuống đâu đồng vọng Thơ
Gập
ghềnh năm tháng hay chưa
Đường
dài người mỏi gót lừa kêu đau
Năm
canh tý (1060), Ông làm chủ bạc tại huyện Phước xương,
tỉnh Hà nam. Năm trước, sau khi mãn tang mẹ, Ông và Tử Do
theo cha, Lão Tô, dong thuyền Nam du. Thơ văn của hai anh em được
gói thành "Nam hành tập". Đó là những bài thơ của tuổi
trẻ; người ta nói như vậy. Hồn thơ bộc phát tự nhiên,
như cánh chim hồng đang ước hẹn với trời cao. Trong con mắt
của người đời, cái cảnh giang sơn thanh kỳ tú lệ đã
tô điểm cho phong cách tự phụ của thời niên thiếu:
Giang
sơn dưỡng hào tuấn
Lễ
số khốn anh hùng
Chấp
bản nghinh quan trưởng
Xu
trần bái hạ phong
Cốt
cách đó chưa hiện rõ những nét cuồng ngạo. Sóng Trường
giang vẫn ào ạt mùa nước lũ trong từng năm một; nhưng lịch
sử vẫn mãi triền miên bất động trải dài thành hai bờ
bến. Hồn thơ sẽ đến để mở cánh cửa trời, và rồi
sẽ khép lại thành một cõi của từ sinh trường mộng. Lúc
nào mở, và lúc nào đóng? Con chim trên rừng đốt tổ bay
đi, cuộc Lữ không tính được khoảng đầu và khoảng cuối.
Trên
con đường của những ngày tháng đầu tiên từ giã quê hương,
thơ Ông đồng vọng tiếng hát này:
Đài
thượng hữu khách ngâm thu phong
Bi
thanh tiêu tán phiêu nhập cung
Đài
biên du nữ lai thiết thính
Dục
học thanh đồng ý bất đồng
Quân
bi cánh hà sự?
.
. . . .
Trên
gò cao, khách đứng hát với ngọn gió mùa thu. Âm hưởng trầm
buồn hững hờ bay vào khung cửa kín. Bên gò có nàng du nữ
đến nghe lén. Muốn học tiếng hát đó, nhưng chỉ có thể
cùng âm vang mà không thể cùng đồng vọng. Thế thì, ngài
buồn chuyện gì nhỉ?
Gió
thu rồi cũng sẽ tới lúc thổi lên tóc trắng. Và cánh chim
hồng rồi cũng sẽ để lại dấu vết trên bãi tuyết trắng...
Ngẫu nhiên:
HOÀI
CỪU
Nhân
sinh đáo xứ tri hà tợ
Ưng
tợ phi hồng đạp tuyết nê
Nê
thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
Hồng
phi na phục kế đông tây
Lão
tăng dĩ tử thành thân tháp
Hoại
bích vô do kiến cựu đề
Vãng
nhật kỳ khu hoàn ký phủ
Lộ
trường nhân khốn kiển lô tê
懷舊
人生到處知何似
應似
飛 鴻踏雪泥
泥上偶然留指爪
鴻飛那計東西
老僧已死成新塔
壞壁無由見舊題
往日崎嶇還記否
路長人困蹇驢嘶
Bài
thơ của Ông được trích ở đây, nó là một tình tự trẻ
trung; cái tình hoài cựu chưa đượm mùi sương gió. Mãi về
sau, thơ và từ của Ông vẫn còn âm hưởng đồng vọng của
một cánh chim hồng, lẻ loi và cao vút. Dù là tung cánh trong
bình minh hay giữa nắng quái, nguồn thơ đó càng lúc càng
ngời sáng phong vận cuồng ngạo và phóng dật. Bắt được
tiết điệu của bài thơ, và thấy ra phong vận của nó, thì
cái dòng thơ triền miên bất tuyệt của Ông cũng được thấy
ra từ đó.
Cuộc
nhân sinh, rồi đây biết nó sẽ như thế nào? Có lẽ, nên
coi như một cánh chim hồng dẫm chân lên bãi tuyết. Ngẫu
nhiên mà trên bãi tuyết đó còn in nguyên vẹn những vết
chân của cánh hồng. Cánh hồng sẽ bay bổng mù khơi, còn
kể gì đến những dấu chân kia.
Sư
già vừa chết, ngôi tháp mới cũng vừa được dựng lên.
Tường rêu đã đổ xuống, không tìm đâu ra những bài thơ
đề trên đó nữa. Một ngày qua, đường đời gập ghềnh,
có biết chưa? Đường thì dài, người thì mỏi, con lừa khấp
khiểng kêu đau.
2.
THẠCH
TỊ THÀNH
Bình
thời chiến quốc kim hà tại
Mạch
thượng chinh nhân tự bất nhàn
Bắc
khách sơ lai thí tân hiểm
Thục
nhân tùng thử tống tàn sơn
Độc
xuyên ám nguyệt mông lung lý
Sầu
độ bôn hà thương mang gian
Tiệm
nhập tây nam phong cảnh biến
Đạo
biên tu trúc thuỷ sàn sàn
石鼻城
平时战国今无在,
陌上征夫自不闲。
北客初来试新险,
蜀人从此送残山。
独
穿暗月朦胧里,
愁渡奔河苍茫间。
渐入西南风景变,
道边修竹水潺潺
Thạch
tị thành, không rõ địa danh này. Hoặc giả là núi Thạch
thành; phía đông nam, huyện Tín dương, tỉnh Hà nam có một
ngọn; phía tây huyện Nghi tân, tỉnh Tứ Xuyên, thấy một
ngọn; đông bắc huyện Thiệu hưng, tỉnh Triết giang, một
ngọn. Trong thơ có nói Thục nhân, tức người đất Thục,
tỉnh Tứ xuyên ngày nay. Quê Ông, huyện My Sơn, cũng ở trong
vùng này. Thơ cũng nói Bắc khách, người khách từ phương
bắc đến; tất nhiên chỉ cho Ông. Có lẽ bấy giờ Ông từ
Kinh đô về tại vùng này.
Năm
tân sửu (1061), từ Hà nam, Ông được triệu về Kinh, rồi
được bổ làm Kiểm phán phủ Phượng tường, trong hạt Tứ
xuyên. Đến năm bính ngọ (1066), 5 năm sau đó, Lão Tô mất.
Ông về quê chôn cha. Vậy, bài thơ được làm trong khoảng
thời gian này, từ 26 đến 31 tuổi.
Bấy
giờ Ông còn trẻ, lời thơ sảng hoạt mà thanh thiết. Đó
cũng là bản sắc độc đáo trong tiết điệu thơ của Ông.
Hai câu 3-4, ngụ những ẩn tình nồng hậu, thắm thiết.
Thi
tân hiểm, thưởng thức cảnh lạ giữa những ngọn đá cheo
leo; ứng với 4 chữ "Bắc khách sơ lai" ở trước, và đối
với 3 chữ "tống tàn sơn" ở câu dưới. Ứng và đối trong
một bút pháp tuyệt vời, nói được cái tình tự đậm đà
của khách phương xa đến và đi, cùng tấm lòng đón và đưa
của những gì ở đó.
Tống
tàn sơn, đưa tiễn ngọn núi tàn, ngọn núi trơ vơ. Thơ Đỗ
Phủ có những câu:
Thặng
thủy thương giang phá
Tân
sơn kiệt thạch khai
Nước
lũ sông đầy vỡ
Non
trơ đá chởm lên
Thặng
thủy tàn sơn tả cảnh núi non không tề chỉnh; núi thì thấp
xuống, nước thì tràn ra, chẳng hạn
*
*
*
Dấu
vết của một thời chiến quốc không thấy đâu đây nữa;
nhưng người rong ruổi trên con đường qua đó vẫn còn phải
bươn bả.
Khách
phương bắc mới tới, đã tìm đến thưởng thức các lạ
giữa những ngọn đá cheo leo;
Và
từ đó, người đất Thục ở đó sẽ hằng ngày đưa tiễn
những ngọn núi trơ vơ kia.
Khi
thì một mình len lỏi qua con trăng mờ trong cảnh mông lung.
Khi thì ngậm ngùi vượt qua dòng sông chảy xiết giữa nước
xanh mênh mang.
Càng
về phía tây nam, phong cảnh càng thay đổi dần.
Ở
đó, hai bên đường có những hàng tre thẳng tắp và những
con nước dật dờ.
3.
Đá
mòn phơi nẻo tà dương
Nằm
nghe nước lũ khóc chừng Cuộc Chơi
Nghìn
năm vang một nỗi đời
Gió
đưa cuộc Lữ lên lời Viễn phương
Đan
sa rã mộng Phi thường
Đào
tiên trụi lá bên đường Từ Sinh
Đồng
hoang Mục tử Chung tình
Đăm
chiêu dư ảnh nóc đình Hạc khô
Tâm
tình Hoài vọng của Lữ khách y nhiên là tâm nguyện chí thành
được khơi dậy từ những bước đường ngược gió. Con
đường của Lịch sử, của dòng sông trôi xuôi, và trôi ào
ạt như nước lũ, cuốn trôi tất cả những giấc mộng bình
sinh. Đó là lịch sử của tử sinh trường mộng. Trong cõi
mộng đó, trên bước đường ngược gió của Lữ khách đó,
nắng hiu hắt trổi màu trầm tư tịch mặc giữa những tàn
lụi, hoang phế, và băng hoại; là sự chung cục của tất
cả trong sự hủy diệt nồng nàn. Hơi thở mòn mỏi tiêu pha;
Người đã lãng phí trọn vẹn tinh thể của Người, để
cho Thiên nhiên bày tỏ ân tình trơ trọi, như viên sỏi bên
đường lây lất với nắng và với gió. Nắng lên cùng với
dấu hiệu của hao mòn và sụp đổ. Gió lên cùng với những
ước nguyện thiên thu phảng phất ra ngoài khung trời Hoằng
viễn và Tịch nhiên. Mộng Phi thuờng được ký thác trong
đan sa, trong dấu hiệu của trường sinh bất tử; nhưng đường
Sinh tử đi trong cõi Hoằng viễn Tịch nhiên, ấy thế mà không
bao giờ dừng bước cho Lữ khách một lần ngụ cư ở đó.
Sống và chết vẫn như một nỗi đời hư huyễn, vẫn rầm
rộ như một cuộc chơi. Giữa khoảng đồng rộng, đồng trống,
đồng không mông quạnh, Mục tử đăm chiêu tư lự những
chuyện đường đời và Lịch sử qua bóng dáng con Hạc gầy;
rồi tự hỏi: đâu là cõi Mộng Thiên Thu?
*
*
*
Năm
đó, tân sửu (1061), ông 26 tuổi, làm kiểm phán tại phủ
Phượng tường. Trong bài ký viết cho "Phượng tường bát
quan thi", những bài thơ về tám chỗ Ông đến thăm viếng
tại phủ Phượng tường, Ông, viết: "Phượng tường nằm
nơi chỗ giao tiếp của đất Tần và Yhục; các bậc
sĩ đại phu, sớm chiều thường qua lại đó". Và đoạn trước
của bài ký, Ông viết: "Đấy là buồn cho đời, cảm khái
cho tục, và tự thương mình đã không thấy được người
xưa mà lại muốn một lần xem thấy những di tích của họ."
Cái ý đó, được thấy hiện rõ nơi bài thơ dưới đây:
LÂU
QUÁN
Môn
tiền cổ kiệt ngọa tà dương
Duyệt
thế như lưu sự khả thương
Trường
hữu u nhân bi Tấn Huệ[1]
Cưỡng
tu di miếu học Tần Hoàng[2]
Đan
sa [3]cửu diếu tỉnh thủy xích
Bạch
truật thùy triêu trù táo hương
Văn
đạo thần tiên diệc tương quá
Chỉ
nghi điền tẩu thị Canh Tang[4]
摟 觀
門
前 古 碣 臥 斜 陽
閲
世如流事可傷
長有幽人悲晉惠
強修遺廟學秦皇
丹砂久窖井水赤
白朮
誰 燒 廚 灶香
聞道神仙亦相過
只疑田叟是庚
桑
Lâu
quán, gác của đạo sĩ, tại phủ Phượng tường. Ông tự
viết lời dẫn: "Tần Thủy Hàng lập miếu Lão tử phía nam
của quán. Tấn Huệ đế mới sửa lại quán này"
Ngọa
tà dương; "Môn tiền cổ kiệt ngọa tà dương", trước cửa
quán, hòn đá chởm nằm trơ trong nắng chiều. Có thể cùng
bắt gặp một cảm hứng như vậy trong một bài từ của Ông,
làm theo điệu từ "Hoán khê sa" (Toàn mạt hồng trang khán
sứ quân), câu kết như vầy:
Đạo
phùng túy tẩu ngọa tà dương
Giữa
đường, người ta gặp ông cụ say năm trơ giữa nắng chiều.
Có lẽ đó là cảnh khi ông bị đày ra ở Hải Nam. Lúc đó
đã già lắm rồi. Một già, một trẻ, cùng một quãng đời
chìm nổi, cách xa nhau, mà vẫn cùng một tiết điệu, một
cảm hứng, một phong vận tài hoa kỳ lạ, giữa những mòn
mỏi tiêu dao của tuế nguyệt:
Đá
mòn phơi nẻo tà dương.
Nằm
nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
Trước
cửa quán, hòn đá chởm nằm trơ trong nắng chiều.
Ngắm
sự đời, như nước chảy, trôi đi và đi mất, thấy mà đau.
Cho
đến nay vẫn còn có người không thiết sự đời -- tức
Ông -- ngậm ngùi cho Tấn Huệ đế -- mộng trường sinh hóa
thành bất đắc kỳ tử. Cũng có người vẫn còn bắt chước
Tần Thủy Hoàng, gượng sửa lại cái miếu hoang.
Đan
sa ngày đó luyện thuật trường sinh, nay không dùng nữa, chìm
dưới giếng, làm đỏ cả nước giếng.
Bạch
truật ngày đó, nay thấy có người lấy làm nhang đốt trong
bếp.
Nghe
đâu thần tiên cũng thường có giao thiệp với người đời.
Vậy có lẽ cụ già cày ruộng kia chắc là lão tiên Canh
Tang Sở.
4.
VI
TUYẾT HOÀI TỬ DO
(I)
Kỳ
dương [5]cửu nguyệt thiên vi tuyết
Dĩ
tác tiêu điều tuế mộ tâm
Đoản
nhật tống hàn châm xử cấp
Lãnh
quan vô sự ốc lô thâm[6]
Sầu
trường biệt hậu năng tiêu tửu
Bạch
phát thu lai dĩ thượng trâm
Cận
mãi điêu cừu[7] kham xuất tái
Hốt
tứ thặng truyền vấn tây sâm
(2)
Giang
thượng đồng [8]chu thi mãn hiệp
Trịnh
tây phân mã [9]thế thùy ưng
Vị
thành báo quốc tàm thơ kiếm
Khởi
bất hoài qui úy hữu bằng
Quan
xá độ thu kinh tuế vãn
Tự
lậu kiến tuyết dữ thùy đăng
Diêu
tri độc Dịch đông song[10] hạ
Xa
mã xao môn định bất ưng
微雪怀子由
(1)
岐阳九月天微雪,
已作萧条岁暮心。
短日送寒砧杵急,
冷官无事屋庐深。
愁肠别后能消酒,
白发秋来已上簪。
近买貂裘堪出塞,
忽思乘传问西琛。
(2)
江上同舟诗满箧,
郑西分马涕垂膺。
未成报国惭书剑,
岂不怀归畏友朋。
官舍度秋惊岁晚,
寺楼见雪与谁登。
遥知读《易》东窗下,
车马敲门定不应。
Bây
giờ là năm nhâm dần (1060), Ông 27 tuổi, làm một chức quan
nhỏ tại phủ Phượng Tường. Chức quan Ông nhỏ, mà tài
Ông cao, chí Ông lớn. Cho nên, người đời nói, trong hai bài
thơ này, tình tự Ông ẩn hiện những uẩn khúc, cũng khá
kỳ lạ. Đó là tâm sự của tuổi già với cái tuổi 27, thấy
trong bài 1, các câu: từ 2-5; nhưng vẫn là phong vận trẻ trung,
thấy được nơi bài 1 trong câu 6. Bài 2 mới thật sự tỏ
rõ cái cao ngao và thị tài của tuổi trẻ.
Tháng
11 năm trước, Ông chia tay Tử Do ở Trịnh Châu (thuộc tỉnh
Hà Nam) để đi Phượng Tường; lúc chia tai ngoài cửa Tây,
ngồi trên ngựa, Ông làm thơ gởi lại Tử Do, với 4 câu cuối:
Hàn
đặng tương đối ký trù tích
Dạ
vũ hà thời thinh tiêu sắt
Quân
tri thử ý bất khả vong
Thận
vật khổ ái cao quan chức.
Đại
khái, hai anh em cùng đang ngồi dưới ngọn đèn mờ nhạt mà
tính nhẩm, biết bao giờ cùng ngồi nghe mưa đêm tiêu sắt?
và Ông dặn em đừng bao giờ quen ý đó, nên đừng bươn bả
đuổi theo chức quan cao.
Tháng
9, tại huyện Kỳ Dương, trời đổ tuyết nhẹ;
Cũng
đủ làm cho tâm tình trong cảnh năm già trở nên vẻ xơ xác.
Ngày
vắng, tiếng chày xua đuổi cái lạnh nghe như vội vã.
Viên
quan nhỏ, không việc gì, ngồi trong nhà tranh hun hút
Gan
ruột sầu héo có thể làm tiêu tan được rượu,
Tóc
trắng, mùa thu tới, đã thấy như cài trâm.
Vừa
mới bán chiếc áo lạnh lông điêu, nên không dám đi chơi
xa.
Bỗng
nghĩ đến việc ruỗi xe đi tìm cái lạnh.
Năm
xưa, hai anh em cùng dong thuyền, xách theo những túi thơ đầy
Năm
ngoái, chia tay nhau rẽ ngựa ngoài cửa tây Trịnh Châu, nước
mắt ướt đẫm ngực.
Chưa
làm nên sự nghiệp với đời nên thẹn cùng sách và kiếm.
Há
không mong trở về; nhưng về lúc này hẳn là ngại với bạn
bè.
Nhà
quan qua mùa thu, kinh sợ cho năm đã quá xế
Trên
nóc chùa đã đầy tuyết, nhưng không biết rủ ai cùng lên
đó.
Tưởng
chừng em hẳn ngồi đọc kinh Dịch bên cửa sổ mái tây.
Lúc
đó, dù xe ngựa có đến gõ cửa, hẳn là không đáp lại.
5.
Cuối
năm Nhâm Dần, bấy giờ Ông đang công tác tại Kỳ Dương;
lúc mọi người đang sửa soạn ngày tết, nhớ nhà, Ông làm
ba bài thơ gửi Tử Do: Quĩ tuế, Biệt tuế và Thủ tuế. Đây
trích một bài. Phong tuc ở đất Tây Thục, quê của ông, cuối
năm người ta tặng đồ ăn cho nhau gọi là “quĩ tuế”;
mang rượu và thức ăn tặng nhau thì gọi là “biệt tuế”;
kể từ đêm trừ tịch cho đến rạng ngày nguyên đán mà
không ngủ, gọi là “thủ tuế”, thức đêm để canh chừng
một năm cũ rắp qua và một năm mới sắp đến.
Thủ
pháp già dặn và lời thơ điềm đạm, tạo cho thành một
khí vị rất cổ kính. Cái đó không những phản ảnh một
nỗi nhớ, hoài vọng quê hương, mà còn phản ảnh cái ray
rứt kỳ lạ của ngày tháng trôi đi biền biệt. Cảnh đưa
đón cuối năm, coi cũng có vẻ tấp nập, nhưng không che dấu
nổi cái lạnh nhạt: nhà quan thì vắng bóng những người
bạn cũ, mà làng xóm thì nhộn nhịp chờ đón những ngày
mới sẽ đến. Tình dù có, cũng bằng không. mấy câu thơ
cuối trong bài “Quĩ tuế”
Quan
cư cố nhân thiểu
Lý
hạng giai tiết quá
Diệc
dục cử hương phong
Độc
xướng vô nhân họa
Nhà
quan người thưa bóng
Thôn
ấp rộn ngày vui
Quê
cũ tình dẫu đượm
Tình
riêng nói với ai
Năm
cũ sắp qua đi qua, như một con rắn đang chui vào lỗ, làm
sao bắt nó lại? Nắm lấy đuôi, cũng bằng vô dụng. ngày
tháng trôi đi như con rắn trườn đi; cái hoài vọng ở đó
quả khắc nghiệt và độc hại.
BIỆT
TUẾ
Cố
nhân thích thiên lý
Lâm
biệt phượng trì trì
Nhân
hành do khả phục
Tuế
hành na khả truy
Văn
tuế an sở chi
Viễn
tại thiên nhất nha
Dĩ
trục đông lưu thủy
Phó
hải qui vô thì
Đông
lân tửu sơ thục
Tây
xá trệ diệc phì
Thả
vị nhất nhật hoan
Ủy
thử cùng niên bi
Vật
sai cựu tuế biệt
Hành
dữ tân niên từ
Khứ
khứ vật hồi cố
Hoàn
quân lão dữ suy
别岁
故人适千里,
临别尚迟迟。
人行犹可复,
岁行那可追。
问岁安所之,
远在天一涯。
已逐东流水,
赴海归无时。
东邻酒初熟,
西舍彘亦肥。
且为一日欢,
慰此穷年悲。
勿嗟旧岁别,
行与新岁辞。
去去勿回顾,
还君老与衰。
Cố
nhân lên đường đi xa
Lúc
chia tay vẫn còn bịn rịn
Người
đi còn mong có ngày trở lại;
Năm
tháng ra đi, làm sao đuổi theo kịp?
Hỏi
thử, “năm” đi đâu?
Đi
xa đến một ven trời nào?
Hay
đã theo dòng nước chảy xuôi về đông,
Đổ
vào biển và không bao giờ trở lại?
Xóm
đông, rượu vừa chín;
Nhà
mé tây, lợn nái cũng vừa mập thêm ra
Hãy
cứ vui cho hết trọn một ngày
Để
bù lại trọn một năm đầy sầu héo.
Đừng
quên giã từ một năm cũ,
Và
hãy để cho năm cũ giã từ năm mới.
Bảo
nó hãy đi đi,
Đừng
có quay đầu lại.
Gởi
trả lại nó tuổi già và sức yếu kém.
6.
LÂU
QUÁN[11]
Điểu
thảo viên hô trú bế môn
Tịch
liêu thùy thức Cổ hoàng tôn[12]
Thanh
ngưu[13] cửu dĩ từ viên ách
Bạch
hạc lai thời phỏng tử tôn
Sơn
cận sóc phong xuy tích tuyết
Thiên
hàn lạc nhật đạm cô thôn
Đạo
nhân ưng quái du nhân chúng
Cấp
tận giai tiền tỉnh thủy hồn
摟
觀
鳥
噪 猿 呼 晝 閉 門 ,
寂
寥 誰 識 古 皇 尊 。
青
牛 久 已 辭 轅 軛 ,
白
鶴 時 來 訪 子 孫 。
山
近 朔 風 吹 積 雪 ,
天
寒 落 日 淡 孤 村 。
道
人 應 怪 遊 人 眾 ,
汲
盡 階 前 井 水 渾 。
Ông
tự dẫn: “Từ Thanh Bình trấn, chơi tại các nơi: Lâu quán,
Ngũ quận, Đại tần, Diên sinh, Tiên du. Vừa đi vừa về hết
4 ngày, làm được 11 bài thơ gửi xá đệ Tử Do”
Khí
vị của thơ là hoài cổ, phảng phất âm hưởng thời Đường;
đặc biệt là nơi hai câu 5-6.
Chim
gào vượn hú; ban ngày vẫn đóng cửa.
Đìu
hiu vắng vẻ, ai biết ngài Cổ hoàng tôn đi đâu?
Con
trâu xanh của ngài, từ lâu đã cởi bỏ cái ách, cái gọng;
Và
bây giờ, con hạc trắng bay đến hỏi thăm con cháu.
Núi
gần đó, gió bấc thổi tung những đống tuyết.
Trời
lạnh, mặt trời ngã bóng nhạt trên xóm vắng.
Có
lẽ đạo nhân lấy làm lạ, sao du khách đông thế!
Họ
uống sạch hết cả một giếng nước phía trước sân.
7.
THỌ
KINH ĐÀI[14]
Kiếm
vũ hữu thần thông thảo thánh[15]
Hải
sơn vô sự tác cầm công
Thử
đài nhất lãm Tần xuyên[16] tiểu
Bất
đãi truyền kinh ý dĩ không
授 經臺
剑舞有神通草聖,
海山無事化琴工
此台一览秦川小
不待傳
經 意已空
Những
ngọn cỏ với dáng dấp cao kỳ như Thánh, khi đong đưa, trông
như những ngọn thần kiếm đang vũ lộng.
Núi
và sông, nhàn rỗi vô sự, tự nhiên trở thành những tay thợ
đàn.
Chỉ
một lần nhìn thấy đài này rồi, cả một dãy Tần xuyên
thành ra nhỏ bé.
Không
phải đợi nghe được lời kinh, mà ý đã là không.
8.
THIỀN
THƯỢNG TIỂU THI
Oa
minh thanh thảo bạc
Thiền
tháo thùy dương phố
Ngô
hành diệc ngẫu nhiên
Cập
thử tân quá vũ
船
上小 詩
蛙
鳴 青 草 泊 ,
蟬
噪 垂 楊 浦 。
吾
行 亦 偶 然 ,
及
此 新 過 雨 。
Ếch
kêu bên thanh thảo
Ve
khóc bãi thùy dương
Ta
đi cùng ngẫu nhĩ
Đến
đó mưa qua đường.
[1]
TẤN HUỆ Tấn Huệ đế, làm vua từ 290 -300, bị đầu
độc mà chết. Sửa miếu lão Tử, là cốt ý muốn tìm học
phép trường sinh. Rồi trường sinh và bất đắc kỳ tử:
nghìn năm vẫn một nỗi đời
[2]
TẦN HOÀNG Tần Thủy Hoàng, mộ phép trường sinh của Đạo
gia. Nghe đồi ngoài khơi Đông hải có đảo Bồnt Lai của
tiên, có thuốc trường sinh; cho đóng thuyền và sai bọn An
Kỳ Sinh đi kiếm. Nhưng họ đi không về. Và cơ nghiệp đế
vương của Tần Thủy hoàng cũng không lâu.
[3]
ĐAN SA, BẠCH TRUẬT, các loại dược thảo làm thuốc luyện
thuật trường sinh của đạo sĩ.
[4]
CANH TANG. Canh Tang Sở, được nói đến trong thiên “Canh Tang
Sở”. Nam hoa kinh của Trang Tử; ông là đệ tử đắc đạo
của Lão Tử
[5]
KỲ DƯƠNG, tên huyện ở phía đông huyện Phượng Tường.
Ngày 20 tháng 9 năm Nhâm Dần, trời đổ tuyết nhẹ. Ông nhớ
Tử Do, làm thơ
[6]
ỐC LÔ THÂM, nhà tranh hun hút. Kỷ Hiểu Lam phê: ba chữ đó
(tuyền thần). Ở đây bóng dáng Ông ẩn hiện trong cái
không khí u trầm, phảng phất tâm trạng mùa thu tóc trắng.
trời lạnh, tiếng chày nghe như rộn rã, gấp rút, xua đuổi
cái lạnh đi xa.
[7]
ĐIÊU CỪU, Áo lạnh làm bằng lông con điêu. Tử điểu Thiều
Chữu: Điêu là một loài chuột to như con rái cá, đuôi
to lông rậm dài hơn một tấc, sắc vàng và đen, sinh ở xứ
rét, da nó làm áo mặc rất ấm, nên rất quí báu.
[8]
GIANG THƯỢNG ĐỒNG CHÂU… Nhắc lại những ngày hai anh em
cùng dong thuyền du lãm và làm thơ.
[9]
TRỊNH TÂY PHÂN MÃ: Năm trước, hai anh em rẽ ngựa chia tay
ngoài cửa tây thành Trịnh Châu.
[10]
ĐÔNG SONG ĐỘC DỊCH: ngồi đọc kinh Dịch ở cánh cửa sổ
dưới mái đông. Chỗ đó tỏ ý chờ đợi, và đọc Dịch
tỏ chí lớn. Ở đây chỉ việc đang hoài bão chí lớn (Quản
Ninh và Hoa Hâm cùng ngồi đọc sách. Xe ngựa đi ngang trước
cửa, Hoa Hâm bỏ sách chạy ra xem. Từ đó Quản Ninh xẻ chiếu,
dứt tình bạn vĩnh viễn)
[11]
Lâu quán, xem chú dẫn ở trên
[12]
Cổ hoàng tôn, chỉ Lão Tử (của Đạo gia). Ba chữ này làm
cho cả bài thơ có tiết điệu và phong vận tiêu sái riêng
của Ông.
[13]
Thanh ngưu , con trâu xanh. Tương truyền Lão Tử cưỡi con trâu
xanh ra quan ngoại, sau khi viết để lại bộ “Đạo đức
kinh” rồi đi mất.
[14]
THỌ KINH ĐÀI, đài trao kinh. Ông tự chú: “Đó là một ngọn
núi trong dãy Nam sơn chứ không phải là một cái đài được
dựng lên”
[15]
Thảo thánh, Thánh cỏ hay cỏ thánh; mô tả những ngọn cỏ
đong đưa theo gió một cách tuyệt diệu. Nhưng cũng chính
từ cái Thảo thánh này làm cho bài thơ trầm trọng ra.
[16]
Tần xuyên , một dãy đất Thiểm tây.