Cho
đến lúc này quý vị vẫn còn đang theo dõi hơi thở bằng
con mắt tâm, đang cố gắng kinh nghiệm một cách sống động
hơi hít vào chỉ là hơi hít vào và hơi thở ra chỉ là hơi
thở ra. Từ giờ trở đi, tôi muốn quý vị thực hành Chỉ
quán đả tọa (Shikantaza), tôi sẽ mô tả chi tiết ngay bây
giờ. Không phải tôi cứ thích thay đổi nhanh chóng các bài
tập khác nhau đâu, tôi làm như thế để cống hiến quý vị
mùi vị các phương pháp nhiếp tâm khác nhau. Sau khi các bài
nói nhập môn này kết thúc, quý vị đến trước tôi từng
người một, tôi sẽ chỉ định cho từng vị phương pháp
tu tập thích hợp với bản chất nguyện vọng của mình, cũng
như với mức độ quyết tâm của từng vị, nghĩa là đếm
hoặc theo dõi hơi thở, Chỉ quán đả tọa hoặc một công
án.
Bài
này sẽ bàn về Chỉ quán đả tọa. "Chỉ quán" nghĩa
là "chỉ" hay "duy" trong khi "đaû" là "đánh" và "tọa"
là "ngồi." Như thế Chỉ quán đả tọa là một phương pháp
thực hành, trong đó tâm chỉ tập trung kịch liệt vào việc
ngồi mà thôi. Trong loại tọa thiền này, tâm rất dễ bị
xao lãng vì nó không được các trợ lực như đếm hơi thở
hay công án giúp. Vì thế, sự bình tĩnh đúng đắn của tâm
trở nên quan trọng gấp đôi. Bấy giờ, trong Chỉ quán đả
tọa tâm không được vội vã song đồng thời hãy cắm vững
vàng hay đứng sừng sững như núi Phú Sĩ. Nhưng nó cũng phải
linh mẫn và vươn ra như dây cung trương lên. Như thế Chỉ
quán đả tọa là một trạng thái của tâm thức tập trung
cao độ, song không căng thẳng, không vội vã và chắc chắn
không bao giờ giải đãi. Ấy là tâm của một người đang
đối mặt với cái chết. Chúng ta hãy tưởng tượng mình
đang nhập cuộc song đấu kiếm thuật theo kiểu thường xảy
ra ở Nhật bản ngày xưa. Khi đối mặt với đối thủ, quý
vị không ngừng theo dõi, thủ thế, saün sàng. Nếu lơi lỏng
sự cảnh giác dù chỉ giây phút thôi, quý vị sẽ bị hạ
ngay. Một đám đông tụ tập để xem cuộc đấu. Vì không
mù nên quý vị thấy họ qua khóe mắt của mình, và vì
không
điếc nên quý vị nghe họ nói. Nhưng quý vị không nên để
tâm mình bị các ấn tượng cảm giác ấy quyến rũ dù chỉ
trong phút chốc.
Trạng
thái này không thể duy trì lâu được. Thực tế, quý vị
không nên thực hành Chỉ quán đả tọa hơn nửa giờ mỗi
lần ngồi. Sau ba mươi phút, hãy đứng dậy đi vòng theo lối
kinh hành, rồi bắt đầu ngồi lại. Nếu thực hành chỉ quán
đả tọa đúng cách, chỉ trong nửa giờ thôi quý vị sẽ
toát mồ hôi, ngay cả trong mùa đông trong một căn phòng không
nóng, vì sức nóng do sự tập trung cao độ sinh ra. Khi quý
vị ngồi quá lâu, tâm sẽ mất dần sinh lực, thân sẽ mệt
và các nỗ lực sẽ nhận được phần thưởng ít hơn là
nếu quý vị hạn chế thời gian ngồi trong ba mươi phút.
Trái
với tay kiếm bất tài, một bậc kiếm sư sử dụng thanh kiếm
không chút gắng sức. Nhưng không phải luôn luôn như thế
vì cũng có lúc ông ta phải nỗ lực đến độ chót vì kỹ
thuật chưa toàn hảo để tự cứu sinh mạng mình. Chỉ quán
đả tọa cũng giống như vậy. Lúc mới bắt đầu không tránh
được căng thẳng nhưng với kinh nghiệm tọa thiền chín muồi,
sự căng thẳng này trở nên lơi ra song vẫn ngồi với chú
tâm đầy đủ. Giống như tay kiếm bậc thầy tuốt kiếm vung
lên không chút gắng sức và tiến công một cách giản dị,
Chỉ quán đả tọa cũng thích hợp với cái ngồi không chút
gắng sức, linh mẫn và chú tâm y như vậy. Nhưng đừng tưởng
việc ngồi như thế có thể đạt được dễ dàng, dù chỉ
trong một phút thôi mà không có sự luyện tập lâu và thành
khẩn. Đến đây chấm dứt bài nói về Chỉ quán đả tọa.
NGỤ
NGÔN DIỄN NHÃ ĐẠT ĐA
Trong
nửa cuối bài này tôi sẽ nói về câu chuyện Diễn Nhã Đạt
Đa, lấy từ kinh Lăng Nghiêm. Đây là câu chuyện ngụ ngôn
hay phi thường. Tôi cam đoan rằng nếu quý vị suy nghĩ kỹ,
nó sẽ soi sáng nhiều điểm còn u tối trong Phật giáo.
Người
ta bảo rằng chuyện này xảy ra vào thời đức Phật. Chuyện
có thật hay chỉ là truyền thuyết, tôi không thể nói được.
Dẫu sao, Diễn Nhã Đạt Đa vẫn là một cô gái đẹp không
thích gì hơn là ngắm mình trong gương mỗi sáng. Một hôm,
khi soi gương, nàng thấy mình không có đầu. Tại sao vào buổi
sáng đặc biệt này nàng lại không có đầu, kinh không nói.
Dù sao, nỗi kích động lớn đến nỗi nàng hóa điên, chạy
quanh hỏi xem ai đã lấy mất đầu mình: "Ai lấy đầu tôi?
Đầu tôi đâu rồi? Nếu không có đầu, tôi chết mất!" Rồi
nàng khóc, mặc dù mọi người bảo nàng rằng: "Đừng có
ngốc, đầu cô trên cổ cô đấy, chứ có mất bao giờ đâu!"
Nhưng nàng không tin: "Không, không đúng! Không, không đúng,
phải có người nào đó đã lấy mất đầu tôi!" Nàng kêu
lên, tiếp tục tìm kiếm điên cuồng. Cuối cùng, các bạn
nàng, tin nàng điên, lôi nàng về nhà và buộc nàng vào cột
đề phòng nàng tự làm hại mình.
Có
thể so sánh sự trói buộc này với việc tọa thiền. Với
sự bất động của thân, tâm sẽ đạt được một độ yên
tĩnh nào đó. Và trong khi vẫn còn rối loạn, tâm của Diễn
Nhã Đạt Đa cứ tin rằng mình không có đầu, thì lúc bấy
giờ thân tránh được sự tiêu tán năng lượng.
Các
bạn thân của nàng từ từ thuyết phục rằng nàng luôn luôn
có đầu, và dần dần nàng tin được một nửa. Tiềm thức
của nàng bắt đầu chấp nhận rằng có lẽ mình nghĩ lầm
là mình bị mất đầu.
Có
thể so sánh việc Diễn Nhã Đạt Đa chấp nhận lời tái khẳng
định của các bạn nàng với việc nghe Lão sư thuyết pháp.
Lúc đầu, những lời thuyết pháp khó hiểu nhưng lắng nghe
nhiều thì từng lời sẽ chìm vào
tiềm
thức, rồi quý vị sẽ đi đến chỗ bắt đầu nghĩ: "Điều
ấy có thực đúng vậy không? ... Tôi ngờ ... Vâng, nó phải
thế."
Bỗng
một người trong các bạn nàng
cốc
vào đầu nàng một cái thật mạnh, vì đau và kích động,
nàng kêu: "Ui cha!" - "Đó, đầu mi đó!" bạn nàng bảo và tức
khắc Diễn Nhã Đạt Đa thấy mình đã lầm khi nghĩ rằng
mình bị mất đầu, mà thực tế thì lúc nào mình cũng có
đầu.
Cũng
thế, cái cốc trong tọa thiền cũng có giá trị tối đa như
vậy. Đương nhiên là phải đúng lúc - nếu sớm quá sẽ không
có hiệu quả - về mặt vật lý được cây kích trượng (Kyosaku)
hoặc lời nói của một bậc thầy có kiến thức làm cho giật
nẩy mình có thể đưa đến chứng ngộ tự tánh. Không phải
chỉ cây kích trượng có giá trị thúc đẩy quý vị tiến
tới mà ngay khi quý vị đã đạt đến một giai đoạn quyết
định trong tọa thiền thì một cái đánh thật mạnh cũng
có thể đẩy tâm quý vị vào nhận thức Chân tánh - nói cách
khác, giác ngộ.
Khi
sự kiện này xảy ra với Diễn Nhã Đạt Đa, nàng quá phấn
khởi đến nỗi phải chạy nhanh kêu lên: "Ôi, tôi có đầu
rồi! Cuối cùng tôi đã có đầu rồi, sung sướng quá!"
Đây
là sự khoái lạc của kiến tánh. Nếu kinh nghiệm là chân
thực, thì quý vị sẽ không ngủ được vài ba đêm vì vui.
Song nó lại là một trạng thái nửa tỉnh nửa điên. Quá
vui vì tìm lại được cái đầu mà quý vị đã có ngay từ
đầu, ít nhất cũng có thể nói là kỳ quặc. Vui vì sự khám
phá ra bản tánh của mình, cái mà quý vị không bao giờ không
có, cũng kỳ quặc không kém. Trạng thái xuất thần tuy đủ
chân thực, nhưng tâm thái quý vị không thể gọi là tự nhiên
cho đến khi nào quý vị hoàn toàn loại bỏ được ý niệm
"Tôi đã trở nên giác ngộ." Hãy chú ý thật kỹ điểm này,
vì nó thường bị hiểu lầm.
Khi
niềm vui lắng xuống, Diễn Nhã Đạt Đa thoát được trạng
thái nửa điên. Đối với ngộ cũng thế. Khi trạng thái đê
mê hoan hỷ dịu xuống, kéo theo các ý niệm về chứng ngộ,
quý vị sẽ ổn định trong một cuộc sống thật tự nhiên
và không có gì là kỳ quặc cả. Song cho đến khi nào đạt
đến điều này, quý vị không thể sống hài hòa với chung
quanh hoặc tiếp tục tu dưỡng tinh thần thực sự được.
Bây
giờ tôi sẽ đặc biệt nêu rõ hơn phần đầu câu chuyện.
Vì đa số người ta thờ ơ với giác ngộ, họ không biết
sự khả hữu của một kinh nghiệm như thế. Họ giống như
Diễn Nhã Đạt Đa khi nàng không biết mình có đầu như thế.
Dĩ nhiên, cái "đầu" này tương ứng với Phật tánh, với
sự toàn hảo bên trong của chúng ta. Dẫu rằng mình có Phật
tánh, đối với đa số con người chưa bao giờ biết chuyện
ấy cho đến khi họ chợt nghe nói: "Tất cả chúng sanh xưa
nay đều có Phật tánh." Bỗng nhiên họ kêu lên: "Thế thì
tôi cũng có tánh Phật ư, nhưng nó ở đâu vậy?" Cũng giống
như Diễn Nhã Đạt Đa lúc đầu bị mất đầu và bắt đầu
chạy trốn, họ bắt đầu tìm kiếm Chân tánh của mình.
Họ
bắt đầu bằng cách lắng nghe nhiều bài thuyết pháp, mà
chúng có vẻ trái nghịch và rối mù. Họ nghe nói rằng bản
tánh của họ không khác với bản tánh của Phật, hơn nữa
bản thể của vũ trụ cùng hiện hữu với tánh Phật của
họ, song vì tâm họ bị mê hoặc che mờ nên họ thấy mình
chạm trán với một thế giới của những thực thể riêng
rẽ. Một khi tạo được niềm tin vững chắc vào thực tính
của tánh Phật, họ được thúc giục khám phá nó với toàn
bộ sức lực của con người họ. Giống như Diễn Nhã Đạt
Đa chưa bao giờ không có đầu, chúng ta cũng chưa bao giờ
tách rời khỏi tánh Phật của mình dù chúng ta ngộ hay không.
Nhưng chúng ta không biết điều ấy. Chúng ta giống như Diễn
Nhã Đạt Đa khi nàng được các bạn bảo rằng: "Đừng phi
lý, cô luôn luôn có đầu, nghĩ khác là lầm đấy!"
Có
thể so sánh sự khám phá ra Chân tánh của chúng ta với sự
khám phá ra đầu của Diễn Nhã Đạt Đa. Nhưng chúng ta khám
phá được cái gì? Chỉ là cái mà chúng ta không bao giờ không
có nó. Song chúng ta rất hân hoan, y như Diễn Nhã Đạt Đa
tìm ra được đầu. Khi trạng thái xuất thần lui đi, chúng
ta nhận ra rằng mình không có được cái gì phi thường cả,
chắc chắn không có gì đặc biệt hết. Bấy giờ chỉ có
mọi vật hoàn toàn tự nhiên.
NHÂN
VÀ QUẢ LÀ MỘT
Quý
vị không hy vọng gì hiểu được
bản
chất cao quý của Thiền mà không hiểu bài nói về nhân quả
nhất như (Inga Ichinyo) này, nghĩa là nhân và quả là một.
Thành ngữ này phát xuất từ Bài Ca Tọa Thiền của
Thiền sư Bạch Ẩn (Hakuin). Hãy nhớ rằng bài nói này không
giải thích về nhân và quả theo nghĩa rộng mà chỉ nói đến
khía cạnh liên quan đến thực hành tọa thiền.
Nói
một cách nghiêm túc, quý vị không nên nghĩ về thời gian
tọa thiền. Nói chung thực ra nếu quý vị tọa thiền một
năm, sẽ có kết quả tương ứng với một năm nỗ lực và
nếu tọa thiền mười năm sẽ có kết quả tương ứng với
mười năm nỗ lực. Song các kết quả của tọa thiền có
quan hệ đến ngộ không thể đo lường được bằng thời
gian thực hành ... Thực tế, có một số người đạt ngộ
sâu chỉ sau vài năm thực hành, trong khi có những người thực
hành đến mười năm vẫn không có chứng ngộ gì cả.
Ngay
từ khi khởi đầu thực hành, một người tiến lên những
giai đoạn khác nhau rõ rệt có thể xem như những bậc thang
nhân quả. Nhân quả có nghĩa là nguyên nhân và kết quả ám
chỉ cả về mức độ lẫn sự khác biệt, trong khi nhất như
có nghĩa là như nhau hay giống nhau, như là một. Như thế,
trong khi có nhiều giai đoạn tương ứng với thời gian thực
hành ở mỗi giai đoạn trong các giai đoạn khác nhau này, bản
thể của tâm giống như bản thể của một vị Phật. Do đó,
chúng ta nói về nhân và quả là một. Tuy nhiên, cho đến khi
ngộ, quý vị không mong gì có được sự hiểu biết sâu hơn
về nhân quả.
Bây
giờ chúng ta hãy liên hệ điều này với ngụ ngôn Diễn Nhã
Đạt Đa tôi đã nói hôm trước. Thời gian nàng không thấy
đầu phản chiếu trong gương và chạy quanh tìm kiếm như điên
- đây là bậc đầu tiên hay thấp nhất. Khi các bạn nàng
buộc nàng vào cột và quả quyết rằng nàng có đầu, khi
nàng bắt đầu nghĩ: "Có thể như thế," khi họ cốc mạnh
vào đầu nàng và nàng kêu "Ui cha!" và nhận ra rốt cuộc nàng
có đầu, khi nàng vui sướng vì thấy có nó, cuối cùng khi
niềm vui hạ xuống và sự có đầu này cảm thấy tự nhiên
đến nỗi không còn nghĩ đến có nó nữa - tất cả những
lúc ấy là những bậc hay những mức tiến hóa khác nhau -
ấy là khi quay nhìn lại. Ở mỗi một giai đoạn này, nàng
chưa bao giờ không có đầu, dĩ nhiên nàng chỉ nhận ra điều
ấy sau khi đã tìm thấy nó.
Cũng
thế, sau khi ngộ chúng ta nhận
ra
rằng ngay từ đầu mình chưa bao giờ không có tánh Phật.
Và cũng như vậy, Diễn Nhã Đạt Đa cũng cần đi qua tất
cả các giai đoạn ấy để nhận ra sự thật rằng lúc nào
nàng cũng có đầu, chúng ta cũng phải vượt qua các giai đoạn
tọa thiền kế tiếp nhau để trực nhận ra Chân tánh của
mình. Các bước kế tiếp nhau này có quan hệ với nhau về
mặt nguyên nhân, nhưng sự thật chúng ta vốn là Phật, trong
chuyện ngụ ngôn đó là việc Diễn Nhã Đạt Đa nhận ra rằng
nàng vốn luôn luôn có đầu - đây là cái như nhau, là cái
không khác.
Trong
Chánh Pháp Nhãn Tạng, Thiền sư Đạo Nguyên cũng nói:
"Sự tọa thiền dù là của người mới tu, cũng thể hiện
toàn thể bản tánh của mình." Ở đây Đạo Nguyên muốn nói
rằng tọa thiền chân chính là thể hiện Phật tâm, cái Tâm
tất cả chúng ta đã được phú cho. Tọa thiền này là Tối
thượng thừa, trong đó Đạo của Phật tràn ngập toàn bộ
con người quý vị và nhập vào toàn thể cuộc sống quý vị.
Mặc dù ban đầu chúng ta chưa biết trọn vẹn điều ấy,
nhưng khi sự tu tập tiến bộ, chúng ta sẽ dần dần đạt
được hiểu biết và nội kiến, và cuối cùng với ngộ,
chúng ta biết rằng tọa thiền là thể hiện tánh Phật thanh
tịnh vốn có của mình, dù chúng ta có ngộ hay không.
BA
YẾU TỐ TU THIỀN
Những
gì tôi sắp nói đặc biệt áp dụng cho Thiền Đại thừa,
nhất là trực chỉ đến ngộ, nhưng nó cũng bao hàm cả Tối
Thượng thừa mặc dù ở mức độ ít hơn.
Yếu
tố đầu tiên trong ba yếu tố tu Thiền là Đại Tín Căn
(Daishinkan) tức lòng tin mãnh liệt. Nó còn hơn là một niềm
tin. Chữ "căn" có nghĩa là "rễ" và "tín" là "tin." Do đó,
đại tín căn ám chỉ một niềm tin cắm rễ vững chắc, sâu
xa, không lay chuyển được, giống như cái cây khổng lồ hay
tảng đá kếch sù. Hơn nữa, nó còn là một niềm tin không
hoen ố như tin vào năng lực siêu nhiên hay mê tín. Phật giáo
thường được miêu tả như là một tôn giáo của trí tuệ.
Nhưng nó là một tôn giáo và cái gì tạo nó thành tôn giáo,
thì đó là yếu tố niềm tin, thiếu niềm tin thì nó chỉ
là một triết lý. Phật giáo bắt đầu với sự giác ngộ
của đức Phật, điều mà Ngài đã đạt được sau khi nỗ
lực kịch liệt. Vì thế, niềm tin tối thượng của chúng
ta là sự chứng ngộ của Phật, bản chất của sự chứng
ngộ ấy Ngài đã tuyên bố là bản tánh của con người, của
toàn bộ cuộc tồn sinh, nó vốn toàn hảo, không tỳ vết,
vô biên - nói tóm là hoàn toàn. Không có niềm tin không lay
chuyển vào điều ấy - trái tim của lời Phật dạy - thì
không thể tiến xa trong tu tập được.
Phẩm
chất cần thiết thứ hai là Đại Nghi Đoàn (Daigidan)
tức một tình cảm nghi ngờ mãnh liệt. Quý vị nên nhớ,
nó không phải là cái "nghi" đơn giản mà là một "mối nghi"
- và đương nhiên nó phát xuất từ lòng tin mãnh liệt. Nó
là cái nghi tại sao chúng ta và thế giới có vẻ quá bất
toàn, quá đầy xao xuyến, xung đột và đau khổ, khi thực
tế lòng tin sâu xa bảo chúng ta rằng chính cái nghịch lại
mới đúng. Nó là cái nghi không đem lại cho chúng ta sự an
ổn. Mặc dù chính chúng ta hoàn toàn biết rõ mình là triệu
phú song lại thấy mình thiếu thốn một cách khốc liệt,
không thể giải thích được vì không một xu dính túi. Vì
thế, cái nghi mãnh liệt hiện hữu tương ứng với lòng tin
mãnh liệt.
Tôi
có thể minh họa tâm thái này bằng một thí dụ đơn giản.
Hãy lấy một người đang ngồi hút thuốc và bỗng thấy rằng
cái ống điếu trong tay mình một phút trước đây mà giờ
đã biến mất. Người ấy bắt đầu tìm kiếm với sự hoàn
toàn chắc chắn có thể tìm được.
Chỉ
một phút trước đây nó còn đó, không ai ở gần cả, nó
không thể biến mất được. Càng không tìm được chừng
nào, người ấy càng săn đuổi với sức lực và quyết tâm
nhiều chừng ấy.
Từ
tình cảm nghi ngờ này, yếu tố thứ ba, Đại Phấn Chí
(Daifunshi) tức quyết tâm mãnh liệt, xuất hiện một cách
tự nhiên. Nó là quyết tâm tràn ngập cố đánh tan khối nghi
này bằng toàn bộ sức mạnh
ý
chí và năng lực chúng ta. Tin bằng mọi lỗ chân lông trên
con người mình vào chân giáo lý của Phật rằng chúng ta đều
được phú cho cái tâm Phật tinh khiết, chúng ta quyết khám
phá và kinh nghiệm thực thể tâm này của mình.
Hôm
kia có người hoàn toàn hiểu lầm tâm thái mà ba yếu tố
này đòi hỏi, đã hỏi tôi: "Tin rằng chúng ta là Phật thì
có gì khác hơn chấp nhận thế giới này toàn hảo, liễu
thì xanh và cẩm chướng thì đỏ." Cái lầm ở đây tự nó
hiển nhiên. Nếu chúng ta không hỏi tại sao có tham lam và
xung đột, tại sao người thường lại hành động giống Phật,
thì trong chúng ta không có quyết tâm nào xuất hiện để giải
quyết sự mâu thuẫn hiển nhiên giữa những gì chúng ta tin
như là vấn đề của lòng tin và những gì xuất hiện trước
mắt thì đúng chỉ là sự thể trái ngược, và như thế sự
tọa thiền của chúng ta bị tước mất nguồn năng lực tiên
khởi.
Bây
giờ, tôi sẽ liên hệ ba yếu tố này với Thiền Đại thừa
và Tối thượng thừa. Trong khi cả ba đều có mặt trong Đại
Thừa khối nghi này là động cơ chính đưa đến ngộ vì nó
không cho phép chúng ta yên ổn. Như thế chúng ta kinh nghiệm
ngộ và giải quyết khối nghi này nhanh hơn với Thiền Đại
thừa.
Mặt
khác, trong Tối thượng thừa, yếu tố tin mạnh nhất. Không
có khối nghi thuộc loại nền tảng như tôi đã nói tấn công
chúng ta, và như thế chúng ta không bị thúc đẩy loại bỏ
nó, vì chúng ta ngồi trong niềm tin không lay chuyển rằng chúng
ta vốn là Phật. Không giống như Thiền Đại thừa, Thiền
Tối thượng thừa mà quý vị nhớ là kiểu tọa thiền thuần
khiết nhất, không dính dáng gì đến nỗ lực đầy xao xuyến
vì ngộ. Nó là kiểu tọa thiền trong đó sự chín muồi xảy
ra một cách tự nhiên, lên đến cực điểm trong giác ngộ.
Đồng thời, Tối thượng thừa là hình thức tọa thiền khó
nhất, đòi hỏi sự ngồi cương quyết nhất và thành khẩn
nhất.
Tuy
nhiên, cả ba yếu tố đều cần thiết trong cả hai kiểu tọa
thiền và các Sư ngày xưa đã nói rằng chừng nào cả ba còn
đồng thời có mặt thì chừng ấy đạt chân ngộ còn dễ
hơn bước lầm chân.
NGUYỆN
VỌNG
Ngay
cả khi tất cả chúng ta cùng tọa thiền, nguyện vọng từng
cá nhân cũng không đồng nhất. Các nguyện vọng ấy tự quyết
định thành bốn nhóm hay bốn hạng chính.
Hạng
đầu tiên và cạn nhất không dính dáng gì đến niềm tin
vào Phật giáo Thiền, cũng như ngay cả một hiểu biết bất
chợt về nó. Một người chỉ chợt nghe nói về nó và nhất
định rằng mình thích ngồi với một nhóm tọa thiền hay
một khóa nhiếp tâm. Song trong hàng ngàn người mê mờ (hoàn
toàn không biết gì về Phật giáo, một cá nhân riêng rẽ
sẽ được dẫn đến dòng giáo lý đã được 2.500 năm nguyên
vẹn, theo quan điểm Phật giáo, không phải là việc ngẫu
nhiên mà là một nghiệp duyên và do đó có ý nghĩa rộng lớn
về mặt tinh thần.
Hạng
nguyện vọng thứ hai là hạng không đi sâu quá ước vọng
tọa thiền chỉ để cải thiện sức khỏe thể xác hoặc
tinh thần hoặc cả hai. Hạng này, quý vị nhớ lại, rơi vào
loại đầu của năm loại Thiền, tức là Thiền phàm phu.
Ở
hạng thứ ba, chúng ta thấy những người không những không
còn thỏa mãn với việc gia tăng an lạc thể xác và tinh thần
mà còn muốn đặt chân lên con đường của Phật. Họ thấy
vũ trụ quan Phật giáo cao diệu làm sao, nó nhìn cuộc tồn
sinh không bị giới hạn trong một kiếp nhân sinh mà nhìn suốt
cuộc sống hết kiếp này đến kiếp khác nối tiếp nhau không
dứt, với cái vòng định mệnh mà con người chỉ kết liễu
được khi thành Phật. Hơn nữa, họ đã thiết lập được
lòng tin vào thực thể của kinh nghiệm ngộ và quyết tâm
đạt ngộ vẫn chưa được đánh thức nhưng khát vọng theo
đuổi con đường của Phật thì đã rõ ràng và chân thực.
Hạng
thứ tư bao gồm những người quyết tâm thể hiện Chân Ngã
của mình. Họ biết kinh nghiệm này là một thực thể sống
động, vì họ đã gặp những người đã có kinh nghiệm ấy,
và họ tin quyết rằng họ cũng có thể đạt được. Khi họ
đến trước thầy mình, họ đến với cõi lòng mở rộng
và khiêm tốn, sẳn sàng theo bất cứ phương pháp nào thầy
chỉ định, biết chắc rằng làm như thế họ có thể thực
hiện được mục tiêu của mình trong thời gian ngắn nhất.
Bây
giờ tôi sẽ tóm tắt nhanh bốn hạng nguyện vọng này: Những
người không có lòng tin nơi Thiền, đến với Thiền qua nghiệp
duyên may mắn; những người thực hành tọa thiền chỉ vì
ước vọng trợ giúp sức khỏe, thể xác hoặc tinh thần,
hoặc cả hai; những người thực hành Thiền vì tin vào bản
chất cao diệu của giáo lý Phật giáo và những người có
quyết tâm mãnh liệt trở thành ngộ.
Từ
giờ trở đi, quý vị sẽ đến trước mặt tôi từng người
một và tôi sẽ hỏi quý vị thấy nguyện vọng của mình
thuộc nhóm nào, nghĩa là quý vị rơi vào hạng nào trong bốn
hạng ấy. Hãy nói các cảm nghĩ của mình một cách chân thật.
Đừng vì tự kiêu mà thêm thắt vào, cũng đừng vì khiêm
tốn giả tạo mà rút giảm bớt đi. Tùy thuộc vào những
gì quý vị nói, tôi sẽ chỉ định cho quý vị phương pháp
tọa thiền nào thích hợp nhất cho từng vị.
Không
có phương pháp thực hành nào cố định áp dụng cho mọi
người. Nói chung, một người tự đặt mình vào hạng thứ
nhất sẽ được chỉ định cho phương pháp đếm hơi thở,
một người thuộc hạng thứ hai sẽ theo dõi hơi thở, một
người ở phạm trù thứ ba thì Chỉ quán đả tọa, thuộc
hạng thứ tư thì một công án, thường là công án KHÔNG.
Có
những học viên đến trước tôi từng cá nhân lần đầu
tiên, họ đưa ra những câu trả lời hoàn toàn có tính cách
tò mò. Vài người nói: "Tôi nghĩ tôi thuộc vào giữa hạng
thứ nhất và hạng thứ nhì." Vài người khác bảo: "Tôi có
cái dạ dày xấu kinh niên, thế thầy có vui lòng chỉ cho tôi
loại tọa thiền nào giúp tôi trong tình trạng này không?"
Hoặc đôi khi có người nói: "Tôi hơi điên điên, loại tọa
thiền nào giúp được tình trạng ấy?"
Tùy
thuộc vào loại người và sức mạnh của quyết tâm, tôi
sẽ chỉ định cái mà tôi tin là phương pháp thực hành thích
hợp với người ấy. Với một cá nhân lãnh đạm thì thường
được thúc giục bằng kích trượng là thích đáng, trong khi
một người hơi nóng tính hay nhạy cảm có thể tọa thiền
tốt hơn nếu không có kích trượng. Chỉ khi nào quý vị thành
thực đánh giá đúng mức cảm nghĩ của mình thì tôi mới
có thể chọn cho quý vị phương pháp thực hành hiệu quả
nhất.
"Ba
Trụ Thiền"
Đỗ
Đình Đồng dịch.