TỨ
NIỆM XỨ
(Bài
giảng hôm rằm tháng 10 (10 Novembre 1935)
tại
hội Phật học chùa Từ Quang, Huế)
Nam
mô A Di Đà Phật
Năm
trước giảng về Đạo đế đã nói có 37 phép trợ bồ đề
phần là:
o
Tứ niệm xứ
o
Tứ chánh cần
o
Tứ như ý túc
o
Ngũ căn
o
Ngũ lực
o
Thất giác chi
o
Bát chánh đạo
Trong
kỳ ấy giảng về Bát chánh đạo mà thôi. Song, bát chánh
đạo là lối tu hành của những bậc đã kiến đạo, cốt
yếu nơi chữ “chánh”. Đối với người sơ cơ, nếu không
biết chỗ chơn chánh là gì thì sao cho khỏi cái hại lấy
giả làm chơn, lấy tà làm chánh. Vì vậy nên cần phải giảng
về những phương tiện ban đầu để cho những ai muốn tu
theo Thanh văn thừa, theo từng bực mà tu lần lên, tu cho đặng
“Thất giác chi” rồi thì mới có thể tu hành “Bát chánh
đạo”.
37
phép trợ bồ đề phần không thể giảng đủ trong một kỳ,
vậy kỳ hôm nay tôi xin giảng riêng về “Tứ niệm xứ”.
Toàn
thể pháp giới vẫn là như như bình đẳng, không tự, không
tha, không năng, không sở. Lẽ ra không có chi đáng gọi là
tâm niệm, chỉ vì chúng ta mê lầm không rõ bản tánh mà lại
phân biệt nào tâm nào cảnh, nào ngã nào nhơn. Nên chi thường
thường khi niệm chấp có ngã, chấp có pháp, chấp cái thân
này là mình, nhận hoàn cảnh là khác với mình, rồi nương
theo thân mà có già đau sống chết, nương theo cảnh mà có
ưa ghét buồn sợ, luân hồi đời đời kiếp kiếp trong ba
cõi.
Tâm
niệm lầm lạc đã làm cho chúng ta mê, chúng ta muốn hết
mê phải làm thế nào?
Thưa
các ngài, người đạp gai thường thấy gai mà lể, vậy chúng
ta nên lấy cái tâm niệm không lầm lạc để dứt trừ cái
tâm niệm lầm lạc, đến khi tâm niệm không lầm lạc nữa
là ngộ.
Tâm
niệm không lầm lạc là chi? Tức là “Tứ niệm xứ”.
Tứ
niệm xứ là phép tối tiên của người tu hành, là bước
ban đầu trên đường giải thoát, dù Tiểu thừa hay Đại
thừa cũng đều phải trải qua bước đường này cả.
Thân
bất tịnh
Thọ
thị khổ
Tâm
vô thường
Pháp
vô ngã
I.
Thân bất tịnh là gì?
Bất
tịnh nghĩa là không sạch, là dơ nhớp. Thân bất tịnh nghĩa
là cái thân này không chút gì tinh sạch cả.
Người
thế gian ai cũng giữ gìn cái thân, quý báu cái thân, dầu
làm việc gì cũng là vì cái thân mà làm, cho đến vì cái
thân mà hao tiền tốn của, mang tiếng chịu lời cũng không
kể, miễn cho cái thân đặng sống.
Thế
gian quý hóa cái thân như vậy, nay nghe Phật nói “thân bất
tịnh” thì sao cho khỏi nghi hoặc mà cho là quá đáng.
Song,
xét cho cùng thì cái thân này nhờ phụ tinh mẫu huyết mà
thành, phụ tinh mẫu huyết là vật dơ nhớp, vậy cái thân
này đã do những vật dơ nhớp tạo thành, thì làm sao mà tinh
sạch cho được. Lúc mới đầu thai, trạng thái nhỏ nhen như
bộ trùng, lần lần sinh năm sinh bảy, lớn bằng hột đậu
cho đến lớn bằng miếng thịt, đầy những máu me rất dơ
nhớp.
Về
sau, nhờ sức duy trì của nghiệp thức, lần tượng ra hình
người nằm trong bọc nước, cái bọc nước đầy những mồ
hôi nước tiểu. Cái thân nằm trong đó đủ chín tháng mười
ngày rồi mới ra khỏi bụng mẹ theo con đường rất dơ nhớp,
đầy những máu me, rồi nằm trên vũng máu hả miệng oe oe
ba tiếng chào đời, thật không chút gì là tinh sạch cả.
Đã sanh ra rồi, khi nhỏ nhờ bú sữa, lúc lớn nhờ ăn uống
mà càng ngày càng lớn. Nhưng lạ thiệt, như trong Trí độ
luận đã nói: “Bản thị mỹ vị, nhơn chi sở thị, túc
tích chi gian, biến thành bất tịnh”. Nghĩa là “Ban đầu
là của ngon vật lạ, ai nấy đều thích, mà ăn vào cách chừng
một đêm đã biến thành đồ dơ nhớp”. Cái thân này rõ
là một bộ máy để làm ra đồ dơ nhớp. Mà dơ nhớp thiệt.
Sớm mai ngủ dậy chưa súc miệng thì trong miệng đã hôi thúi,
bốn năm ngày không tắm rửa thì áo quần đã tẩm mồ hôi,
đen điu rít rắm. Lại còn nước mũi, ráy tai, lắm chuyện
dơ nhớp nữa. Đó là nói về bề ngoài. Về bề trong lại
còn dễ sợ hơn. Chẳng nói chi máu me xương thịt, chỉ trong
một bộ lòng đã đầy những đồ hôi thúi, chẳng khác gì
một thùng phẩn vậy.
Đó
là nói khi lành mạnh. Chớ khi đau ốm lại dễ sợ hơn nữa:
nào đờm, nào mũi, thúi tha tanh hôi, xiết bao là dơ nhớp.
Dơ nhớp như vậy năm sáu chục năm đã đầu bạc mặt nhăn,
lưng còm răng rụng, không còn sức sửa soạn bề ngoài, nên
càng dơ nhớp hơn nữa. Đến khi chết, nghiệp thức không
còn duy trì để thay lớp mới đổi lớp cũ, thì da thịt rã
rời đụng đâu rệu đấy, nếu không chôn cất thì không
ai chịu nổi cái mùi hôi thúi ấy được.
Vậy
thì biết cái thân này rõ là bất tịnh.
Người
đời không biết cái thân bất tịnh mà yêu quý cái thân,
cưng dưỡng cái thân. Nếu cái thân ưa gì thì ưa, cái thân
ghét gì thì ghét, đến nỗi làm nô lệ cho cái thân, gây nghiệp
chịu báo đời đời kiếp kiếp mà không tự hối. Vì cái
thân mà tham, sân, si. Vì cái thân mà sát, đạo, dâm. Vì cái
thân mà vọng ngôn ỷ ngữ, ác khẩu lưỡng thiệt. Trăm ngàn
vạn điều dữ cũng đều do cưng dưỡng cái thân này mà tạo
thành cả.
Vậy
người tu hành cần phải quán sát cho rõ cái thân là bất
tịnh, thì mới tránh được những nghiệp dữ và tâm mình
mới được vài phần tự chủ.
II.
Thọ thị khổ là gì?
Thọ
là lãnh thọ. Thọ thị khổ nghĩa là có lãnh thọ thì có
khổ. Người ta sanh ra ở đời, từ nhỏ đến lớn không lãnh
thọ điều này thì lãnh thọ điều khác. Vậy nói “Thọ
thị khổ” cũng không khác chi nói rằng “đời người là
khổ”.
Hiện
trong thế giới này, người người đương đua nhau về vật
chất văn minh, nào quyền lợi, nào danh vọng, nào lầu đài
kiểu mới, nào xe điện tàu bay, bàng the lụa là, đàn ca xướng
hát v.v..., những phô diễn hằng ngày biết bao là êm tai vui
mắt, thế mà tôi lại nói “đời người là khổ” chẳng
là quá đáng lắm sao? Thưa không, xin các ngài hãy bình tâm
mà suy nghiệm từ khi đầu thai cho đến khi chết trải biết
bao là sự cay đắng khổ não. Khi ở trong thai khác gì ở trong
ngục, có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe. Bà mẹ
đã có ốm có nhọc thì đã đau đớn khó chịu, tay chọi
chân đạp, muốn ra cho khỏi, nhưng chết thì chịu chết, làm
sao mà ra đặng. Đến khi mới đẻ, ở trong thai đã quen, bỗng
chốc ra ngoài, cảm xúc với cái hoàn cảnh chưa từng quen
chịu nên sanh ra đau khổ. Mấy tiếng u oa khi mới lọt lòng
là tiêu biểu của sự đau đớn khi mới đẻ. Từ đấy dần
đi, kể biết bao những cảnh bất bình như muốn tắm mà mẹ
cứ cho bú, muốn bú mà mẹ cứ bắt tắm; khi muốn ngủ mà
mẹ cứ bắt chơi, khi muốn chơi mẹ lại cứ bắt ngủ; muốn
nói thì chưa biết nói, mà lắm lúc khóc đã hết hơi cũng
chẳng ai biết làm cho vừa ý muốn.
Thế
rồi lần lần khôn lớn, biết đi học lại phải lo làm, làm
để nuôi sống.
Lại
khi lạnh khi nóng, khi đói khi khát là khổ. Cái gì ưa hết
sức cầu mà không được là khổ, ân tình cách biệt là khổ,
oán cừu gặp gỡ là khổ, những thói quen mê lầm muốn bỏ
mà bỏ không nổi là khổ. Nhưng đó chỉ là cái khổ vừa
vừa, đến như mấy cái khổ sau này mới thiệt là khổ: Những
cái khổ khi đau, khi già, khi chết.
Ở
đời không chi khổ bằng đau ốm. Cái khổ trong khi đau. Tôi
tưởng ai cũng đã kinh nghiệm đến. Mà đau nào phải một
chứng đâu, nào là thương hàn, sốt rét, nào là thổ tả,
ho lao v.v... Già đau trẻ cũng đau, lớn đau nhỏ cũng đau,
trăm ngàn vạn chứng đau kể sao cho xiết. Cái đau trùm khắp
cả bầu trời mấy ai tránh khỏi.
Người
mạnh khỏe gặp phải cơn đau mà trở thành yếu ớt, nhà
đương giàu gặp phải cơn đau mà trở thành cực khổ. Vì
đau mà học hành thua kém. Vì đau mà công danh lỡ làng. Chưa
nói đến khi bị tật nguyền, nào đui nào điếc, nào què
nào bại, nó đã làm cho lắm người hữu dụng trở thành
vô dụng. Kịp đến khi già lại càng dễ đau hơn nữa. Tóc
bạc răng rụng, lưng mỏi gối dùn, tai lẫn mắt lòa, tinh
thần lẫn lộn, ăn không ngon, nằm không ngủ, trời trở thì
trở theo trời, khổ sở kể sao cho xiết.
Nhưng
khổ như vậy nào phải sống đời được đâu, chừng trong
khoảng 100 năm là phải chết. Người đời ai chẳng muốn
sống, khi thấy cái chết đến nơi không có sức chống lại
thì khổ sở biết là ngần nào.
Cái
khổ trong khi chết còn nhiều, khó bề kể xiết. Mà cái khổ
sau khi chết cũng không phải là hết đâu. Chúng ta hãy còn
muốn sống, thì chết rồi lại sanh ra thân khác, rồi lại
phải chịu đủ các sự khổ như khi trước.
Tôi
nói như vậy chắc các ngài cho là bi quan và nghĩ rằng trong
đời cũng lắm trò vui, chưa chắc toàn là khổ hết. Tôi cũng
tạm nhận có cái vui như vậy, nhưng tôi thiết tưởng cái
vui ấy chỉ làm nhân cho cái khổ, chỉ là cái vui trong cảnh
khổ đó thôi. Xét những cái vui của phần đông người ở
đời thì không ngoài danh lợi và ngũ dục. Song danh lợi thì
tôi thấy lắm người vì muốn có lợi có danh mà lo ngày lo
đêm, ăn không ngon, nằm không ngủ. Rủi không được thăng
thưởng hoặc bị lỗ lả thì rực đầu rực óc, khổ sở
không phải là ít.
Về
ngũ dục thì không ngoài sắc đẹp tiếng hay, mùi ngon vị
lạ, cờ bạc rượu chè mà thôi. Nhưng rượu trà thì khổ
về say sưa, cờ bạc thì khổ về mất ăn mất ngủ, thiếu
trước thiếu sau, vị lạ tiếng hay phải mất công tìm kiếm.
Còn vui về tình ái là khi gặp gỡ thì vui, khi xa nhau lại
nhớ thương buồn rầu. Lại còn lắm đôi trai gái vì sự
trắc trở, muốn trọn chữ tình mà đành phải ném mình vào
hang sâu vực thẳm, khổ sở kể sao cho xiết.
Cái
vui ở đời không được mấy mà cái khổ đã đeo theo một
bên, thiệt chẳng khác chi một bọn tù tội, khi ra đường
cũng đùa cũng bỡn, khi rảnh việc cũng rủ nhau đánh lú đánh
bài. Tuy trong khi ấy cũng vui cũng sướng, cũng reo cũng cười,
nhưng rốt cuộc cái thân tù tội vẫn khổ lại hoàn khổ.
Xét
kỹ thì những sự vui ở đời thường sanh ra ba điều khổ
là khổ khổ, hành khổ và hoại khổ.
Khổ
khổ là vì khổ mà khổ, như vì nhàm chán mà khổ, vì sanh
say sưa, nghèo cực, đau ốm mà khổ.
Hoại
khổ là vì hết đi mà khổ, ví như đương ưa xem hát bỗng
hết giờ phải về là khổ.
Hành
khổ là vì vô thường thay đổi mà khổ, ví như một đồ
xưa quý báu bị bể đi mà sanh ra khổ.
Cuộc
đời khổ như vậy nên trong kinh Niết bàn Phật có dạy: “Tam
giới giai vô thường, chư hữu vô hữu lạc”. Nghĩa là tam
giới đều vô thường, trong các cõi không có cõi nào là vui
cả. Phật thấy chúng sanh chìm đắm trong bể khổ rất đáng
thương xót nên chỉ dạy cho chúng sanh biết cái nguyên nhân
của sự khổ.
Nguyên
nhân của sự khổ là chi? Chính là cái lãnh thọ vậy. Vì
chúng ta lãnh thọ cái thân này là thân của chúng ta, lãnh
thọ cái này là đáng ưa là thuận cảnh, cái kia là đáng
ghét là nghịch cảnh, nên mới hóa ra có khổ.
Ngày
xưa có một thầy Bà la môn thấy học trò mình theo Phật,
sanh lòng tức giận, muốn đem lý luận mà biện bác thì biện
bác không nổi nên trổ ngọn thô bỉ đến mắng nhiếc Phật
giữa chúng hội. Thầy Bà la môn mắng nhiếc đã lâu, thấy
Phật vẫn vui vẻ yên lành không đáp lại một tiếng, thì
càng tức giận hỏi Phật rằng: “Tôi mắng nhiếc ông đã
lâu sao ông không nói lại?”.
Phật
lại hỏi: “Khi ông tặng người ta một vật gì, người ta
không nhận lãnh thì vật ấy về ai?”.
Thầy
Bà la môn đáp: “Về tôi chớ về ai”.
Phật
liền bảo rằng: “Hèn lâu ông mắng nhiếc, nhưng tôi không
lãnh thọ thì cái mắng nhiếc đó trở về phần ông, can chi
tôi mà phải đáp lại”.
Thầy
Bà la môn nghe nói liền giác ngộ, cúi đầu kính lạy và xin
quy y theo Phật.
Vậy
là biết cái không lãnh thọ là quý hóa dường nào. Nếu chúng
ta tập cái tánh không lãnh thọ, thì sắc đẹp tiếng hay,
mùi ngon vị ngọt, danh vọng quyền lợi không thể lay động
chúng ta được. Đối với cảnh, tâm vẫn bình thường không
thấy cái đáng ưa cũng không thấy cái đáng ghét, không thấy
cái đáng mừng cũng không thấy cái đáng buồn, không có cái
gì đáng gọi là vui, không có cái gì đáng gọi là khổ, thì
mới chắc vui riêng theo đạo lý ra ngoài tất cả các món
cảm xúc.
III.
Tâm vô thường
Tâm
vô thường nghĩa là cái tướng của tự tâm chúng ta là vô
thường thay đổi. Tướng của tự tâm là chi? Chính là cái
phân biệt rõ biết vậy. Người đời không biết thể chơn
như, nhận cái phân biệt rõ biết là cái ta, rồi lầm nhận
cái ta đó là thường còn không thay không đổi, như những
ngoại đạo chấp có thần ngã hay có linh hồn thường trụ.
Thần
ngã là lối chấp của Sổ Luận Sư. Họ chấp rằng cái thần
ngã của chúng ta tự tại trong sạch vì phân biệt hiện ra
cả vũ trụ, rồi nương theo vũ trụ sanh lòng ưa muốn nên
bỏ mất tánh tự tại trong sạch. Vậy muốn cho thần ngã
được giải thoát thì phải dứt cả các món phân biệt, dứt
cho hết sạch không thấy không nghe, không hay không biết nữa
thì thần ngã mới được tự tại trong sạch như trước và
mới nhận biết rằng vì mình mới sanh ra có vũ trụ.
Họ
cho như vậy là rốt ráo mà không biết đó chỉ là ma cảnh
trong hành ấm.
Còn
linh hồn là lối chấp của phần nhiều Thần giáo hiện thời,
họ cho rằng duy cái xác thịt chết, chớ cái linh hồn không
chết. Cái linh hồn kia cũng biết mình là ai, cũng thấy cũng
nghe như xác thịt, duy có một điều là cái hình chất của
linh hồn con mắt thịt không thấy được mà thôi.
Vì
muốn đối trị những vọng chấp như kia, nên Phật phải
dạy lý tâm vô thường, để cho chúng sanh chứng biết cái
tâm không phải là một vật chết đứng, vô dụng. Nó là
pháp vô thường có thể thay đổi đủ vành đủ cách, tùy
chỗ tu tập của mình mà tấn hóa.
Kinh
Niết bàn có câu: “Tâm nhược thường giả tắc bất ưng
ngôn; ngã vật tha vật nhược sanh nhược tử. Tâm nhược
thường giả, tuy hữu sở tác bất ưng tăng trưởng. Thiện
nam tử, dĩ thị nghĩa cố, đương tri tâm tánh các các sai
biệt, hữu biệt dị cố, đương tri vô thường”. Nghĩa là
nếu tâm là thường thì không thể nói vật của mình hay vật
của người là sống hay là chết. Nếu tâm là thường thì
tuy có tu hành cũng không tăng trưởng được. Thiện nam tử,
vì những nghĩa ấy nên biết, tâm tánh mỗi mỗi đều sai
khác; đã có sai khác thì biết vô thường. Mà thật vậy,
nếu cái tâm là thường thì không thể nói có chết có sống.
Nếu tâm là thường, thì người dốt cứ dốt, người vụng
cứ vụng, người dữ cứ dữ, lúc sinh ra thế nào về sau
cũng thế ấy, không thay đổi được. Nếu tâm là thường
thì không có nhân quả, tu cũng chừng ấy, không tu cũng chừng
ấy, dữ cũng chừng ấy mà lành cũng chừng ấy, cho đến
người có học, người không học cũng như nhau, người có
kinh nghiệm, người không kinh nghiệm cũng như nhau, thiệt không
nghĩa lý gì cả.
Hiện
nay chúng ta thì không phải thế. Cái tâm của chúng ta khi nhỏ
khác, khi lớn khác, khi có học khác, khi chưa học khác, khi
vui khi buồn , khi thương khi ghét, khi chuyên niệm về một
chỗ, khi tán loạn bởi trần duyên, không có chi đáng gọi
là thường cả.
Chúng
sanh không biết cái tâm là vô thường nên lầm nhận thiệt
có cái ta, rồi nương theo đó mà sanh ra biết bao nhiêu là
vọng tưởng. Tất cả phiền não từ tham, sân, si cho đến
hãm, cuốn, kiêu, hại, cũng đều do ngã chấp tạo thành cả.
Lại cũng vì chấp tâm là thường nên chi chi cũng cho là bản
tánh của mình. Tánh tôi hay nóng giận, tánh tôi hay tham lam,
tánh tôi ưa đờn ca xướng hát, tánh tôi ưa cờ bạc rượu
chè mà không chịu nâng cao tâm trí theo con đường chân chánh.
Vậy
chúng ta hằng ngày thường phải quán xét xái tâm là vô thường,
đổi cái tâm mê lầm ra cái tâm giác ngộ đặng phá trừ
ngã chấp và ra khỏi luân hồi sanh tử.
IV.
Pháp vô ngã
Pháp
theo tiếng Phạn là Dharma, nghĩa là Quỷ trì, tức là nhiệm
trì tự tánh, quỷ sanh vật giải. Ví như cây mai, nó nắm
giữ tự tánh cây mai, không phải cây đào cây lý, nên gọi
là Nhiệm trì tự tánh. Nó lại có tánh cách của nó, cây
thế nào, lá thế nào, bông thế nào, đủ làm khuôn phép để
cho ai thấy có thể nhận biết là cây mai, thì gọi là Quỷ
sanh vật giải. Cái gì có Nhiệm trì tự tánh, Quỷ sanh vật
giải thì gọi là pháp. Nghĩa chữ pháp rộng lớn mênh mông,
chẳng những các vật hữu hình, cho đến các vật vô hình,
các tâm vương, tâm sở, các pháp thế gian, các pháp xuất
thế gian cũng đều gọi là pháp cả.
Cu
xá luận chia các pháp ra 75 món là:
Sắc
pháp 11
Tâm
pháp 1
Tâm
sở pháp 46
Bất
tương ưng hạnh pháp 14
Vô
vi pháp 3
Sắc
pháp, Tâm pháp, Tâm sở pháp có chỗ đã nói rõ rồi, tuy Đại
thừa với Tiểu thừa có khác nhau một ít, nhưng cũng có nhiều
chỗ đồng nhau lắm.
Bất
tương ưng hạnh pháp là những hạnh không tương ưng với
tâm do phận vị đối đãi của Tâm pháp và Sắc pháp giả
dối thi thiết, tuy không thể nói là Tâm pháp, Sắc pháp, nhưng
cũng không ngoài Tâm pháp và Sắc pháp được.
Bất
tương ưng hạnh pháp nói lược thì có 14 món, nói rộng ra
thì có 24 món, là:
Đắc
Vô
tưởng định
Diệt
tưởng định
Vô
tưởng thiên
Mạng
căn
Chúng
đồng phận
Sanh
Lão
Trụ
Vô
thường
Danh
thân
Cú
luận
Văn
thân
Dị
sanh tánh
Lưu
chuyển
Định
dị
Tương
ưng
Thứ
đệ
Thế
tộc
Thời
Phương
Số
Hòa
hiệp
Bất
hòa hiệp
Các
pháp khác về loài ấy cũng đều thuộc về Bất tương ưng
hạnh pháp cả.
Nói
về Vô vi pháp thì đối với Tiểu thừa duy có ba món, là
1.
Hư không vô vi
2.
Phi trạch diệt vô vi
3.
Trạch diệt vô vi
Do
đối trị cái chấp có ngoại sắc mà lập Hư không vô vi.
Do đối trị cái chấp thật có sanh diệt mà lập Phi trạch
diệt vô vi. Do đối trị các pháp hữu lậu mà lập Trạch
diệt vô vi. Trong 75 pháp ấy đã gồm đủ tất cả các pháp.
Còn
ngã nghĩa là chủ tể, là riêng có tự tướng của mình ra
ngoài tất cả các pháp khác. Trong thế gian thường chấp tất
cả các pháp đều có tự tướng. Đối với thân tâm mình,
chấp có tự tướng đã đành, mà đối với người khác,
vật khác cũng đều chấp rằng thiệt có tự tướng. Thế
giới có tự tướng của thế giới, quốc gia có tự tướng
của quốc gia, xã hội có tự tướng của xã hội, đoàn thể
có tự tướng của đoàn thể, nên đeo đuổi theo hoàn cảnh,
buộc chặt theo hoàn cảnh mà không khi nào giải thoát ra được.
Đã
chấp có tự tướng của mình, tất nhiên có tự tướng của
người khác. Đối với tự tướng của một vật, hễ về
mình thì không về kẻ khác, mà về kẻ khác thì không về
mình, nên hai bên thường xông xé nhau, xung đột nhau, bên nào
cũng muốn cho cái tự tướng của mình được phần hơn cả.
Thế
rồi bên nào được thì sanh ra kiêu căng e sợ, bên nào mất
thì sanh ra oán hận lo buồn, lửa phiền não càng thêm, nghiệp
oan gia càng nặng, lần lần bành trướng ra cả đoàn thể,
cả quốc gia, cả xã hội, mặc dầu xương chất như núi,
máu chảy thành sông mà nào có biết cái nguyên nhân của những
điều kia là vì chấp có tự tướng.
Song,
xét cho kỹ thì các pháp nào phải thiệt có tự tướng đâu,
nói về lục trần thì sắc đối với không, động đối với
tịnh, hữu vị, hữu xúc, hữu hương đối với vô vị, vô
xúc, vô huơng, sanh đối với diệt, nào có cái gì riêng một
mình thiệt có tự tướng.
Trần
đối với căn mà có hình tướng, căn đối với trần mà
có tác dụng, ngoài trần thì không có căn, ngoài căn thì không
có trần, vậy thì biết tất cả sắc pháp dầu căn dầu trần
đều không có tự tướng cả. Còn nói về tâm pháp, tâm sở
pháp, thì tâm là năng tri, ngoài sở tri ra, năng tri lấy gì
làm tự tướng. Lại vui đối với buồn, lành đối với dữ,
giận đối với thương, ưa đối với ghét v.v..., các tâm
sở riêng một mình cũng không lấy gì làm tự tướng.
Còn
nói về Bất tương ưng hạnh pháp thì xét cho kỹ ngoài sắc
pháp, tâm pháp ra, còn cái gì đáng gọi là Bất tương ưng
hạnh pháp. Do trong chỗ nối nhau không xen hở, thấy có nơi
sai khác mà gọi là đắc, do ly các tưởng tượng mà gọi
là vô tưởng, do diệt các tâm pháp có gián đoạn và một
phần tâm pháp tương tục mà gọi là diệt tận định, do
sanh vào một cõi đã diệt hiện hạnh của các tâm sở cố
gián đoạn mà gọi là Vô tưởng thiên, do nghiệp trước thành
thục mà dẫn đến thọ sanh ở một chỗ nào gọi là mạng
căn, do các loài hữu tình có tánh giống nhau mà gọi là chúng
đồng phận, do cái mê lầm vô thỉ làm cho luân hồi kiếp
này kiếp khác mà gọi là dị sanh tánh, do nhân duyên hòa hiệp
pháp khởi mà gọi là sanh, do trước sau thay đổi khác nhau
mà gọi là lão, do tiếp tục không gián đoạn mà gọi là
trụ, do gián đoạn hư nát mà gọi là vô thường, do giả
dối kiến lập những tên để kêu gọi các pháp mà gọi là
danh thân, do nhóm góp các danh, phô bày ý nghĩa mà gọi là
cú thân, do muốn phát hiện danh thân, cú thân nơi sắc trần,
phải giả dối đặt ra chữ gọi là văn thân, do nhân quả
nối nhau không dứt mà gọi là lưu chuyển, do cái này đối
với cái khác không đồng nhau mà gọi là định dị, do cân
xứng với nhau mà gọi là tương ưng, do các món lưu chuyển
có kíp có chầy mà gọi là thế tốc, do tương đối lưu chuyển
lớp này đến lớp khác mà gọi là thứ đệ, trong các thứ
đệ lập ra có trước có sau mà có thời, do các sắc pháp
đối đãi với nhau chia ra từng ngằn mà có phương, do đối
với một pháp, nói tóm các pháp đồng loại mà lập ra có
số, do nhân duyên tụ hội mà lập ra hòa hiệp, do nhân duyên
chia rẽ mà lập ra bất hòa hiệp.
Các
Bất tương ưng hạnh pháp như vậy đều là giả pháp nên
không có tự tướng.
Còn
các pháp vô vi là đối với các pháp hữu vi mà có, ngoài
các pháp hữu vi ra, không còn gì đáng gọi là vô vi, nên các
pháp vô vi riêng một mình cũng không có tự tướng.
Trong
kinh Lăng nghiêm Phật có dạy: “Nhân duyên hòa hiệp, hư vọng
hữu sanh, nhơn duyên biệt ly, hư vọng danh diệt”. Nghĩa là
nhân duyên nhóm hiệp thì giả dối có sanh ra, các nhân duyên
chia rẽ thì giả dối gọi rằng chết. Vậy thì biết tất
cả các pháp đều nhân duyên với nhau mà in tuồng là có chứ
không có tự tướng. Không có tự tướng tức vô ngã.
Ví
như trong giấc chiêm bao, vì nhân duyên chiêm bao hiện ra thân
này cảnh khác, đương khi ấy người chiêm bao cũng lầm nhận
là thiệt có; đến khi tỉnh dậy mới biết nó chỉ là cảnh
giới giả dối trong chiêm bao. Chúng ta cũng vậy, vì mê lầm
không nhận được chỗ chân thật, nên trong khi tâm duyên với
cảnh, cảnh duyên với tâm, hiện ra vạn pháp giữa vũ trụ,
chúng ta cũng tưởng là thiệt có đó thôi; Thiệt ra, các pháp
đều không có tự tướng, đều là vô ngã.
Chúng
sanh không biết lý pháp vô ngã nên ngoài bị hoàn cảnh kích
thích, trong bị phiền não lay động, tuy muốn tự tại mà
chưa hề lúc nào được tự tại, muốn an vui mà chưa hề
lúc nào được an vui, muốn thanh tịnh mà thường chan chứa
những phiền não, muốn thường trụ mà vẫn phải trôi lăn
trong vòng sanh tử.
Nếu
chúng sanh chứng được pháp vô ngã rồi thì một thể vô
ngã trùm khắp cả pháp giới, cảnh cũng vô ngã, phiền não
cũng vô ngã, tâm thức cũng vô ngã, còn cái chi đâu nữa mà
làm cho ưa ghét vui buồn, còn ai đâu nữa mà chịu luân hồi
sanh tử.
Pháp
vô ngã là lối tu giải thoát rất rốt ráo. Nếu ai ai cũng
biết tu hạnh vô ngã một đôi phần, thì đâu còn những lối
ích kỷ hại nhân, mà cảnh tượng thế giới hòa bình, về
sau mới có ngày thực hiện.
Trong
ngày hôm nay tôi đã giảng rõ vì sao mà biết rằng thân bất
tịnh, thọ thì khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Sau này
tôi xin giảng riêng về lối tu tập đặng chứng bốn pháp
ấy.
Phật
học cao đẳng học sanh
Thích
Chánh Thống
Nguồn:
Phật Việt