NHỮNG
PHƯƠNG TRỜI VIỄN MỘNG
I
KHUYẾT
NGUYỆT QUẢI SƠ ĐỒNG
缺
月 掛 疏 桐
Trong
ta là núi là rừng
Là
trăm tiếng hát đã dừng trên môi
(THÂN
PHẬN)
1.
Khuyết
nguyệt; đó là mảnh trăng non, là con trăng sơ huyền. Trăng
của thời kỳ vừa chớm, và thơ cũng sẽ bắt đầu từ một
cõi mộng đơn sơ. Những cái u sầu hay hoan lạc trong mỗi
cuộc giao tình, phảng phất một ẩn ngữ cao kỳ. Ân tình
cùng giao thoa trong tương ứng, nó đơn giản như hai với hai
là một. Rồi từ đó sẽ mở ra một phương trời đọa đày
viễn mộng. Cuộc tình tan rã, thì cuộc chơi đột ngột phơi
bày trong tuế nguyệt. Bấy giờ là mùa thu; và tóc trắng tung
bay trong cõi mộng kiêu hùng. Mùa đó, nước lũ ào ạt đổ
xuống Trường giang; rầm rộ tràn qua những đống loạn thạch,
lũ lượt trôi phăng như mây ngàn bạt đỉnh, sóng kinh hoàng
xẻ đôi hai bờ bến, dâng cao như đống tuyết bay: Giang sơn
như họa, Anh hùng hào kiệt một thời!
Thế
thì, trong cõi thơ, trăng cũng kiêu hùng như gió ngàn bạt đỉnh.
Từ đó, nhìn lại con trăng như sợi lông mày vắt ngang trên
con mắt sầu mộng đăm chiêu; mảnh trăng non trơ vơ trên ngọn
ngô đồng thưa lá: thơ là ẩn ngữ hay không là ẩn ngữ?
Vừa ẩn ngữ, vừa không là ẩn ngữ: Trời viễn mộng đọa
đày đi mấy thuở; Mộng kiêu hùng hay muối mặn giữa mù
khơi?
Thơ
không là ẩn ngữ. Trong cuộc giao tình vừa khởi sự, cuộc
thơ cũng phơi bày lồ lộ những nét thanh kỳ tú lệ; cũng
lãng đãng như màn trăng trong những giọt sương lóng lánh;
cũng tươi như nụ hồng vừa chớm nở; cũng trong ngọc trắng
ngà như băng tuyết; và cũng trơ vơ như chiếc sao Hôm trong
buổi hoàng hôn, tư lự như sao Mai giữa trời khuya ngất tạnh.
Vậy, những cái đó không là ẩn ước hay ẩn mật; mà chính
là những tâm tình được thổ lộ phơi trần, hoặc bằng
lân la nay khóm trúc mai chồi lan; hoặc đột ngột như gió
dục mây Tần. Tâm tình đã thổ lộ, thì cuộc giao tình thắm
thiết mở ra. Bấy giờ mới là lúc:
Vén
thanh sắc đổ mù khơi về đối diện
Cuộc
ân tình lơi lả vội chia phôi
Trăng
nằm xuống ruỗi dài hai bến hẹn
Một
dòng sông vồn vã động chân trời
Từ
tâm tình đến cuộc tình, từ cuộc tình đến cuộc chơi,
rồi từ cuộc chơi đến cuộc hẹn; thế là, đang lân la,
bỗng đột ngột phát hiện một phương trời viễn mộng,
xa xôi. Trong cõi đó, lữ khách bao giờ cũng thấy mình đang
bươn bả ra đi, đi biền biệt, đi triền miên, tưởng như
không bao giờ có bến bờ để đổ lại; nhưng, đi và đi
mất, trong từng khoảnh khắc, cái đến và nơi đến, đã
đến tự bao giờ. Cuộc tình chia phôi từ độc đó. Bên này
là những dòng tuế nguyệt cứ mãi trôi đi, và bên kia là
một chân trời đồng vọng không có đến. Bóng chiều rủ
lên tàng đá bên đường, đọng trong mắt của người một
mối sầu cô lữ. Không vì ẩn ngữ, nhưng vì đã phơi bày
tất cả ra đó, nên cuộc tình và cuộc chơi hay cuộc lữ
cuộn tròn trong ẩn ngữ thiên thu. Đó là một tình tự hoang
đường? Hoặc giả:
Đá
mòn phơi nẻo tà dương
Nằm
nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
.......?
2.
Đó
là tình thơ trong cuộc thơ và cõi thơ; không quyết là của
Đông Pha hay không là của Đông Pha. Nhưng người chơi thơ,
mở cuộc giao tình với cuộc thơ, ban đầu chỉ như đi tìm
một cõi mộng đơn sơ; rồi đột ngột, và sững sờ, cảm
khái như một mối sầu cô lữ, thấy mình lưu lạc ở một
phương trời đọa đày viễn mộng
*
*
*
Bây
giờ bắt đầu bằng con trăng sơ huyền, mảnh trăng non treo
trên ngọn ngô đồng thưa lá. Trăng trên đồi xuân cỏ mượt,
hay trăng trong mùa thu tóc trắng. Nói chung, là trăng trong cõi
mộng đơn sơ. Trong đó, tình thơ đồng vọng từ mùa xuân,
từ lúc hoa bắt đầu rã những cánh hồng xơ xác:
Hoa
thốn tàn hồng thanh hạnh tiểu
Yến
tử phi thời
Lục
thủy nhân gia nhiễu
Chi
thượng liễu miên xuy hựu thiểu
Thiên
nhai hà xứ vô phương thảo
花
褪 殘 紅 青 杏 小
燕
子 飛 時
綠
水 人 家 遶
枝
上 柳 綿 吹 又 少
天
涯 何 處 無 芳 草
Hoa
đang rã những cánh hồng xơ xác, và cây hạnh xanh gầy. Khi
con én liệng, dòng nước biếc lượn quanh. Lớp bụi phấn
bông liễu trên cành, gió thổi rồi vơi dần. Ven trời hàng
vạn nẻo, nơi nào không là cỏ non?
Đồng
vọng xuân mà cũng là đồng vọng thu; đồi cỏ non và tóc
trắng. Ân tình một nỗi mà chia hai. Tình thơ là tình xuân,
nhưng tình người đã quá xế muộn, của tuổi già, cái tuổi
gần 60, trong những ngày bị đày ải, lưu lạc nơi cảnh man
dại Nam hoa.
Lúc
đó, và năm đó, Giáp tuất (1094), ông 59 tuổi, đang từ chức
Đoan minh điện kiêm Thị độc học sĩ, ngoại nhiệm ở Định
Châu, bị giáng chức, đày đi Hải Nam. Đó là đoạn đường
gian nan hiểm trở. Trên đoạn đường đó, thơ ông vang lên
những tiếng dội lạ lùng. Khổ đau cùng cực, trộn lẫn
với hào khí ngất trời; nhưng lại đượm những chân tình
hoài vọng xa xôi.
Đường
đi xuống Hải Nam, ngang qua Cống châu; sông Cống chảy qua
18 ghềnh thác đổ. Ngày mồng 7 tháng 8 (âm lịch) năm đó,
bắt đầu vào Cống châu, và ngang qua một thác nước ào ạt,
được mệnh danh là thác Hoàng khủng. Cái tên đó cũng đủ
thấy các thế tuôn trào của nó. Trong cái kinh hoàng nơi khách
địa đó, thơ ông vọng về cố quận khơi vơi. Nơi quê ông,
có phố chợ, được gọi là phố Hỉ hoan. Hỉ hoan và Hoàng
khủng, tình trong một mà cảnh tượng đôi bờ. Bên này là
những nét kiêu hùng man dại của đất khác; bên kia là tình
nồng đượm của quê hương. Chỗ đó, ông gọi là "lao viễn
mộng", là đọa đày viễn mộng. Bốn chữ ấy, vừa kiêu
sa vừa cô quạnh, mùa thu và tóc trắng hiện ra những nét
vừa khốc liệt vừa man mác. Bài thơ của ông làm lúc đó
Thất
thiên lý ngoại nhị mao nhân
Thập
bát than đầu nhất diệp thân
Sơn
ức Hỉ hoan lao viễn mộng
Địa
danh Hoàng khủng khấp cô thần
Trường
phong tống khách thiêm phàm phúc
Tích
vũ phù chu giảm thạch lân
Tiện
hiệp dữ quan sung thủy thủ
Thử
sinh hà chỉ lược tri tân
七
千 里 外 二 毛 人
十
八 灘 頭 一 葉 身
山
憶 喜 歡 勞 遠 夢
地
名 惶 恐 泣 孤 臣
長
風 送 客 添 帆 腹
積
水 浮 舟 減 石 鱗
便
恰 與 官 充 水 手
此
生 何 止 略 知 津
Hai
thứ tóc, người đi ngoài bảy nghìn dặm;
Một
thân côi, thác đổ xuống mười tám ghềnh.
Núi
nhớ Hỉ hoan đọa đày viễn mộng;
Đất
tên Hoàng khủng lệ khóc cô thần.
Gió
ruỗi khách cánh buồm mở rộng,
Mưa
đầy sông thuyền nhẹ lênh đênh.
Góp
sức quan thử làm thủy thủ,
Đời
trôi xuôi bờ bến là đâu?
Con
đường đó còn mở rộng bát ngát những hùng ca và bi ca.
Thơ ông bấy giờ như cánh chim hồng lẻ loi bạt gió.
Ngày
3 tháng 10 năm đó, đến Huệ châu, thuộc tỉnh Quảng đông
ngày nay. Ông ở đây gần 4 năm, rồi bị đày xa xuống nữa.
Tháng
11 năm đó (giáp tuất), ông làm bài thơ đùa Triêu Vân. Ông
tự viết lời dẫn cho bài thơ, nói:
"Đời
bảo Lạc Thiên (bạch Cư Dị) có bài từ Chúc lạc mã phóng
theo điệu Dương liễu chi, khen con ngựa lúc chủ già bịnh
không nỡ bỏ. Nhưng tôi nằm mộng có làm mấy câu thơ:
Xuân
tận nhứ phi lưu bất đắc
Tùy
phong hảo khứ lạc thùy gia
春
盡 絮 飛 留 不 得
隨
風 好 去 落 誰 家
"Thơ
lạc Thiên cũng nói:
Bịnh
dữ lạc Thiên tương bạn trụ
Xuân
tùy Phàn tử nhất thời qui
病
與 樂 天 相 伴 住
春
隨 樊 子 一 時 歸
"Nhà
tôi có vài thị thiếp; bốn, năm năm đã nối nhau bỏ đi;
chỉ một mình Triêu Vân theo tôi đày sang Nam. Nhân đọc thơ
Lạc Thiên, làm bài thơ đùa đó. Triêu Vân họ Vương, người
Tiền đường, có con tên Cán, chưa đầy năm đã yểu"
Bài
thơ đó:
Bất
tợ dương chi biệt Lạc Thiên
Hiệp
như Thông Đức bạn Linh Huyền
Ả
nô Lạc Tú bất đồng lão
Thiên
nữ Duy Ma tổng giải Thiền
Kinh
quyển dược lô tân hoạt kế
Vũ
xam ca phiến cựu nhân duyên
Bất
tác Vu dương vân vũ tiên
不
似 楊 枝 別 樂 天
恰
如 通 德 伴 伶 玄
阿
奴 絡 秀 不 同 老
天
女 維 摩 總 解 禪
經
卷 藥 爐 新 活 計
舞
衫 歌 扇 舊 因 緣
丹
成 逐 我 三 山 去
不
作 巫 陽 雲 雨 仙
Gọi
là đùa, mà kỳ thực là để tạ cái chân tình thắm thiết
của Triêu Vân hầu ông. Nàng cốt cách như thiên nữ, dù không
là sắc nước hương trời, nhưng cũng trang nhã thanh cao. Trước
kia, nàng chỉ biết ca hát và múa. Từ khi theo ông đi đày,
nàng làm bếp; tợ như ngọc nữ quạt lò thuốc luyện đan.
Khi nào tiên đan luyện thành rồi, sẽ đuổi ông chơi xa ngoài
năm non bảy núi, không làm tiên nữ mây mưa trên đỉnh Vu
dương nữa.
Một
ngày nhàn hạ, ông ngồi với Triêu Vân. Lá ngô đồng vừa
bắt rơi vài ngọn, gió heo may vừa trổi, và sương thu lạnh.
Ông bảo Triêu Vân cầm cốc rượu làm phách đánh nhịp, hát
bài từ của ông, theo điệu Điệp luyến hoa:
Hoa
thốn tàn hồng thanh hạnh tiểu.
Yến
tử phi thời,
Lục
thủy nhân gia nhiễu.
Chi
thượng liễu miên xuy hựu thiểu.
Thiên
nha hà xứ vô phương thảo
Tường
lý thiên thu tường ngoại đạo,
Tướng
ngoại hành nhân,
Tường
lý giai nhân tiếu.
Tiếu
tiệm bất văn thanh tiệm tiểu,
Đà
tình khước bị vô tình não.
Ca
và Triêu Vân sụt sùi khóc, nước mắt đẫm áo. Ông hỏi
tại sao khóc. Nàng chỉ vào bài từ, chính là ở chỗ
Chi
thượng liễu miên xuy hựu thiểu.
Thiên
nha hà xứ vô phương thảo
Trên
cành liễu, bông liễu đã kết trái, trên hạt của nó có
những sợi lông như lông tơ của cái kén, gọi là liễu miên,
hay bụi bông liễu. Ngọn gió muộn của mùa thu thổi qua, bông
liễu bay đi; ngoài kia bông liễu tản mạn triền miên, tản
mạn bay đi, ngoài kia ven trời vạn nẻo, đâu không là cỏ
non!
Nàng
khóc là ở chỗ đó. Ông cười lớn: Chính là chố ta ngậm
ngùi mùa thu, mà nàng khóc với mùa xuân.
Mùa
xuân và mùa thu, cùng trong một tình thơ đó. Tình đạm bạc
như bông liễu; và cũng tình đó, triền miên như bụi bông
liễu. Mịn như tơ trời và lây lất triền miên theo gió thổi;
trên cành liễu và ngoài kia mấy vạn ven trời diệu vợi.
Càng đơn bạc, càng nồng nàn.
Tình
vương vấn như sợi tơ trời, triền miên và thắm thiết.
Triền miên và triền miên, một thứ triền miên kỳ lạ. Triền
miên đó là cái bịn rịn, cái dây dưa, cái vương vấn, cái
quyến luyến, của bụi bông liễu như tơ trời. Lồ lộ trong
cơn gió thanh xuân, mà e ấp trong một tình thơ sầu vạn đại.
Cuộc
giao tình dồn lại rồi chia phôi:
Tường
lý thu thiên tường ngoại đạo
Tường
ngoại hành nhân,
Tường
lý giai nhân tiếu.
Tiếu
tiệm bất văn thanh tiệm tiểu
Đa
tình khước bị vô tình não
牆
裏 鞦 韆 牆 外 道
牆
外 行 人
牆
裏 佳 人 笑
笑
漸 不 聞 聲 漸 小
多
情 卻 被 無 情 惱
Bên
trong tường là cái xích đu và bên ngoài tường là con đường
cái. Bên ngoài tường là lữ khác đi và bên trong tường là
người đẹp đang cười. Cười càng lúc càng nhỏ và tiếng
cười càng lúc càng ngậm ngùi. Cái đa tình đã thường bị
cái vô tình làm ray rứt.
Tình
thơ, và cuộc tình trong thơ, thắt chạt rồi buông lơi; gió
thổi cuộc tình ra ngoài một vạn phương trời viễn mộng.
Hùng ca hay bi ca? Mòn con mắt sầu đưa từ cổ độ:
Bụi
thu mờ ai phủ với hai tay
(Bùi
Giáng)
Bụi
thu mờ và bụi thu bay. Trời thu cao ngất tạnh trong bụi thu
mờ. Rừng thu rỗ biếc ố hồng vì bụi thu mờ. Chiều mùa
thu đổ xuống trong bụi thu mờ. Mờ và xa,
Em
về rủ áo mù sa
Trút
quần phong nhụy cho tà huy bay
(Bùi
Giáng)
Chẳng
bao lâu, Triêu Vân bịnh và mất. Nàng mất lúc tuổi mới 34,
và ông đã 61 tuổi. Rồi từ đó, sầu cô quạnh tung trời
lên Bắc đẩu, dải Ngân hà tan tác bụi thu bay.
Từ
đó trở đi, ông không bao giờ còn nghe lại:
Hoa
thốn tàn hồng thanh hạnh tiểu
....
Chi
thượng liễu miên xuy hựu thiểu
Thiên
nhai hà xứ vô phương thảo
Ông
viết "Mộ chí minh":
"Thị
thiếp của Đông Pha tiên sinh là Triêu Vân, tự Tử Hà, họ
Vương thị; người Tiền đường. Thông minh và thích việc
nghĩa, thờ tiên sinh 23 năm, một mực trung và kỉnh. Năm Thiệu
thánh thứ 3 (1096), tháng 7, ngày nhâm thìn, mất ở Huệ châu,
34 tuổi. Tháng 8, ngày canh thân, táng trên Phong hồ, phía đông
nam chùa Thê hiều. Sinh con tên Độn, chưa đầy năm đã yểu.
Nàng thường theo tì khưu ni Nghĩa xung học Phật pháp, cũng
hiểu biết sơ qua đại ý. Lúc chết, tụng 4 câu kệ trong
kinh Kim cương rồi tuyệt. Bài minh rằng:
Phù
đồ thị chiêm
Già
lam thị y
Như
nhữ túc tâm
Duy
Phật chi quy
浮
屠 是 瞻
伽
藍 是 依
如
汝 宿 心
唯
佛 之 歸
(Hướng
về đức Phật. Nương về cửa chùa. Theo tâm nguyện đó.
Nay Phật đón đi).
Ông
làm bài thơ truy điệu, và tự viết lời dẫn:
"Thiệu
thánh nguyên tiêu (1094), tháng 11, làm bài thơ đùa Triêu Vân.
Năm Thiệu thánh thứ 3, tháng 7, ngày 5, Triêu Vân mất vì bịnh
ở Huệ Châu, táng phía đông nam trong rừng thông chùa Thê
hiền, kề tháp Đại thánh. Tôi làm bài Minh khắc lên mộ
nàng; nay làm bài thơ học vận bài trước.
"Ban
đầu, Triêu Vân không biết chữ. Lớn tuổi, bỗng học viết;
viết hơi có ngay ngắn. Lại thường theo bà tì khưu ni Nghĩa
Xung ở Tứ thượng học Phật pháp, cũng có biết sơ qua đại
nghĩa. Lúc chết, tụng 4 câu kệ trong kinh Kim cương rồi tuyệt"
Bài
thơ:
Miên
nhi bất tú khởi kỳ thiên
Bất
sử Đồng Ô dữ ngã huyền
Chú
cảnh hận vô thiên tuế dược
Tặng
hành duy hữu Tiểu thừa thiền
Thương
tâm nhất niệm thường tiền trái
Đàn
chỉ tam sinh đoạn hậu chuyên
Qui
ngọa trúc căn vô viễn cận
Dạ
đăng cần lễ tháp trung niên
苗而不秀豈其天
不使童烏與我玄
景恨無千歲藥駐
贈行唯有小乘禪
傷心一念償前債
彈指三生斷後緣
歸臥竹根無遠近
夜燈勤禮塔中仙
Nàng
như đám mạ đã xanh chưa kịp trổ đòng đòng. Đó là mệnh
trời ư? Miêu nhi bất tú, hữu hỉ phù? Tú nhi bất thật,
hữu hỉ phù: mạ đã xanh chưa kịp trổ đòng đòng, có điều
đó sao? Lúa đã trổ đòng đòng nhưng lại chưa kịp kết
hạt, có vậy sao? Đó là những lời Đức Không Tử khóc Nha
Hồi, một người đệ tử tài hoa nhưng yểu mệnh.
Hoặc
giả, sao nàng không như cậu Đồng Ô, chồi non chưa kịp trổ
thành mạ xanh? Dục nhi bất miêu giả ngô gia chi Đồng Ô hồ?
Cửu linh nhi dữ ngã huyền văn hồ?
Triêu
Vân mất tháng 7. Tháng 10 năm đó, hoa mai nở rộ nơi đất
Huệ châu, ông làm bài từ theo điệu Tây giang nguyệt , như
âm thầm hoài vọng Triêu Vân. Nàng tiên nữ từ cõi Bồng
lai đến.
Bài
từ đó vịnh hoa mai như sau:
Tây
giang nguyệt
Ngọc
cốt na sầu chương vụ
Băng
cơ tự hữu tiên phong
Hải
tiên thời khiển thám phương tòng
Đảo
quải lục y yêu phượng
Tố
diện thường hiềm phấn uyển
Tẩy
trang bất thốn tàn hồng
Cao
tình dĩ trục hiểu vân không
Bất
dữ lê hoa đồng mộng
西江月
玉骨那愁瘴霧
冰肌自有仙風
海仙時遣芳叢
倒掛綠依幺鳳
素面常嫌粉
洗妝不褪殘紅
高情已逐曉雲空
不與梨花同夢
Trong
đó có cả hoa và chim. Hoa mai và chim lục y yêu phượng; loại
chim mỏ đỏ, lông xanh, mỗi khi đậu thì treo ngược trên
cành. Chúng là sứ giả của thần tiên trên đảo Bồng lai,
ngoài khơi Đông hải.
Huệ
châu ở mãi vùng cực nam Trung hoa; đất Lĩnh nam nhiều chướng
khi. Hơi núi và sa mù nườm nượp trong những tháng lạnh.
Mùa đó, từ tháng 10, hoa mai đã nở. Nhưng cốt cách của
mai là tuyết ngọc nên không ngại ngùng sa mù và chướng khí
ở đó; và da trắng như bằng giá, hoa mai đã sẵn cái phong
vận thần tiên. Là hoa mai, và cũng có thể là Triêu Vân, cái
đó chưa cần vội vã. Thơ không ngụ ý, người đọc thơ
khỏi cần đi tìm ngụ ý của thơ.
Hoa
mai đất Lĩnh nam nở nụ màu hồng. Nụ hồng và lá xanh, có
giống như những con lục y yêu phượng? Hoa và chim, có thể
là một, có thể là hai; tùy cảm hứng của người đọc.
Nhưng
bấy giờ là mùa mà các thần tiên ngoài hải đảo sai sứ
giả đi tìm các cụm cây non trong đất liền; cho nên trên
cành thấy treo ngược những con lục y yêu phượng:
Ngọc
cốt na sầu chương vụ
Băng
cơ tự hữu tiên phong
Hải
tiên thời khiển thám phương tòng
Đảo
quải lục y yêu phượng
Cả
bốn câu của bài từ tuyệt không một lời nào để ngụ
một ẩn tình nào đó. Cái đó tạm thời hãy cứ cho nằm
đó. Bây giờ nên đọc chơi những bài thơ vịnh hoa mai của
ông. ba bài thơ làm dưới đình Tùng phong, mùa mai nở rộ,
đề ngày 26 tháng 11 năm giáp tuất, ông 59 tuổi. trước Triêu
Vân mất ba năm.
Bài
thứ nhất.
Xuân
phong lĩnh thượng Hoài nam thôn
Tích
niên mai hoa tằng đoạn hồn
Khởi
tri lưu lạc phục tương kiến
Man
phong Đản vũ sầu hoàng hôn
Trường
điều bán lạc lệ chi phố
Ngọa
thọ độc tú quang lang viên
Khởi
duy u quang lưu dạ sắc
Trực
khủng lãnh diễm bài đông ôn
Tùng
phong đình hạ kinh cức lý
Lưỡng
chu ngọc nhụy minh triêu thôn
Hải
nam tiên vân kiều đọa thế
Nguyệt
hạ cảo y lai khấu môn
Tửu
tỉnh mộng giác khởi nhiễu thọ
Diệu
ý hữu tại chung vô ngôn
Tiên
sinh độc ẩm vật thán tức
Hạnh
hữu lạc nguyệt khuy thanh tôn
春風嶺上懷南村
昔年梅花曾斷魂
豈知流落復相見
蠻風雨愁黃黃昏
長條半落荔枝浦
臥樹獨
秀光榔園
豈惟幽光留夜色
直恐冷豔排冬溫
松風亭下荊棘裏
兩株玉蕊明朝暾
海南仙雲嬌墮砌
月下縞衣來扣門
酒醒夢覺起繞樹
妙意有在終無言
先生獨飲勿嘆息
幸有落月窺清樽
Thôn
Hoài nam gió ngàn bạt đỉnh
Từng
năm xưa hồn rụng mai vàng
Rồi
lưu lạc ai ngờ là ước hẹn
Gió
Mường mưa Mọi phủ chiều hoang
Phố
lệ chi cành dài nghiêng đổ nửa
Vườn
quang lang cây tú lệ nằm không
Còn
ngại lắm bởi màu đêm ủ rũ
Và
lạnh lùng xua chút ấm tàn đông
Đình
Tùng phong với rừng gai dưới đó
Hai
nàng mai ngà ngọc đón hừng đông
Tiên
mấy Hải nam yêu kiều xuống độ
Choàng
áo the gõ cửa dưới màn trăng
Rượu
tỉnh mơ tàn vòng cây tản bộ
Ý
tình tuyệt diệu lời ẩn toàn không
Tiên
sinh độ ẩm đừng than thở
Một
mảnh trăng rơi đáy rượu nồng
Bài
thứ hai
La
phù sơn hạ mai hoa thôn
Ngọc
tuyết vi cốt băng vi hồn
Phân
phân sơ nghi nguyệt quải thọ
Cạnh
cạnh độc dữ Sâm hoàng hôn
Tiên
sinh sách cư giang hải thượng
Tiễu
như bịnh hạc thê hoang viên
Thiên
hương quốc diễm khẳng tương cố
Tri
ngã tửu thục thi thanh ôn
Bồng
lai cung trung hoa điểu sứ
Lục
y đảo quải phù tang thôn
Bảo
tòng khuy ngã phương túy ngọa
Cố
khiển trác mộc tiên xao môn
Ma
cô quá quân cấp sái tảo
Điểu
năng ca vũ hoa năng ngôn
Tửu
tỉnh nhân tán sơn tịch tịch
Duy
hữu lạc nguyệt khuy không tôn
羅浮山下梅花村
玉雪為骨冰為魂
紛紛初疑月掛樹
耿
耿 獨 與 參 黃 昏
先
生 索 居 江 海 上
悄
如 病 鶴 栖 荒 園
千
香 國 豔 肯 相 顧
蓬
萊 宮 中 花 鳥 使
綠
衣 倒 掛 扶 桑 暾
抱
叢 窺 我 方 醉 臥
故
遣 啄 木 先 敲 門
麻
姑 過 君 及 洒 掃
鳥
能 歌 舞 花 能 言
酒
醒 人 散 山 寂 寂
惟
有 落 月 窺 空 樽
Dưới
núi La phù mai hoa thôn
Tuyết
ngọc là xương băng là hồn
Phơi
phới ngỡ chừng trăng gác ngọn
Trơ
vơ như sao Hôm hoàng hôn
Tiên
sinh lênh đênh đời sông biển
Rầu
như hạc ốm đậu vườn hoang
Hương
trời sắc nước không buồn ngó
Biết
ta rượu mùi thơ ấm trong
Trong
cung Bồng lai hoa chim làm sứ
Áo
xanh treo ngược cây dâu hừng đông
Ôm
cây liếc ta đang say nằm đó
Mổ
cây gõ cửa nhắn đợi sẵn sàng
Tiên
bà qua đây hãy lo quét tước
Chim
hay ca múa hoa biết nói năng
Rượu
tỉnh người tan non vắng vẻ
Hững
hờ nhị rụng đáy ly không
Bài
ba, không trích ở đây.
Trong
các bài thơ đó, hoa mai khi lộ liễu, khi e dè; khi bát ngát,
khi đìu hiu. Kỳ thực, ở đây là cả một cuộc đời, xa
và rộng; một trời thơ mở rộng vô ngần. Nhưng hoa mai đã
lên nguồn cảm hứng; vì cốt cách tuyết ngọc, vì phong vận
thần tiên. Gương mai không cần tô điểm phấn son; cánh rã
mà nụ hồng còn thắm. Tình nơi hoa mai bốc lên cao vút tận
trời, đẹp như những đám mây trong nắng sớm:
Tố
diện thường hiềm phấn uyển
Tẩy
trang bất thốn tàn hồng
Cao
tình dĩ trục hiểu vân không
Bất
dữ lê hoa đồng mộng
Tình
hoa mai tráng lệ và huy hoàng là như thế. Mà chân tình một
thuở của Triêu Vân cũng là như thế. Tình không là cõi mộng;
không là những cánh hoa lê nườm nượp như mây trời trong
mộng. Cuộc tình chưa rã, thì cuộc tình như giấc mộng đăm
chiêu. Khi cuộc tình bỏ đi, mộng sẽ bốc thành mây trời
trong nắng sớm. Tình và mộng; đến và đi như chưa từng
có. Duyên và nợ; có như chưa từng đến và đi. Nợ ân tình
trong một thuở, đem cái tấm lòng đày đọa truân chuyên ra
để đền bù. Duyên tình mộng của nghìn năm, trong thoáng
chốc, trong một cái búng tay, đã trở thành không không trong
vĩnh cửu:
Thương
tâm nhất niệm thường tiền trái
Đàn
chỉ tam sinh đoạn hậu duyên
Duyên
nàng là duyên của Phật. Nàng đến, để làm thiên nữ tán
hoa, rải hoa trời lên cõi thơ lồng lộng. Trước Triêu Vân
mất một năm, lúc đó ông đã 60 tuổi, làm tặng nàng bài
Từ theo điệu “Nê nhân kiều”:
Bạch
phát thương nhan
Chính
thị Duy Ma cảnh giới
Không
phương trượng tán hoa hà ngại
Chu
thần trợ điểm
Cánh
kế hoàn sinh thái
白
髮 蒼 顏
正
是 維 摩 境 界
空
方 丈 散 花 何 礙
朱
唇 箸 點
更
髻 還 生 彩
Da
mồi tóc trắng, chính là cảnh giới của Duy Ma. Cảnh giới
đó là cõi đối biện thượng thừa; cõi im lặng vô ngôn
bát ngát của cư sĩ Duy Ma Cật. Và cũng là cõi tịch mặc
nhưng tráng lệ của thi ca. Căn nhà của Duy Ma Cật là khoảng
rộng vuông vức một trượng; và là một phương trượng trống
trải, nhưng đã chứa cả ba nghìn tòa sư tử; khách từ ba
nghìn thế giới tụ lại để nghe một lời không nói của
Duy Ma.
Và
thiên nữ tại đó đã rải hoa trời tán thưởng một lời
không nói; cũng tán thưởng luôn những lời có nói. Thiên
nữ đó là Triêu Vân? và cõi của một lời không nói đó
là cõi thơ của ông?
Chu
thần trợ điểm
…..
Một
nụ son, nụ của hoa mai bé bỏng
Kết
trên quấn tóc trở thành diễm lệ…
Tình
nợ và tình thơ, giao nhau trong cõi tình mộng của những lời,
hay của một lời, không nói.
Rồi
tình nợ theo xác người trở về với cát bụi; tình thơ theo
cõi mộng bốc cao:
Cao
tình dĩ trục hiểu vân không.
Nàng
gửi thân cát bụi nghìn đời dưới gốc thông; ban đêm, hồn
sẽ theo ánh đèn lên diện kiến với tiên trong cõi Phật:
Qui
ngọa trúc căn vô viễn cận.
Dạ
đăng cần lễ tháp trung tiên
*
*
*
Nghìn
năm sau, mùa xuân, rồi mùa thu, và một cánh én liệng mùa
xuân ngang qua con nước mùi thu, và
Chi
thượng liễu miên xuy hựu thiểu
Thiên
nha hà xứ vô phương thảo
Bông
liễu cứ triền miên vương vấn như tơ trời, lại bắt đầu
từ một cõi mộng đơn sơ; rồi lân la nay khóm trúc mai chồi
lan, nửa chiều tà nửa nắng quái, lần hồi từ phố chợ
đến đồng quê, từ ân tình đầm ấm của quê hương đến
phương trời đọa đày viễn mộng, để đến một cõi có
hoa trời, có thiên nữ, và “dạ đăng cần lễ tháp trung
tiên” để xin nghe một lời trong tịch mặc vô ngôn. Sơn
cùng lộ tuyệt, thơ của ông ở đây ư? Có thể ở đó, hoặc
ở chỗ
“Chết
từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn”
(Bùi
Giáng)
3.
Thập
niên sinh tử lưỡng mang mang
Bất
tư lương,
Tự
nan vong.
Thiên
lý cô phần
Vô
xứ ngoại thê lương
Túng
sử tương phùng ưng bất thức,
Trần
mãn diện
Mãn
như sương.
Dạ
lai u mộng hốt hoàn hương
Tiểu
hiên song
Chánh
sơ trang.
Tương
cố vô ngôn
Duy
hữu lệ thiên hàng.
Liệu
đắc niên niên trường đoạn xứ,
Minh
nguyệt dạ
Đoản
tùng cương.
十
年 生 死 兩 茫 茫
不
思 量
似
難 忘
千
里 孤 墳
無
處 話 悽 涼
縱
使 相 逢 應 不 識
塵
滿 面
鬢
如 霜
夜
來 幽 夢 忽 還 鄉
小
軒 雙
正
梳 妝
相
顧 無 言
唯
有 淚 千 行
料
得 年 年 腸 斷 處
明
月 夜
短
松 岡
Mười
năm trôi đi, hai ngã sống và chết chia đôi biền biệt.
Dù
không nghĩ tới,
Mà
cũng không sao quên được.
Nấm
mồ đơn chiếc xa xôi,
Lạnh
lẽo nói làm sao cho xiết;
Dù
có gặp nhau rồi cũng chẳng nhận ra nhau:
Gương
mặt đầy cát bụi,
Tóc
mai đã bạt trắng như sương.
Đêm
qua trong giấc mộng triền miên, chợ thấy trở về quê cũ.
Đứng
tựa cánh cửa sổ.
Lúc
đó bà đang gỡ tóc
Nhìn
nhau không nói,
Chỉ
có nước mắt tuôn trào.
Tưởng
chừng năm năm đứt ruột,
Mỗi
lúc đêm trăng sáng,
Trên
đồi thông bóng ngả
Trên
đây là bài Từ làm theo điệu "Giang thành tử". Ông có ghi
chú nhỏ: "Năm ất mão (1074), tháng giêng, ngày 20, ban đêm,
ghi lại giấc mộng" Năm đó ông 40 tuổi, làm quan ở Mật
châu; vợ chánh thất của ông, Vương thị, Thông Nghĩa Quận
quân, mất đã đúng 10 năm:
Thập
niên sinh tử lưỡng mang mang
Bà
đối với ông, tình duyên và tình nợ thì có; mà tình thơ
thì không. Nhưng, bà mất 10 năm, mà tình nhớ nhung của ông
vẫn còn cay đắng. Rồi tình đó phát hiện thành lời thơ,
thì cũng là tình thơ vậy.
Bảy
năm sau đó, khi xuôi dòng Trường giang, dạo chơi Xích bích,
vẫn thấy còn phảng phất một mối ngậm ngùi hoài vọng:
Cố
quốc thần du
Đa
tình ưng tiếu ngã
Tảo
sinh hoa phát
故
國神遊
多情應笑我
早生花髮
Hồn
thả về chơi cố quận
Bạn
tình chung có lẽ cười ta
Chưa
chi đầu đã bạc
Bạn
tình chung, hay khách đa tình nơi cố quận là vong hồn bà Vương
thị.
Nước
Trường giang ào ạt đổ xuống: "Đại giang đông khứ", bài
Từ đó là cả một phong độ kiêu hùng nơi ông
Đại
giang đông khứ
Lãng
đào tận
Thiên
cổ phong lưu nhân vật
........
Loạn
thạch băng vân
Kinh
đào liệt ngạn
Quyển
khởi thiên đôi tuyết
Giang
sơn như họa
Nhất
thời đa thiểu anh hùng
大
江 東 去
浪
濤 盡
千
古 風 流 人 物
...........
亂
石 崩 雲
驚
濤 洌 岸
捲
起 千 堆 雪
江
山 如 畫
一
時 多 少 英 雄
Giữa
cái kiêu hùng đó còn có vấn vương một sợi tơ trời. Thì
đó cũng là một cõi mộng đơn sơ, trong con mắt hùng thị
tất cả anh hùng vạn đại.
4.
Những
tháng cuối năm canh thân (1080), ông ngồi tù trong ngục Ngự
sử. Miệng ông nó đày đọa thân ông. Ngồi tù trên ba tháng,
được thả ra; bị cách chức, cho làm Hoàng châu Đoàn luyện
phó sứ; đời Tống, đó là một chức hờ. Rồi bị an trí,
tức là bị đày, ở Hoàng châu. Vừa đến Hoàng châu, ông
làm bài thơ tự trách:
自
笑 平 生 為 口 忙
老
來 事 業 轉 荒 唐
Tự
tiêu bình sinh vị khẩu mang
Lão
lai sự nghiệp chuyển hoang đường
Bình
sinh vì cái miệng mà mang họa; càng về già, sự nghiệp càng
trở nên hoang đường.
Ông
bị đày ở Hoàng châu từ đầu năm ông vừa 45 tuổi cho đến
hết năm 49 tuổi. Trong 5 năm trời đó, Hoàng châu không khổ
đày đọa như ở Huệ châu và Đam nhĩ (tức Hải nam) sau này.
Nhưng cái cảnh làm ruộng của ông cũng qua nhiều khổ nhọc.
Ông tự bảo, bình sinh đi kiếm ăn bằng cái nghiên mẻ; hận
là đã không học nghề làm ruộng. Cũng trong thời gian đó,
thơ ông lại phiêu bồng bát ngát.
Khi
vừa đến Hoàng châu, ông ngụ cư tại chùa Định huệ trong
một thời gian ngắn, chưa đầy một năm, thì dời sang Lâm
cao đình. Lúc ngụ tại chùa Định huệ, ông có bài thơ vịnh
Hải đường, giữa các thứ hoa rừng dại thô tục. Bài thơ
đó quả tình là một cảm hứng trác việt (đọc ở phần
Những phương trời lữ thứ). Cũng trong thời gian đó, ông
làm bài Từ được trích ở dưới đây, mà người ta đã
bàn bạc phân vân về ngụ ý của ông. Bài Từ làm theo điệu
"Bốc toán tử". Đầu bài Từ, có ghi chú nhỏ của ông: "Làm
khi ngụ cư tại chùa Định huệ ở Hoàng châu". Bài Từ đó
như sau:
Khuyết
nguyệt quải sơ đồng,
Lậu
đoạn nhân sơ tỉnh
Thùy
kiến u nhân độc vãng lai,
Phiêu
diễn cô hồng ảnh
Kinh
khởi khước hồi đầu
Hữu
hận vô nhân tĩnh
Giản
tận hàn chi bất khẳng thê
Tịch
mịch sa châu lãnh
缺
月 掛 疏 桐
漏
斷 人 初 靜
誰
見 幽 人 獨 往 來
飄
渺 孤 鴻 影
驚
起 卻 回 頭
有
恨 無 人 省
簡
盡 寒 枝 不 肯 栖
寂
寞 沙 洲 冷
Trăng
sơ huyền treo trên ngọn ngô đồng thưa lá.
Trời
khuya, người bắt đầu thưa vắng, chỉ nghe tiếng tí tách
của đồng hồ
canh
chừng giờ đêm
Chỉ
thấy ẩn sĩ một mình đi lui đi tới
Thấp
thoáng như bóng chim hồng lẻ loi
Giật
mình quay đầu nhìn lại
Ngậm
ngùi giữa lúc mọi người đang say ngủ
Lần
lựa hết những cành cây trơ trọi, mà không chịu đậu,
Một
mình bơ vơ trên cồn cát.
Dịch
dài dòng luộm thuộm như thế, để tìm thử có ngụ ý hay
thác ý gì không. Bài Từ hoàn toàn vịnh con chim hồng. Cánh
chim hồng lẻ loi, lang bạt. Từ cành này đến cành cây khác,
mà không bao giờ chịu đậu lại. Xưa nay, chim hồng có lúc
nào lại chịu đậu trên cành cây? Nó đứng trơ vơ trên cồn
cát:
Giản
tận hàn chi bất khẳng thê
Tịch
mịch sa châu tĩnh
Nhưng
câu chuyện xung quanh bài Từ đã kể khác.
Tại
Hoàng châu, có người con gái của bà Vương thị. Nàng tên
là Siêu Siêu, cũng khá có nhan sắc, 16 tuổi mà không chịu
lấy chồng. Đông Pha bị biếm trích ra ở Hoàng châu. Biết
tin ông đến, nàng mừng lắm. Ông ngụ tại chùa Định huệ.
Đêm đêm nàng lén đến núp ngoài cửa sổ, bồi hồi nghe
ông ngâm thơ. Ông thường chong đèn đêm, đi qua đi lại ngâm
thơ một mình. Khi ông hay có người rình nghe ngoài cửa sổ,
ông đẩy cửa sổ ra, nàng trèo tường bỏ chạy. Ông đuổi
theo, bảo: Sẽ gọi Vương lang đến làm sui gia.
Thế
thì, lời trong thơ là thác ý cho nàng Siêu Siêu. Nhưng bóng
con chim hồng trong đó vẫn là bóng của ông:
Cánh
hồng bay bổng tuyệt vời
Đã
mòn con mắt phương trời đăm đăm
Đó
thực là cõi phiêu bồng của phương trời viễn mộng. tình
thơ nồng đượm, nhưng tình duyên hay tình nợ thì không không.