LÔ
SƠN CHÂN DIỆN MỤC
Ngược
xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai
đem quán trọ mà ngăn nẻo về
(T.S.)
1.
Lô
sơn là một danh thắng kỳ tuyệt. Núi non hùng vĩ, cảnh trí
u trầm, mây trắng và sương mù quanh năm bao phủ, từ bao nhiêu
đời, nơi đó ẩn tích những cao nhân đắc đạo. Tìm đến
đó, để nhìn thẳng vào chân diện mục của Lô sơn, là đã
quyết tâm đoạn tuyệt với những vương vấn, buông lơi và
thắt chặt, từ mấy vạn đời trước. Thấy chỗ đó, là
thấy Tâm Thiền. Nhưng Tâm Thiền thì tịch mặc không nói.
Một khi đưa lưỡi dao lên cắt đứt mớ tóc, đoạn tuyệt
hồng trần, thì cõi thơ sẽ mất một ngọn sao trời rọi
sáng, cho khách tục tử đang còn cặm cụi làm thơ. Nhà thơ
phát tâm đại nguyện thượng thừa vác lên vai vô số khổ
lụy đoạn trường. Đại nguyện đó sẽ làm sáng lên cái
chân lý Dị và Đồng. Dị biệt và Đồng nhất là những
con đường chia rẽ phân đôi; nhưng đạt tới công án hiểm
hóc của tử sinh, thì đã xóa tan chân lý Dị Đồng. Đó là
chỗ ta và người, tình và cảnh, đều trở thành tịch mặc
Không Không. Từ đó, nhà Thơ hẹn với nhà Thiền, mở ra cánh
cửa bắc, cất đầu nhìn lên 36 ngọn núi xanh kia.
Những
lời dài dòng lôi thôi trên đây quảng diễn từ những câu
thơ này của ông:
Vị
văn Lô nhạc đa chân ẩn
Cố
tựu cao nhân đoạn túc phan
Dĩ
hỉ thiền tâm vô biệt ngữ
Thương
hiềm thế phát hữu thi ban
Dị
đồng mạc vấn nghi Tam ngữ
Vật
ngã chung đương phó Bát hoàn
Đáo
hậu dữ quân khai bắc hộ.
Cử
đầu tam thập lục thanh sơn
為聞盧嶽多真隱
故
就 高人 斷 宿 攀
已喜禪無別語心
尚嫌沏髮有詩班
異同莫問疑三語
物我終當赴八還
到後與君開北戶
櫸頭三十六青山
(Nghe
nói trên Lô sơn có nhiều bậc chân ẩn. Vì vậy, tôi tìm
đến cao nhân để xin cắt đứt những vấn nhiều đời nhiều
kiếp. Tôi đã vui với cái lẽ rằng Tâm Thiền thì không có
ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng
còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi
thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ
nên nghi ngờ mà tra hỏi. Hãy quên đi những sự phân biệt
Ta và Người. Cuối cùng, tôi với anh mở cánh cửa bắc, ngẩng
đầu nhìn lên ba mươi sáu ngọn núi xanh.)
Nói
như vậy, bằng lời lẽ như vậy; người ta gọi là bộc bạch,
là thổ lộ tâm tình. Ở đây cứ tạm nói chắc là tình thơ
và tình đạo, một cuộc giao tình để xẻ chiếc chiếu làm
hai. Còn ẩn tình nào sau đó, nó đã ẩn thì vĩnh viễn là
nó ẩn, không thể cưỡng bức để kéo nó ra.
Chỉ
thẳng không quanh co, gãy gọn và khúc chiết, bài thơ có chương
pháp như một bản tường trình. Những người đang ruổi ngựa
chạy như bay, đang đi giữa phố chợ ồn ào, vừa nghe một
lần là hiểu; và có thể diễn lại tràng giang đại hải,
như một bài thuyết trình của một nhà thạc học đúc kết
mười năm trời nghiên cứu sách vở. Nhà thơ bất chợt đến
nghe, ôm bụng cười. Ông sẽ về Hàn lâm viện thảo chiếu
đề nghị và quyết định bổ nhiệm, rồi sau đó, trở lại
Lô sơn, đẩy cánh cửa bắc, nhìn ra 36 ngọn thanh sơn. Nhưng
khi trở lại Hàn lâm viện, ông sẽ chứng kiến một cảnh
tượng hãi hùng: tên người được bổ nhiệm là Ông. Thì
người bộc bạch là nhà thơ, người đi quảng diễn là nhà
thơ; nhà thơ và nhà thơ, bóng dáng nhà thơ trùng trùng điệp
điệp, ẩn hiện giữa mây trắng và sương mù như đỉnh núi
Lô sơn. Vậy, đâu là chân diện mục của Lô sơn?
Cái
đó có thể là đề tài cho Trang Tử và Huệ Thi bàn cãi về
lẽ Đồng và Dị: "anh và con cá lội dưới ao là Đồng hay
Dị?" Họ bàn cãi nhau, từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Ông lại đứng ra làm trọng tài; làm một đại quan của triều
đình chứ không là một nhà thơ, vì lời lẽ khúc chiết:
Mạc
tương đồng dị giảo tri thù
.
. . . . . . . .
Nhược
tín vạn thù qui nhất bản
Ngã
kim tri nhữ nhữ tri ngư
Ông
bảo họ đừng cãi nhau, chớ so đo về lẽ Dị Đồng nữa.
Vạn thù qui nhất bản, muôn vàn sai biệt cùng quy về một
gốc, cho nên, ông này biết ông kia, ông kia biết cá. Nếu
Huệ Thi mà có thể hiểu được Trang Tử, thì Trang Tử cũng
có thể hiểu được rằng đàn cá đang lội nhởn nhơ kia
là đang vui đấy.
Nhưng
kỳ cùng, ai dám bảo đó không là thơ? Đó cũng là một công
án hiểm hóc (của thiền sư Vô Trước trên Ngũ đài sơn):
Tiền tam tam hậu diệc tam tam, trước ba ba sau cũng ba ba, là
gì?
Nói
trắng ra, người ta muốn hỏi, chỗ sơn cùng lộ tuyệt nơi
thơ của Ông là gì? Hay nói gọn lại, thơ Đông Pha nói gì
trong đó? Ông nói những tình cố quận, sầu tha hương, những
mùa thu tóc trắng, những thanh xuân và mộng tưởng; Ông nói
những thứ vân vân đó ư? Thì quả nhiên, thơ Ông chỉ nói
vân vân như vậy. Nhưng khi nghe ra những khổ lụy kỳ cùng
trong đó, người ta tự hỏi, đồng vọng của một phương
trời đọa đày viễn mộng nào đây? Đọa đày tức viễn
mộng; viễn mộng tức đọa đày. Cái đó nó phơi trần lộ
liễu, nên một người thô lỗ vội vàng cũng có thể nhận
ra. Sau lớp mây trắng và sương mù, là Lô sơn, ai lại không
biết. Đã biết là như vậy; còn chân diện mục của Lô sơn
thì sao?
2.
Trong
những ngày tháng bị đày ải ở Hoàng châu; ngày thiếu cơm,
chiều thiếu gạo; (ông làm ruộng), trời nắng ruộng khô,
lúa mọc không nổi; (ông kêu trời), trời mưa thì xối xả,
nhà dột như mảng bè trôi. Ông làm một bài thơ dài gởi
cho bạn. Mấy câu đầu như sau:
Đông
Pha tiên sinh vô nhất tiền
Thập
niên gia hỏa thiêu phàm duyên
Hoàng
kim khả thành hà khả tắc
Chỉ
hữu sương bính vô do huyền
Long
Khâu cư sĩ diệc khả liên
Đàm
Không thuyết Hữu dạ bất miên
Hốt
văn sư tử Hà đông hống
Trụ
trượng lạc thủ tâm mang nhiên
. .
. . .
東坡先生無一錢
十年家火燒凡緣
黃金可成河可塞
龍丘居士亦可憐
談空說有夜不眠
忽聞
獅子河東吼
拄杖落手心忙然
Đông
Pha tiên sinh không một tiền
Mười
năm đèn lửa xin hai bên.
Hoàng
kim làm được, sông lấp được;
Chỉ
có tóc sương không chịu đen.
Long
Khâu cư sĩ cũng vô duyên.
Bàn
Không bàn Hữu thức suốt đêm.
Bỗng
nghe sư tử Hà đông rống;
Hốt
hoảng tâm thần rơi gậy thiền.
Bài
thơ làm gởi tặng Trần Quí Thường. Có lẽ trong số những
người bạn, Thường là người được ông mến chuộng và
kính phục nhất, về cốt cách cũng như về đời sống.
Trần
Tháo tự Quí Thường, hiệu Long Khâu cư sĩ; cũng được gọi
là Phương Sơn Tử. Đọc bản tiểu sử của Quí Thường do
ông viết cũng có thể thấy sự mến phục của ông như thế
nào. Bản tiểu sử được viết:
"Phương
Sơn Tử, người ẩn cư trong khoảng Quang Hoàng. Thiếu thời,
hâm mộ Chu Gia và Quách Giải. Bọn hào hiệp trong làng xóm
đều qui phụ theo. Hơi lớn, biết chiều lụy người, và đọc
sách; muốn lấy việc đó mà chen chân với đời. Nhưng rồi
không gặp thời. Đến tuổi xế, về ẩn lánh trong khoảng
Quang Hoàng, nơi chỗ gọi là Kỳ đình. Ở nhà tranh, ăn rau
trái, không giao thiệp với người đời. Bỏ xe ngựa, vứt
áo mão, đi bộ. (.....)
"Tôi
bị biếm trích ở Hoàng châu, qua Kỳ đình, thì thấy. Mới
kêu: ‘Hỡi ôi! Đó là cố nhân của tôi, Trần Tháo Quí Thường
đó. Sao lại ở đây?’ Phương Sơn Tử cũng kinh ngạc, hỏi
tôi tại sao đến đây. Tôi nói duyên cớ. Ông cúi đầu không
đáp; rồi ngửa lên trời mà cười. Gọi tôi ngủ lại nhà.
Tường vách xơ xác, nhưng vợ con trông chừng có vẻ thỏa
ý. Tôi giật mình lấy làm kinh ngạc.
"Tự
nghĩ, Phương Sơn Tử khi thiếu thời, ưa rượu và thích kiếm,
xài tiền như đất cát (....)
"Tôi
nghe nói trong khoảng Quang Hoàng có nhiều dị nhân, thường
thường giả bộ ngây dại, dơ bẩn, khó gặp được. Phương
Sơn Tử cũng trong hạng đó ư?"
Trong
cái được mến phục đã ẩn hiện một phần cốt cách và
cuộc đời của mình. Phần đó nằm ngoài ven trời viễn mộng.
Đông
Pha tiên sinh và Long Khâu cư sĩ, mỗi người ở mỗi ven trời,
cùng nhìn nhau qua một cõi mộng, và cũng mang những khổ lụy
hình hài như nhau. Khổ lụy của hình hài, mà lại khôi hài.
Đông Pha tiên sinh có tài làm ra vàng, có thể lấp được
sông, nhưng không thể làm cho tóc của mình đừng bạc trắng.
Long Khâu cư sĩ say sưa đạo lý thượng thừa, nhưng không
giữ nổi cây gậy của đạo đó trong tay, khi nghe tiếng sư
tử Hà Đông rống:
Hốt
văn sư tử Hà Đông hống
Trụ
trượng lạc thủ tâm mang nhiên
Tâm
mang nhiên, tâm sững sờ ngơ ngác, là lúc sắp tỏ ngộ, sắp
hoát nhiên đại ngộ. Thế thì, là chuyện đùa hay chuyện
thật, mà chân tướng của nó, của cõi mộng đó, ra sao? Chân
diện mục của Lô Sơn không dễ gì khám phá.
Bất
thức Lô sơn chân diện mục
Chỉ
duyên thân tại thử sơn trung
(Không
biết được chân diện mục của Lô sơn, tại vì mình đang
ở trong đó, hay tại vì mình không ở trong đó?)
3.
Từ
thượng cổ, Lô sơn đã quyến rũ những người tiêu dao thế
ngoại. Tương truyền, trong buổi giao thời giữa nhà Thương
và nhà Chu, trên một nghìn năm trước Tây lịch, có người
tên Khuông Tục, trốn đời, hay lánh đời, đến ẩn dưới
núi, lập nhà tranh (lô) ở đó, và sau đắc đạo tiên. Vì
vậy, núi được gọi là Lô sơn, hoặc Khuông sơn.
Đời
Tam quốc, có đạo gia Đổng Phụng chân nhân đến tu tiên
và luyện đan tại đây. Bấy giờ Thái thú Giao chỉ là Sĩ
Nhiếp mất đã ba ngày; tiên ông cho một hoàn thuốc, cạy
răng đổ vào miệng, đổ nước vào, rồi nâng đầu lên cho
thuốc chạy xuống cổ. Trong khoảng bữa cơm, nhan sắc tươi
lại như thường. Một nửa ngày, đứng dậy, đi lại được.
Bốn ngày sau, nói năng như bình thường. Đến đời Đường,
có Từ Tri Chương làm bài ký cho miếu thờ của Chân nhân.
Đến thời Đông Pha, người ta vẫn còn đọc được bài ký
đó.
Thời
Đông Tấn, tăng Tuệ Viễn cất am tu ở đó, nơi sườn núi
bắc; phía dưới có khe Hổ khê, nơi Tuệ Viễn dừng chân
mỗi khi tiễn khách; và trọn đời thề không bước qua khe
đó. Sư cùng mười tám người bạn cùng ẩn cư tại chùa
Đông lâm, đời sau kính trọng, gọi họ là "Đông lâm thập
bát hiền".
Trải
qua nhiều đời, Lô sơn càng quyến rũ, từ đạo gia, tăng
lữ, công khanh, văn sĩ, thi sĩ, vân vân. Từ Tấn cho đến
Đường, Tống, đã có rất nhiều bài thơ lưu đề rất nổi
tiếng, từ Tạ Linh Vận, Bảo Chiêu cho đến Mạnh Hạo Nhiên,
Lý Bạch, Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, vân vân….
Ơ
đây, xin trích một ít bài để thưởng thức cảnh trí Lô
sơn.
Thơ
của Mạnh Hạo Nhiên, buổi chiều thuyền đổ bến Tầm dương,
vọng về Lô sơn:
Quải
tịch kỷ thiên lý
Danh
sơn đô vị phùng
Bạc
châu Tầm dương quách
Thủy
kiến Hương lô phong
Thường
độc Viễn Công truyện
Vĩnh
hoài trần ngoại tung
Đông
lâm tinh xá cận
Nhật
mộ đản văn chung
挂席幾千里
名山都未逢
泊舟尋暘郭
始見香盧夆
嘗讀遠公傳
永懷塵外蹤
東林精舍近
日暮但聞鐘
Lang
thang mấy vạn dặm;
Lô
sơn vẫn tít mù.
Bến
Tầm dương thuyền đỗ,
Chợt
thấy đỉnh Hương lô.
Từng
đọc truyện Tuệ Viễn;
Hoài
mộ gót phiêu du.
Chùa
Đông lâm gần đó;
Sớm
tối nghe chuông đưa.
Từ
bến Tầm dương, nhìn lên thấy một ngọn trong dãy Lô sơn,
mây vần vũ như khói bốc từ lò hương, ngọn núi đó gọi
là Hương lô phong.
Lý
Bạch có đến sáu bài thơ về Lô sơn. Bài được truyền
tụng rất nhiều là "Lô sơn dao", bài ca từ Lô sơn: "Ta vốn
là người cuồng nước Sở, cuồng ca cười Không Khâu. Tay
cầm gậy lục ngọc, sớm từ Hoàng hạc lâu… đi tìm khắp
các núi non, vân vân…" Bài thơ đó dài quá, không tiện trích
ra ở đây.
Dãy
Lô sơn núi non trùng trùng, mây bay điệp điệp. Sông hồ in
bóng Lô sơn như từng chấm nốt ruồi xanh xanh trên mặt nước
trong xanh kiều diễm. Những thác nước từ chóp đỉnh cao
tuyệt mù đổ xuống, như giải Ngân hà treo chênh vênh bên
cầu Tam thạch. Từ giã sư tăng chùa Đông lâm, Lý Bạch lưu
đề bài thơ:
Đông
lâm tống khách xứ
Nguyệt
xuất bạch viên đề
Tiếu
biệt Lô sơn Viễn
Hà
phiền quá Hổ khê
東林送客處
月出白猿啼
笑別
盧山遠
何煩過虎溪
Đường
Đông lâm tiễn khách
Vượn
trắng gọi trăng ngàn
Chào
Lô sơn ở lại
Khe
Cọp cách hồng trần
Lô
sơn ba mặt là nước, một mặt đất liền. Trước mặt, phía
nam, là sông Trường giang đổ vào khúc Cửu giang. Phía tây
là bến Tầm dương, phía đông là bến Bành lãi. Núi có bảy
ngọn lớn chập chùng, chân núi chiếm một khoảng rộng chừng
năm trăm dặm. Cảnh trí hùng vĩ được ông ghi lại trong hai
bài thơ, vịnh hai nơi: đình Thấu ngọc chùa Khai tiên và cầu
Tam giáp chùa Thê hiền. Đại khái như sau:
Đình
Thấu ngọc, nói theo nghĩa đen của nó là đình "đánh răng".
Thác nước từ đỉnh cao chót vót đổ xuống, mà Lý Bạch
nói là trông giống như giải Ngân hà đổ xuống; thác đổ
đến phía đông chùa Khai tiên, chảy thành dòng suối; hai bên
đá nhấp nhô như những hàng răng ngọc, có lẽ vì thế mà
gọi là Thấu ngọc đình:
Cao
nham hạ xích nhật
Thâm
cốc lai bi phong
Phách
khai thanh ngọc giáp
Phi
xuất lưỡng thanh long
Loạn
mạt tán như sương
Tuyệt
đàm dao thanh không
Dư
lưu hoạt vô thanh
Khoái
tả song thạch hồng
vân
vân…
高嵒下赤日
深谷來悲風
擘開青玉峽
飛出兩白龍
亂沫散如霜
餘流滑無聲
快瀉雙石洪
Sườn
cao tuôn nắng đỏ
Hang
sâu động gió rầu
Chẻ
đôi mõm thanh ngọc
Hai
rồng bạc đổ ào
Bọt
nước bay sương trắng
Đầm
tuyết rung trời cao
Dòng
suối tuôn lặng lẽ
Chảy
xiết qua hang sâu
….
Rồi
đến cầu Tam giáp, phía đông chùa Thê hiền. Những tảng
đá qua hàng vạn năm thi đua kêu gào với những dòng nước
vỗ ầm như sấm sét. Cầu bắc ngang qua một khe nước sâu
hun hút không thấy đáy. Sóng cuốn những con cá trôi nổi
bập bềnh; tiếng sóng kinh hoàng cho đến vượn khỉ leo lên
cây cũng rụng rời rớt xuống đất. Hơi lạnh thấm vào sương
tủy của núi. Cỏ và cây cứng, và gầy. Giữa lớp mây mù
kéo qua các hốc trống, khua lên những âm thanh như tiếng nhạc
tấu lên từ những tiếng kim tiếng thạch. Chiếc cầu uốn
cong treo lơ lửng trên suối như mảnh trăng vòng cung…
Núi
non bên trong rầm rộ với những tiếng reo hò, gào thét như
thác nước, của gió ào ạt và mây vần vũ. Nhưng ở ngoài
xa, chỉ thấy chập chùng một dãy núi, ẩn hiện mơ hồ giữa
đám mây trắng và sương mù. Thế thì, đâu là chân diện
mục của Lô sơn?
4.
Trong
thời kỳ bị biếm trích ở Hoàng châu, ông mới có dịp lên
dạo Lô sơn. Ông nói, khi mới đến Lô sơn, thấy cảnh núi
non thanh kỳ tú lệ, quả là điều mơ ước được thấy từ
trước. Tăng và tục trong núi thấy ông, ai cũng nói: "Tô Tử
Chiêm đến rồi đó".
Ông
tự cho là mình có duyên rất đậm đà với Lô sơn. Trước
ngày ông đến, ngài viện chủ Viên thông thiền viện đã
được báo mộng; cho đến chiều hôm sau thì ông lên. Sư nói:
"Hôm qua nằm mộng thấy bửu cái bay xuống, chỗ đó liền
có lửa cháy sáng lên. Há không là điềm báo tốt đẹp cho
ngày hôm nay sao? " Ông cảm động, làm tặng ngài viện chủ
một bài thơ thất luật, có hai câu 5 và 6 như sau:
Tụ
lý bửu thơ do vị xuất
Mộng
trung phi cái dĩ tiên truyền 袖裡蓍寶由未出
夢中飛蓋已先傳
Bửu
thơ trong tay áo chưa lôi ra, mà bửu cái từ trời đã bay xuống
báo mộng trước.
Ông
ghé lại đề thơ nơi sơn phòng của Lý Thường, tại Bạch
thạch tăng xá. Lý Thường, tự Công Trạch, vốn là bạn của
ông. Thường trước khi ra làm quan, đọc sách tại đây. sách
vở chất chứa hàng vạn quyển. Sau khi Thường ra làm quan,
chỗ đó được dọn thành thư viện, lấy tên là "Lý thị
sơn phòng". Ông có viết bài ký cho sơn phòng này. Ông lưu
đề tại đây một bài thơ tứ tuyệt:
Ngẫu
tầm lưu thủy thượng thôi ngôi
Ngũ
lão thương nhan nhất tiếu khai
Nhược
kiến Trích tiên phiền ký ngữ
Khuông
sơn đầu bạch tảo qui lai
偶尋流水上崔嵬
五老蒼顏一笑開
若見謫仙煩記語
匡山頭白早歸來
Ông
nói, ngẫu hứng lần theo dòng suối mà lên đến chỗ cao chót
vót đó. Ngọn Ngũ lão, như năm ông lão da mồi, cùng nở nụ
cười chào đón. Nếu có gặp Trích tiên Lý Bạch, nhớ nhắn
hộ là bao giờ đầu tóc bạc trắng hãy trở về Khuông sơn,
tức Lô sơn. Ông nhắc đến Lý Bạch, có lẽ gợi hứng từ
bài thơ "Trông về ngọn Ngũ lão trên Lô sơn" của Lý Bạch
với lời hẹn trong hai câu thơ:
Cửu
giang tú sắc khả lãm kết
Ngô
tương thử địa tỏa vân tùng
九江秀色可攬結
吾將此地鎖篔松
Lô
sơn với dòng Cửu giang thanh kỳ tú lệ, sẽ chọn nơi này
để khóa cửa tùng cao vút tận mây.
Đến
chùa Đông lâm, ông đề một bài tứ tuyệt lên vách, và kể
từ đó, Lô sơn trở thành một ẩn ngữ kỳ lạ cho thi ca:
Hoành
khan thành lãnh trắc thành phong
Viễn
cận cao đê các bất đồng
Bất
thức Lô sơn chân diện mục
Chỉ
duyên thân tại thử sơn trung
橫看成嶺惻成峰
遠近膏低各不同
不識盧山真面目
只緣身在此山中
Lô
sơn, được nhìn ngang, nó như một dải núi dài; nhìn nghiêng,
lại thấy nó là một ngọn núi cao. Nhìn thấy gần, hay xa,
thấy núi cao hay núi thấp. Lô sơn ẩn hiện thiên hình vạn
trạng. Vậy thì, chân diện mục của Lô sơn làm sao mà biết
cho nổi? Cứ vào trong núi thì biết.
Một
bài thơ khác, được truyền tụng thịnh hành trong giới Thiền
tông, nói là của ông. Nhưng không rõ ông làm lúc nào. Trong
các tập thi văn của ông, không thấy có. Bài thơ nói khá
tinh tế về đạo Thiền, cũng khó biết rõ chân diện mục
như Lô sơn.
Lô
sơn yên tỏa Triết giang triều
Vị
đáo sinh bình hận bất tiêu
Đáo
đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô
sơn yên tỏa Triết giang triều
盧山湮鎖浙江潮
未到生平
恨不逍
到得還來無別事
盧山湮鎖浙江潮
Bài
dịch thơ bằng tiếng Việt hay nhất (không nhớ dịch giả):
Mù
tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
Khi
chưa đến đó hận muôn vàn.
Đến
rồi về lại không gì lạ.
Mù
tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
Sách
Tục Truyền đăng lục chép:
"Dòng
thiền Huệ Năng, đời thứ 14, pháp tự của Đông Lâm Chiếu
Giác Thường Tổng thiền sư: Nội hàn Tô Thức cư sĩ.
"Nội
hàn, Đông Pha cư sĩ, Tô Thức, tự Tử Chiêm. Nhân ngủ đêm
tại chùa Đông lâm (trên Lô sơn), cùng với Chiếu Giác luận
về đề tài "vô tình", rồi tỉnh ngộ. Sáng ra, làm bài kệ
trình sư:
Khe
thanh tiện thị quảng trường thiệt
Sơn
sắc khởi phi thanh tịnh thân
Dạ
lai bát vạn tứ thiên kệ
Tha
nhật như hà cử tợ nhân
溪聲便是廣長舌
山色豈非清淨身
夜來八萬四千偈
他日如何舉似人
Suối
reo vẫn Pháp âm bất tuyệt
Màu
non kia Chân thể Như lai
Đêm
đó tám vạn bốn nghìn kệ
Ngày
sau nói lại làm sao đây?
"Ít
lâu sau, đến Kinh nam. Nghe đồn thiền sư Ngọc Tuyền Thừa
Hạo, biện luận sắc bén đụng không nổi. Ông mới thay đổi
y phục, trá hình tìm đến xin ra mắt. Hạo hỏi:
" -
Tánh danh của tôn quan?
"Ông
đáp:
" -
Tôi tên Cân; tức là Cân hết thảy các cái Cân trưởng lão
trong thiên hạ.
"Hạo
hét lên một tiếng, rồi hỏi:
" -
Nặng bao nhiêu?
"Ông
không đáp được. Rồi từ đó khâm phục.
Về
sau, qua Kim sơn; ở đó có bức chân dung của ông. Ông đề
giỡn vào đó:
Tâm
tợ dĩ hôi chi mộc
Thân
như bất hệ chi châu
Vấn
nhữ bình sinh hà nghiệp
Hoàng
châu Quỳnh châu Huệ châu
心似已灰之木
身如不繫之舟
問汝平生何業
黃州惠州瓊州
Tâm
như thanh củi tro tàn
Thân
như thuyền lỏng theo ngàn nước trôi
Hỏi
ông công nghiệp một đời
Hoàng
châu, Quỳnh, Huệ, những ngày những năm.
…"
Hoàng
châu, Quỳnh châu, Huệ châu, vân vân châu; những đoạn đường
đày ải; những ngày tháng đoạn trường. Cuộc đời ông
như một con thuyền buông lỏng, thả trôi cho nước cuốn.
Nhưng cuộc thơ của ông thì sao: khổ lụy? Phiêu bồng? Đọa
đày? Viễn mộng? Đâu là chân tướng, chân thể, chân tâm?
Chân diện mục của Lô sơn, không phải là dễ thấy.
Ông
bị biếm trích ở Hoàng châu, rồi sau qua Thường châu; 51
tuổi, được ân xá, chiếu hồi về triều. Cuộc đời ông
bây giờ sẽ bắt đầu một đoạn đường danh vọng gần
mức tột cùng. Sau năm năm trường đày ải, trên đường
trở về triều, ngang qua Tiền đường, ông gặp Dương Kiệt.
Dương Kiệt, tự Thứ Công, hiệu Vô Vi cư sĩ, bấy giờ đang
làm quan ở bộ Lễ, Kiệt vâng mạng triều đình hộ tống
vương tử Triều tiên, đạo hiệu Nghĩa Thiên tăng thống,
đi du lãm các danh thắng vùng đất Giang nam. Ông làm bài tiễn
Dương Kiệt và tự viết lời dẫn cho bài thơ:
"Vô
Vi cư sĩ đã có lần phụng sứ lên Thái sơn tuyệt đỉnh,
được thấy mặt trời lúc gà bắt gáy nửa đêm. Lại đã
có lần hữu sự ngang qua Hoa sơn, ngày trùng cửu (ngày lễ
hoa cúc, mồng 9-9), uống rượu trên ngọn Liên hoa phong. Nay
ông lại phụng chiếu cùng Tăng thống Cao ly sang chơi Tiền
đường. Tất cả đều là do vương sự mà lại được cái
vui thế ngoại. Quả là kỳ diệu, chưa từng có."
Lời
dẫn hé cho thấy một góc trời trong cõi thi ca của ông; một
góc cạnh nào đó của Lô sơn chân diện mục. Cuộc chơi trong
cõi mộng của thi ca còn có phong độ phiêu bồng của những
cuộc giao tình phương ngoại; cuộc giao tình với ngoài kia
những phương trời diệu vợi. Lô sơn hùng vĩ, phiêu bồng,
nhưng u ẩn. Lòng núi dấu kín những tâm sự nghìn năm không
nói; lòng núi ủ kín những cuộc đời trầm mặc; những thân
thể khô gầy như hạc như trúc, những tâm hồn nguội lạnh
như tro tàn mùa đông. Núi âm thầm, cho gió ngàn gào thét,
cho mây trời vần vũ, và những dòng thác từ trên tuyệt đỉnh
cao mù đổ ào xuống. Lô sơn đồng vọng một cõi thi ca bát
ngát. Cõi thi ca trùng trùng điệp điệp những ẩn ngữ kỳ
diệu. Khách phàm trần bươn bả, thuyền đỗ bến Bành lãi
hay Tầm Dương, chỉ thấy đó là một cõi đẹp của khói
mờ sương phủ; chỉ thấy đó là một bầu trời trong chiều
tà rồi nắng quái, trong nắng quái rồi chiều tà. Làm sao
thấy và nghe những tình tự u trầm trong đó? Hoặc u trầm,
hoặc cuồng nộ, Lô sơn có thiên hình vạn trạng. Những chiếc
nón hoàng quan của đạo sĩ, những chiếc áo phá nạp của
thiền tăng; đầu này vẳng tiếng Huỳnh đình, đầu kia dội
tiếng chuông triêu mộ. Những hình bóng và những âm hưởng
đó, từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, bên dòng lịch sử
trường mộng của nhân sinh đổ ầm xuống; có những cuộc
thi gan tuế nguyệt diễn ra trong lạnh lùng, cô tịch. Ngày
và đêm, đày đọa hình hài và tâm trí, đứng trơ vơ, kinh
đảm hãi hùng, trên chiếc cầu độc mộc, bắc ngang qua ghềnh
sinh tử. Phương ngoại là cõi của ngày tháng phiêu bồng,
có trăng thanh gió mát, có nắng quái tà dương, có xuân lan
thu cúc, có đủ tất cả mọi thứ thanh nhàn, tiêu sái, phóng
dật… mà người đời mong ước. Nhưng đó chỉ là Lô sơn
từ bến Tầm dương nhìn lại, hay từ bến Bành lãi trông
sang. Xa hay gần, cao hay thấp, Lô sơn đẹp trong thiên hình
vạn trạng. Giữa lòng Lô sơn, ngày tháng u trầm trôi qua trong
một phương trời đọa đày viễn mộng. Phải chăng đây đã
là nơi sơn cùng thủy tận của một cõi thi ca bát ngát?
Từ
khi bước ngang qua:
Một
vùng cỏ mọc xanh rì
Nước
ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu
(Kiều)
Và
từ đó đã bước ngay vào một trường thiên lịch sử đọa
đày, khổ lụy:
Mối
tình đòi đoạn vò tơ
Giấc
hương quan luống lần mơ canh dài
Song
sa vò võ phương trời
Nay
hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
(Kiều)
Tình
cố quận, tình tha hương, trong những ngày lưu lạc, và chân
trời phương ngoại cho những ngày tháng tiêu dao, hồn thơ
bay cao vút đến mấy vạn trời mây, vẫn còn đồng vọng
Lô sơn; một chiếc cầu độc mộc cheo leo, bắc ngang qua bên
này và bên kia, hai bên bờ của một cõi sống và chết, mà
bên dưới là vực thẳm tuyệt mù, dội lên những ẩn ngữ
kỳ lạ của dòng lịch sử kinh hoàng, trôi ào ạt trong cái
lặng lẽo vô thanh vô tức. Ẩnn ngữ cùng tuyệt của thi ca
đồng vọng từ đó, hay từ đâu? Lô sơn đẹp trong thiên
hình vạn trạng, và chân diện mục của Lô sơn ra sao?
Ông
viết về Sâm Liêu Tử, một người bạn trong mối giao tình
thi ca, và trong cuộc giao tình phương ngoại:
"Đông
Pha cư sĩ nói: Thưa! Sâm Liêu Tử, có cái thân lạnh mà đạo
giàu. Văn thì rành rõi mà nói năng chậm chạp. Bên ngoài mềm
nhũn mà bên trong cứng cỏi. Đối với người thì không ganh
đua mà đối với cái quấy của bạn bè thì hay châm chọc.
Hình khô tâm tro lạnh mà thích nói lời cảm khái với thời,
thưởng ngoạn với vật, và không thể vong tình. Đó là chỗ
mà tôi gọi là Sâm Liêu Tử có năm điều không thể hiểu."
Xưa
kia, Lý Bạch cũng có một người bạn tên Sâm Liêu Tử. Đông
Pha cũng có một ngưòi bạn như vậy. Sâm Liêu Tử của Đông
Pha là biệt hiệu của tăng Đạo Tiềm, một sư tăng tu ở
Tiền đường. Đạo Tiềm rất thích thơ. Trước khi Đông
pha đáo nhiệm Tiền đường hai người đã biết nhau, qua giấc
mộng. Nên khi tới Tiền đường, Đông Pha liền đi tìm gặp
ngay Đạo Tiềm, rồi viết Ứng mộng ký (?). Hai người qua
lại và làm thơ với nhau. Thơ của họ được khắc nhiều
nơi các vách đá trong vùng Giang Triết.
Năm
Nguyên hựu thứ 6 (1091), từ Tiền đường, ông được lịnh
gọi trở về triều, ông để lại bài từ, theo điệu "Bát
thanh cam châu", tặng Sâm Liêu Tử:
Hữu
tình phong vạn lý quyển triều lai,
Vô
tình tống triều qui.
Vấn
Tiền đường giang thượng,
Tây
hưng phố khẩu
Kỷ
độ tà huy.
Bất
dụng tư lương kim cổ,
Phủ
ngưỡng tích nhân phi,
Thùy
tợ Đông Pha lão,
Bạch
thủ vong ky.
Ký
thủ Tây hồ tây bạn,
Chánh
xuân sơn hảo xứ
Không
thúy yên phi
Toán
thi nhân tương đắc,
Như
ngã dữ quân hi.
Ước
tha niên đông hoàn hải đạo,
Nguyện
Tạ công nhã ý mạc tương vi.
Tây
châu lộ,
Bất
ưng hồi thủ,
Vị
ngã triêm y.
有情風萬里卷潮來,
無情送潮歸。
問錢塘江上,
西興浦口,
幾度斜暉?
不用思量今古,
俯仰昔人非。
誰似東坡老:
白首忘機。
記取西湖西畔,
正春山好處,
空翠煙霏。
算詩人相得,
如我與君稀。
約它年東還海道,
願謝公雅志莫相違。
西州路,
不應回首,
為我沾衣
Hữu
tình thì ngọn gió từ một vạn dặm cuộn sóng tới. Vô tình
thì đưa con sóng trở về. Thử hỏi, trên sông Tiền đường,
và phố khẩu Tây hưng, qua mấy độ tà huy? Không kể gì kim
hay cổ; cúi và ngước, thấy người xưa đã khác. Xem chừng
lão Đông Pha, đầu bạc dửng dưng đời.
Nhớ
lấy cảnh bờ tây của Tây hồ, sắc xuân lồng lộng, trời
xanh thăm thẳm, khói mưa mù. Người thơ tương đắc, như tôi
với Ngài, phỏng được bao nhiêu? Hẹn sang năm, vượt bỏ
dặm ngàn trở lại đây, giữ mãi tấm lòng hoài vọng không
bao giờ thôi. Đường Tây châu, đừng có quay đầu, vì tôi
mà đẫm áo.
Đó
là cuộc giao tình tương đắc của những người bạn thơ.
Ngoài cuộc đó, còn là cuộc giao tình phương ngoại. Phương
ngoại du, là cuộc chơi của những mặt công hầu rám nắng,
trong một thuở tạm thời rửa mặt đi bàn chuyện Không hư,
bàn cái Không và cái Hữu của tử sinh trường mộng. Thì
ở đó, một tấm lòng thơ đã mở ra bao trùm cả hai cõi.
Lời thơ sẽ lai láng cho tình thơ nồng nàn. Lời thơ sẽ điềm
đạm cho trời thơ nghiêm nghị. Lời thơ sẽ phiêu bồng cho
trời thơ lãng đãng. Lời thơ sẽ ngậm ngùi cho trời thơ
cô tịch. Lời thơ sẽ cay đắng cho trời thơ đày đọa. Lời
thơ vần vũ, và trời thơ trùng trùng điệp điệp bao la. Làm
sao để mở rộng tấm lòng của mình cho thành tấm lòng của
trời thơ lồng lộng, nhìn thẳng vào chân diện mục của
Lô sơn, ba mươi sáu ngọn núi xanh cao ngất?
Thơ
ông tiễn Đạo Tiềm nói:
Thượng
nhân học Khổ Không
Bách
niệm dĩ hôi lãnh
Kiếm
đầu duy nhất quyết
Tiều
cốc vô tân dĩnh
Hồ
vi trục ngã bối
Văn
tự tranh ủy bính
Tân
thi như ngọc tiết
Xuất
ngữ tiện thanh kỉnh
Thối
Chi luận thảo thơ
Vạn
sự vị tường bính
Ưu
sầu bất bình khí
Nhất
ngụ bút sở sính
Phả
quái Phù đồ nhân
Thị
thân như khâu tỉnh
Đồi
nhiên ký đạm bạc
Thùy
dữ phát hào mãnh
Tế
tư nãi bất nhiên
Chân
xảo phi ảo ảnh
Dục
linh thi ngữ diệu
Vô
áp Không thả Tĩnh
Tĩnh
cố liễu quần động
Không
cố nạp vạn cảnh
Duyệt
thế tẩu nhân gian
Quán
thân ngọa vân lĩnh
Hàm
toan tạp chúng hảo
Trung
hữu chí vị vĩnh
Thi
Pháp bất tương phương
Thử
ngữ đương cánh thỉnh 上人学苦空,
百念已灰冷。
剑头唯一吷,
焦谷无新颖。
胡为逐吾辈,
文字争蔚炳?
新诗如玉屑,
出语便清警。
退之论草书,
万事未尝屏。
忧愁不平气,
一寓笔所骋。
颇怪浮屠人,
视身如丘井。
颓然寄淡泊,
谁与发豪猛?
细思乃不然,
真巧非幻影。
欲令诗语妙,
无厌空且静。
静故了群动,
空故纳万境。
阅世走人间,
观身卧云岭。
成酸杂众好,
中有至味永。
诗法不相妨,
此语当更请。
Đó
là một bài thơ, hay một bài văn luận về phép làm thơ, gọi
nó là thế nào cũng được. Lô sơn có thiên hình vạn trạng,
nhìn ngang hay nhìn dọc, tùy. Ông nói, đại khái như thế này:
Thượng
nhân học về cái lẽ Khổ Không; một trăm thứ niệm tưởng
đã thành tro lạnh hết. Cũng tợ thể vung lưỡi kiếm một
cái là y như gió thổi chẻ hạt thóc lép, không còn chút bụi
cám. Tại sao ngài lại phải chạy theo bọn tôi, tranh đua cái
vẻ rực rỡ của văn tự? Bài thơ bọn tôi mới làm, nó đẹp
như tán vụn viên ngọc lóng lánh; lời thơ vừa ra là đã
trong veo kỳ lạ. Hàn Thối Chi (Hàn Dũ), luận cách viết chữ
thảo, mà chưa hề bỏ bê mọi việc. Cái u sầu, cái khí bất
bình, nội một nét bút là hàm tất cả.
Lạ
thay, những người đi tu Phật, coi thân này như là gò, như
là giếng, chật hẹp và tù túng, nên chịu cảnh đạm bạc
trơ vơ, thì đi bộc bạch cái hào, cái mãnh với ai?
Tuy
nhiên, suy nghĩ kỹ thì không phải thế. Cái ảo diệu không
phải là cái ảo ảnh. Muốn cho lời thơ tuyệt diệu, thì
phải là đừng gò ép, vừa Không và vừa Tĩnh. Tĩnh cho nên
thâu tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh.
Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời, mà thấy mình như
nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng,
chua chát; trong đó có cái hương vị tuyệt vời.
Thơ
và Pháp (Đạo) không chống trái nhau, không hại nhau. Cái đó
lại nhờ Thượng nhân hạ quyết.
Nhờ
hạ quyết? Không nhờ, cũng đã quyết. Người học Thiền,
học từ cái khổ đau, hư ảo; học cho thân tâm ra là thứ
tro tàn nguội lạnh. Học như thế là học để mà đoạ đày.
Sở đạt của sở học đó, là buông thả, hóa thành cái Không
và trở thành cái Tĩnh. Buông thả, thì không câu chấp, không
còn bị ràng buộc. Cũng tiêu dao như hồn thơ thoát sái và
lãng mạn. Tâm Tĩnh, thì trầm lặng như mặt nước không gợn
sóng, phản chiếu trọn vẹn ngoại cảnh. Tâm Không, thì Tâm
rộng như mặt biển bao la, dung nạp tất cả ngân hà tinh đẩu.
Người học Thiền chịu đọa đày cho thân mình gầy, cho tâm
mình nguội, trong đó có cái diệu dụng phi thường của nó.
Người làm thơ, cuộc đời bị đày ải truân chuyên, trong
đó cũng có cái ảo diệu của vị chua, vị mặn. Suốt đời
học Thiền; suốt đời vẫn đày đọa thân tâm; đày đọa
trong cái Không và cái Tĩnh. Đày đoạ đó, mà kỳ thực không
là đày đọa. Cũng vậy, suốt đời làm thơ, thì suốt đời
khổ lụy lao đao; nhưng không là khổ lụy lao đao. Chỗ ảo
diệu đó, chưa đạt đến cõi thượng thừa của thi ca, làm
sao hiểu nổi?
Nhưng,
ai nói người học Thiền phải chịu đày đọa thân tâm? Họ
nhàn hạ, họ thong dong, họ tiêu sái; họ lãng đãng như Lô
sơn thấp thoáng giữa mây trắng và sương mù. Tuy nhiên như
thế, nhưng ai quyết rằng tâm hồn đó trầm mặc như nước
hồ không dao động? Giữa lòng Lô sơn, giải Ngân hà trên
bầu trời cô tịch không ngừng đổ xuống ầm ầm như sấm
sét.
Thi
sĩ và Thiền sư cùng lao đao, và cùng tiêu sái, trong cùng một
cõi trầm mặc phiêu bồng, vừa Không vừa Tĩnh. Ngọc đường
kim mã hay Giang bắc Giang nam; hay lão thần cô quạnh nơi Hoàng
châu, Huệ châu... , đày ải hay không đày ải, hồn thơ vẫn
điềm đạm bao la trong thơ huy hoàng bát ngát.
Thế
thì, cái chỗ đọa đày viễn mộng nghe chừng như là phải
kinh hoàng táng đảm, nó làm cho đất liền cũng trở thành
sa mạc, với nóng cháy và với gió rét kinh hồn. Thế mà lại
khác hẳn. Đó là cái Không Không và Tĩnh Tĩnh, cõi của mây
trời trên đỉnh núi. Khách phàm trần chưa bước tới nổi,
nên cứ tưởng là nơi khổ lụy tột cùng, hoặc huy hoàng
tráng lệ. Cả hai, vừa phải vừa không phải. Lô sơn có thiên
hình vạn trạng. Cõi thơ có trùng trùng ẩn ngữ.
Đạt
tới cõi thượng thừa của Thơ, như người học Thiền chứng
chỗ Không tịch của Đạo; cái đó vừa khó vừa dễ. Học
Thiền ba mươi năm, ba mươi năm đày đọa thân tâm, mà không
thành. Phẫn chí, bỏ đi; bất chợt thấy một cánh hoa rơi,
cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra. Chỗ ảo
diệu đó, khó giảng cho thông. Cho nên, không thể nào lấy
tay chỉ thẳng vào cõi thơ, rồi bảo đây là chân diện mục
của nó. Nói được một cách dễ dãi, hay không dễ dãi, như
thế chẳng khác nào đàn bà con nít cũng biết giảng chỗ
ảo diệu của Ngộ Thiền. Ông viết trong bài bạt của khắc
kinh Lăng già như thế này:
"…
Chỉ lấy theo chỗ giản tiện; được một câu kinh, một bài
kệ, tự cho là liễu chứng. Cho đến cả bọn đàn bà, con
nít, dong tay cười giỡn, đua nhau bàn bạc hương vị Thiền.
Kẻ cao thì vì danh, kẻ thấp thì vì lợi. Cái dư ba mạt lưu
đó không đâu không chảy tới. mà cái vi diệu của Phật
Pháp đã mất rồi. Chẳng khác nào thầy lang quê mùa… (may
mà chữa lành bịnh nhẹ)…"
Đại
khái, nơi cõi Thiền cũng có cái khó phân biệt Chân và Ngụy.
Cõi thơ há lại không? Nhưng chỉ thẳng vào chỗ đó, không
thể được. Nó không phải là chỗ dị đồng giữa con chó
và con cọp, hay giữa cọp thực và cọp giấy.
Quả
nhiên, điều thấy rõ là ông đã giảng giải thế nào là
Thơ, và thế nào là Thiền. Và cũng thấy rõ là trong đó có
chỗ đồng và chỗ dị. Nhưng chỉ thẳng vào những chỗ đó,
thiên nan vạn nan.
Có
thể đọc lại bài thơ ông tặng Đạo Tiềm, đã dẫn ở
trên kia. Bài thơ:
Vị
văn Lô nhạc đa chân ẩn
Cố
tựu cao nhân đoạn túc phan
Dĩ
hỉ Thiền Tâm vô biệt ngữ
Thượng
hiềm thế phát hữu thi ban
Dị
đồng mạc vấn nghi tam ngữ
Vật
ngã chung đương phó bát hoàn
Đáo
hậu dữ quân khai bắc hộ
Cử
đầu tam thập lục thanh sơn.
Tống
Triết tông, năm đầu niên hiệu nguyên hựu (1086), vương tử
Cao li, Tăng thống Nghĩa Thiên, sang thăm Trung Hoa, tìm hiểu
Phật giáo Hoa Nghiêm tông. Vua sắc chỉ Đông kinh Giác nghiêm
Thành thiền sư ứng đối. Thành đề cử sư Tịnh Nguyên ở
Tiền Đường, thay thế mình. Vua mới lịnh cho Dương Kiệt
hộ tống Nghĩa Thiên tăng thống đến Tiền đường. Các tự
viện làm lễ đón và đưa rất rầm rộ.
Khi
Nghĩa Thiên mới đến Kinh sư, vua sắc Lễ bộ Tô Thức tiếp
đón. Rồi đến yết Viên chiếu. Bản thiền sư, thảo luận
về tông chỉ Phật Pháp. Sau đó, đến Kim Sơn. Ở đó, Phật
Ấn ngồi mà đón và nhận lễ cúng nạp. Dương Kiệt kinh
ngạc hỏi. Phật Ấn đáp: Nghĩa Thiên là tăng nước ngoài,
nhưng luật của người xuất gia không phân biệt biên vức
quốc gia, do đó, không vì Nghĩa Thiên đến với tư cách một
vương tử ngoại quốc, được triều đình đãi như một thượng
khách, mà sư phải theo cách tiếp đãi của triều đình. Triết
tông biết việc đó, rất khâm phục thái độ của Phật Ấn.
Về sau, vua mang chiếc áo nạp do Cao li tiến cống tặng cho
Phật Ấn. Đông Pha viết bài nạp tán:
"TỰA:
"Trưởng
lão Phật Ấn đại sư Liễu Nguyên, dạo chơi Kinh sư. Thiên
tử nghe danh sư, đem chiếc áo Ma nạp do nước Cao lệ cống
hiến ban cho sư.
"Khách
có người thấy, khen rằng: Hỡi ôi! Đẹp thay! Chưa từng
thấy vậy. tôi và con tôi đã thử nắm vạt nó trải ra, theo
cái chéo nó trương lên mà tung ra; từ phía đông tận đất
Ngung di, phía tây tới Muội cốc, phía Nam Giao chỉ, phía bắc
U đô, tất cả đều nằm trong lỗ kim khe chỉ của tôi cả.
"Phật
Ấn cười hô hố, nói: Ăn thua gì! Cái ông nói còn quê mùa
lắm. Tôi lấy con mắt Pháp mà nhìn nó, thấy trong mỗi lỗ
kim có vô lượng thế giới. Rồi trong mỗi thế giới đó,
có bao nhiêu chúng sinh, mà mỗi lỗ kim khe chỉ của mỗi chiếc
áo chúng mặc đều là thế giới. Cứ lần lượt như thế
cho đến tám mươi lần, mà quang minh của Phật tôi đều rọi
tới, cùng với Thánh đức của Quân thượng tôi bao trùm như
đem biển cả mà đổ vào một lỗ chân lông, như để cõi
đất mà lấp một lỗ kim. Thì những Ngung di, Muội cốc, Giao
chỉ, U đô, có gì đáng nói. Nên biết rằng, chiếc áo nạp
đó không phải lớn, không phải nhỏ, không phải vắn, không
phải dài, không phải nặng không phải nhẹ, không phải mỏng,
không phải dày, không phải Sắc không phải Không. Hết thảy
thế gian chịu lạnh đến nứt da, rụng ngón mà áo nạp đó
không lạnh; nóng đến độ đá tan, vàng chảy mà áo nạp
đó không nóng; năm thứ dơ bẩn lai láng của thế gian không
làm nó bợn; lửa kiếp tận hừng hực đốt rụi thế gian
mà áo nạp đó không hoại. Sao lại có tâm tư duy sinh ra nghĩa
tưởng hèn kém?
"Nhân
đó, người đất Thục là Tô Thức nghe vậy mới làm bài
tán rằng:
Xếp
lại mà cất
Thấy
nạp không thấy sư
Mặc
mà không xếp
Thấy
sư không thấy nạp
Chỉ
sư với nạp
Phi
một phi hai
Chột
mắt mà nhìn
Rận
rệp rồng voi.
…"
Phật
Ấn Liễu Nguyên, hiệu Giác Lão. Lúc Đông Pha bị biếm trích
ở Hoàng châu, thì sư trụ ở chùa Qui tông, Lô sơn. Hoàng
châu và Qui tông đối ngạn, nên ông và sư thường hay qua
lại giao thiệp, trao đổi làm thơ, đi ngoạn cảnh.
Sau
sư dời sang ở chùa Kim sơn. Một hôm, ông đến thăm vào lúc
sư đang giảng kinh cho tăng trong chùa. Họ đứng hai hàng để
nghe. Ông đến, sư nói: "Nơi đây không có giường ghế. Cư
sĩ đến, biết ngồi đâu bây giờ?" Ông bảo: "Vậy thì muợn
đỡ tứ đại của Phật Ấn làm giường ngồi." Nghĩa là,
ông mượn cái thân tứ đại của Phật Ấn làm giường ngồi.
Phật Ấn nói: "Sơn tăng này có một câu hỏi, nếu thí chủ
đáp được, sẽ theo lời cho mượn thân tứ đại này làm
giường ngồi. Nếu không, xin để lại sợi ngọc đái làm
vật trấn sơn môn." Ngọc đái là giải dây buộc ngang lưng
của bậc thượng lưu thời đó, được đem ra đánh cuộc,
để làm bửu vật trấn giữ cửa chùa. Ông liền cởi ngay
giải dây đặt lên bàn. Sư hỏi: "Tứ đại giai không, ngũ
uẩn phi hữu. Cư sĩ muốn ngồi vào đâu? " Ông ngẫm nghĩ,
chưa kịp trả lời, thì sư đã gọi gấp thị giả mang sợi
đái đi cất, để làm vật trấn sơn môn. Ông làm ngay hai
bài thơ tặng sư (trích một bài đọc chơi):
Bịnh
cốt nan kham ngọc đái vi
Độn
căn nhưng lạc tiễn phong ki
Dục
giao khất thực ca cơ viện
Cố
dữ sơn vân cựu nạp y.
病骨難堪玉帶圍,
鈍根仍落箭鋒機。
欲教乞食歌姬院,
故與雲山舊衲衣
Xương
gầy giải ngọc buộc sao vô?
Hồ
đồ thấp trí chịu thua cơ.
Những
mong kiếm chác trò con hát;
Nay
để làm duyên với cửa chùa.
Chuyện
đó trở thành cái giai thoại mà người ta truyền tụng là
"Ngọc đái trấn sơn môn" rất thịnh hành.
Năm
ông 49 tuổi. Kể từ khi bị biếm trích ra Hoàng châu đến
bây giờ, là đã hơn bốn năm. Tháng 4 năm đó, Giáp tý (1084),
ông được lệnh phải dời sang ở Nhữ châu. Trên đường
đi Nhữ châu, ông gặp Tử Do ở Quân châu. Lúc này, Tử Do
ở Quân châu; sư Vân Am ở chùa Động sơn; Thông thiền sư,
người đất Thục, ngụ tại chùa Thọ thánh. Tối đó, cả
ba người cùng thấy một giấc mộng giống nhau. Họ thấy
đi đón Ngũ Tổ Sư Giới hòa thượng. Sư Giới là một thiền
sư đời thứ 9 của dòng thiền Huệ Năng. Cả ba cùng vỗ
tay cười lớn: "Thế gian quả có chuyện đồng mộng, lạ
thay!" Ít lâu, thư của ông đến báo tin là ông đã tới Phụng
tân, sẽ gặp nhau trong sớm tối. Ba người cùng ra ngoài 20
dặm chùa Kiến sơ thì gặp ông. Mỗi người lần lượt kể
giấc mộng của mình. Oâng mới nói: "Tôi hồi 7, 8 tuổi, có
lần nằm mộng thấy mình làm tăng, qua lại bên Thiểm hữu."
Sư Vân Am cả kinh, nói: "Sư Giới là người ở Thiểm hữu.
Tuổi về già, bỏ chùa Ngũ tổ đến dạo ở Cao an, sau mất
tại chùa Đại ngu. Tính ngược lại, đã đúng 50 năm." Bấy
giờ ông 49 tuổi. Vậy, đại khái, đời trước ông là thiền
sư Ngữ tổ Sư Giới. Nhưng nghe nói Sư Giới đã tỏ ngộ
đạo thiền, đã đắc đạo, sao thác sinh ra ông lại phải
trải qua một kiếp lao đao đày ải như thế?
Ông
bị đày xuống Quảng đông, rồi Hải nam, từ năm 59 tuổi
, cho đến 66 tuổi thì được tha về.
Trong
thời gian này, ông quen thân với sư Trùng Biện. Ông viết
dật sự của sư Trùng Biện, tức Nam Hoa trưởng lão.
"Thiền
sư Khế Tung thường sân; người ta chưa từng thấy sư cười.
Sư Hải Nguyệt Biện thường vui, người ta chưa từng thấy
sư giận. Tôi ở Tiền đường, chính mắt thấy hai vị đó
đều ngồi kiết già mà hóa (chết). Khế Tung đã trà tì (thiêu
xác), mà lửa không hủy hoại. Thêm củi cho lửa đỏ đến
năm lần mới thôi. Hải Nguyệt đến khi táng mà gương mặt
vẫn tươi như còn sống, lại còn cười nụ.
"Thế
mới biết, hai người lấy cái sân và cái hỉ mà làm Phật
sự vậy.
"Người
đời coi thân hình như vàng ngọc, không để cho gót chân dính
bụi. Bậc Chí nhân thì ngược lại. Tôi lấy đó mà biết
rằng, hết thảy các Pháp đều do ái mà hoại; do xả mà thường.
Há không phải vậy sao?
‘Tôi
từ Hải nam trở về, thì Trùng Biện tịch đã lâu. Qua Nam
hoa điếu. Hỏi chúng tăng ở đó về chỗ mộ tháp của Sư.
Họ bảo: "Thầy tôi xưa đã có làm thọ tháp, về phía đông
Nam hoa vài dặm. Có người không ưa thầy, nên táng ở mộ
khác. Đã hơn bảy trăm ngày rồi. Nay Trưởng lão Minh Công
ra sức một mình, dời về thọ tháp. Thay quan, đổi áo, thấy
trọn cả thân thể vẫn như đang còn sống; áo vẫn tươi
và thơm. Mọi người hỗ thẹn và kỉnh phục."
"Đông
Pha cư sĩ nói: Trùng Biện coi thân là vật gì? Vứt nó vào
rừng Thi đà để nuôi chim, nuôi quạ, đâu có sự để ở
thọ tháp cho an ổn. Vì là, Minh công là người biết rõ Trùng
Biện, nên đặc biệt muốn lấy sự họa phúc đồng dị mà
thôi.
"Tôi
mới đem trà, quả đến cúng ở tháp sư, rồi viết lại sự
việc đó để gởi cho thượng túc đệ tử của sư là sư
Khả Hưng. Nam hoa tháp chủ.
"Bấy
giờ, niên hiệu Nguyên phù thứ 3 (1100), tháng 12, ngày 19."
Độ
nửa tháng sau, ông viết bài "Nam hoa trưởng lão đề danh ký"
"Học
giả lấy sự thành Phật làm khó ư? Con nít vọc đất, vẽ
cát mà giỡn thôi, cũng đủ thành Phật; lấy đó mà cho là
dễ ư?
"Những
bậc đã được thọ ký, đã đắc đạo, như các vị Bồ
tát và các Đại đệ tử (của Phật Thích Ca) mà còn không
dám đi thăm bịnh (cư sĩ Duy-ma-cật); cái nghĩa đó là thế
nào?
"Lúc
đang mê loạn điên đảo, trôi lăn trong biển khổ, mà vừa
có một niệm Chân thành, thì vạn pháp đều có đủ cả.
Còn như, cần khổ dụng công, như đắp núi đã cao đến chín
bậc, sau chỉ vì một chút sai sẩy cỏn con mà một nghìn đời
không phục lại nổi.
"Hỡi
ôi, Đạo vốn là như vậy đó!
"Nhưng
riêng gì Phật thôi ư? Thầy Tử Tư có nói: "Hạng phàm phu
phụ không ra gì cũng có thể hành (đạo) được; còn như
chỗ tột cùng, thì dù là Thánh nhân cũng có chỗ chưa đủ
sức." Mạnh Tử thì cho rằng Đạo của Thánh nhân bắt đầu
ở chỗ không làm việc trèo tường khoét vách mà cái ác của
việc trèo tường khoét vách đã hiện ở lời nói. Không nói
người chưa có ý muốn làm việc trèo tường khoét vách, thì
dù có việc trèo tường khoét vách cũng không muốn. Từ cái
tâm mình không muốn làm mà đi cầu nó (đạo), thì việc trèo
tường khoét vách đã đủ để làm Thánh nhân rồi.
"Đáng
nói mà không nói. Không đáng nói mà lại nói: những điều
như vậy, dù là Hiền nhân, Quân tử cũng không thể tránh
khỏi. Nhân từ cái lỗi không thể tránh mà tiến tới, dù
là Hiền nhân Quân tử cũng có lúc phải đi ăn trộm.
"Đó
là hai Pháp ngược nhau, nhưng lạm dụng lẫn nhau. Nho và Thích
cũng như nhau ở chỗ đó.
"Nam
Hoa trưởng lão Minh Công, trước kia theo cái học của Tử
Tư, Mạnh tử. Sau bỏ nhà theo Phật. Người không biết, cho
là trốn Nho theo Phật, chứ không biết Sư vẫn còn Nho.
"Chùa
Nam hoa này, từ Ngài Lục tổ Đại Giám (Huệ Năng) thị diệt,
những người truyền Pháp đắc đạo đều phân tán tứ phương,
cho nên Nam hoa lâu nay là chùa Luật (tông).
"Đến
đời Tống ta, trong niên hiệu Thiên hi thứ 3 (1019) mới bắt
đầu có chiếu cử Tri Độ thiền sư Phổ Toại làm trụ trì.
Cho đến sư Minh Công bây giờ, đã được 11 đời.
"Minh
Công nói với Đông Pha cư sĩ: "Tể quan hành pháp thế gian.
Sa môn hành pháp xuất thế gian. Thế gian tức xuất thế gian,
như nhau không khác. Nay các tể quan truyền nhau đều có đề
danh ghi lên vách; chỉ riêng sa môn là không có. Vả lại, đạo
tràng tôi ở đây, sửa sang chỗ Phật Tổ thì được, nhưng
sự truyền không nghiêm. Nhờ thầy viết hộ tôi bài ký.
"Cư
sĩ thưa: Vâng.
"Rồi
luận Nho và Thích không gặp nhau nhưng đồng nhau, lấy đó
làm bài ký này.
"Năm
đầu niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc (1101), tháng giêng, ngày
mồng 1."
12
Trên
đường về Kinh, Ông nằm mộng thấy làm một bài thơ gởi
cho Chu Hành Trung. Hôm sau thức dậy, còn nhớ rõ cả. Và ông
chép lại:
Thuấn
bất tác lục khí
Thùy
tri quí Dư Phiên
Ai
tai Sở cuồng sĩ
Bảo
Phác hào không sơn
Tương
Như khởi nghễ trụ
Đầu
bích tương dữ hoàn
Hà
như Trịnh Tử Sản
Hữu
lễ quốc tự nhàn
Tuy
vi Hàn Tuyên Tử
Bỉ
phu diệc hoài Hoàn.
Chí
kim bất tham bửu
Lẫm
nhiên siêu trần hoàn.
舜
不 作 六 器
誰
知 貴 璵 蹯
哀
哉 楚 狂 士
抱
撲 號 空 山
相
如 起 睨 柱
頭
壁 相 與 還
何
如 鄭 子 產
有
澧 國 自 閑
雖
微 韓 宣 子
鄙
夫 亦 懷 還
至
今 不 貪 寶
凜
然 超 塵 寰
Ít
hôm sau, ngày 28 tháng 7, ông mất. Bài thơ làm trong mộng trên
đây được người dời truyền tụng là tuyệt bút của ông.
Nếu
vua Thuấn không chế ra sáu thứ dụng cụ, ai biết ngọc Phiên,
ngọc Dư của bậc quân vương là quí ?
Cuồng
sĩ nước Sở có viên ngọc phác, nhưng trong đời không ai
cho đó là ngọc, mà coi nó là đá cuội, nên thương thay! ôm
ngọc mà kêu gào với núi hoang.
Khi
người ta nhận được ngọc Bích là quí, thì Lạn Tương Như
cầm nó trong tay, liếc nhìn cái trụ, quyết ý đầu và ngọc
sẽ cùng nát cả, thế mà hăm dọa được vua Tần, mang được
trọn vẹn cả đầu cổ và ngọc Bích trở về Triệu.
Trịnh
Tử Sản hộ tống Trịnh bá sang Tấn. Tấn hầu vì cớ có
tang, không chịu tương kiến. Tử Sản cho phá sập nhà cửa,
tường vách của Tấn, cho là chỗ chật hẹp, không phải lễ
đãi khách đối với chư hầu như vậy. Làm dữ, thế mà quốc
gia nhờ đó lại được yên ổn, vì là có lễ. Nhưng có cần
làm vậy ư?
Có
gia bảo ngọc Hoàn như Hàn Tuyên Tử, dù đến khi nghèo kiệt,
bọn đầy tớ trong nhà cũng có ngọc mà đeo.
Cho
đên bây giờ, ta vẫn chưa hề tham đến những món quí, món
báu. Cho nên, hiên ngang lẫm liệt đứng cao vọi bên trên tất
cả cõi đời.
Đó
là những lời tuyệt bút? Được truyền tụng là như thế.
Và tuyệt bút của một người trong mộng. Trong cõi mộng,
tâm sự của khách tài hoa nó kiêu hùng trong phong độ lẫm
liệt hiên ngang. Tài hoa lãng mạn bát ngát như Lô sơn ẩn
hiện giữa mây trắng và sương mù. Lẫm liệt siêu trần hoàn
cũng y thể như ngọn Lô sơn sừng sững giữa một cõi trời
cô tịch.
Học
thơ, và làm thơ, đạt đến cõi thượng thừa lẫm liệt của
trời thơ, đến chỗ tài hoa tuyệt đỉnh của trời thơ; như
viên ngọc quí giá vô tận. Đời không biết tới, người
có nó cũng khổ lụy kêu gào với ngọn núi hoang vắng cô
liêu. Mà đời biết đến nó, thì cũng khổ lụy kỳ cùng
cho người có nó. Có, hay không có cái tài hoa tuyệt thế,
cái lẫm liệt siêu trần, của một viên ngọc quí, vẫn là
những cái làm khổ lụy cuộc đời. Khổ lụy, và triền miên
khổ lụy, nó là thứ gì? Và tại sao lại có nó? chân diện
mục của Lô sơn được gói trọn vào trong một câu hỏi này
ư? Nếu thế thì, Lô sơn trùng trùng điệp điệp, không làm
sao bước tới, cho thấy tường tận chân diện mục nó. Nhưng
người dù đã bước tới, tận vào chỗ sơn cùng lộ tuyệt
của nó, cũng không làm sao nói lại được một góc cạnh
của cái thấy đó. Rồi từ đó, đột nhiên, trời Thơ trở
nên là một, hay là những phương trời đọa đày viễn mộng.
Đọa đày cho đến kỳ cùng, đọa đày cho thành kỳ diệu
tuyệt mức.
"Lao
viễn mộng", đọa đày viễn mộng, của nhà thơ đó, một
chân diện mục của Lô sơn mà khách trần tục lụy, nghìn
đời không sao hé thấy.
Cõi
thơ mở ra, và khép lại trong một cõi mộng không lời.
Từ
bến Tầm dương, hay bến Bành lãi nhìn lên, Lô sơn khói tỏa
sương mù.
Chân
diện mục của Lô sơn?
Chân
diện mục của Lô sơn?