GIỚI
THIỆU 23 BÀI THƠ TIẾNG VIỆT
Như
đã thấy, tác phẩm của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
chủ yếu là viết bằng chữ Hán, mà bộ Thủy nguyệt tòng
sao là một thí dụ tiêu biểu. Tuy nhiên, điều này không có
nghĩa thiền sư đã không biết làm thơ và viết văn bằng
tiếng Việt. Về văn, ta có thể thấy qua bài giảng Tứ niệm
xứ đăng trên báo Viên Âm 18 (1935) 26 – 39. Về thơ may mắn
chúng tôi đã tìm được 6 trang tập học sinh do chữ viết
của chính thiền sư ghi lại 23 bài thơ tứ tuyệt.
Những
bài thơ tứ tuyệt này, chắc chắn không phải được dịch
ra từ những nguyên bản Hán văn, như trường hợp một số
các bản dịch thơ chữ Hán khác, mà thiền sư đã thực hiện
trong Thủy nguyệt tòng sao. Bản thân chúng tôi cũng từng được
thiền sư đọc cho nghe một số bài thơ ấy trong những năm
từ 1959 đến 1962, tức thời gian chúng tôi theo thiền sư học
chữ Hán tại chùa Quy Thiện. Cơ hội để nghe đọc những
bài thơ ấy là vào những ngày cuối năm khi chúng tôi đến
thăm và tặng quà Tết cho thiền sư. Trong không khí vui tươi
chuẩn bị đón xuân, thiền sư có vẻ hoan hỷ, nên thường
nói chuyện nhiều và kể cho chúng tôi nghe những kinh nghiệm
sống mà thiền sư đã trải qua. Nhân đó, thiền sư đọc
cho chúng tôi nghe một ít trong số 23 bài thơ tứ tuyệt vừa
nói.
Nội
dung những bài thơ tứ tuyệt này phản ảnh ít nhiều thái
độ của thiền sư đối với hoạt động Phật giáo, mà ta
đã thấy thiền sư bày tỏ trong Thủy nguyệt tòng sao. Chẳng
hạn, vấn đề ứng phó đạo tràng trong Thủy nguyệt tòng
sao đã bị phê phán mạnh mẽ qua bài Lạm xí (số 154), thì
ở đây thiền sư lại lên án một cách khác mạnh mẽ không
kém:
Cửa
Phật vào ra để kiếm ăn
Mang
chuông cắp mõ chạy lăng xăng
Tam
thân Tứ trí đành không biết
Thợ
tụng Thầy tu cũng một thằng
Đọc
những bài thơ loại này, ta phải hiểu bối cảnh xuất hiện
của chúng vào những năm 20 và 30 của thế kỷ XX, khi Phật
giáo Việt Nam chuyển mình để đi vào thời hiện đại. Những
người Phật tử Việt Nam thời ấy cảm thấy bức xúc không
chỉ trước tình trạng trì trệ của đất nước, mà còn
của chính Phật giáo Việt Nam. Do thế, họ đòi hỏi một
sự cách tân Phật giáo mà đối tượng trước tiên cần xử
lý không ai khác hơn là những người sử dụng Phật giáo
như một nghề để kiếm sống, mà ở đây thiền sư Chân
Đạo Chánh Thống gọi là thợ tụng. Ta đã thấy khi
Hội An Nam Phật học ra đời dưới sự lãnh đạo của Bác
sỹ Tâm Minh Lê Đình Thám, một nhiệm vụ tiên quyết được
đề ra cho Hội là kiên quyết xử lý các thợ tụng vừa nói.
Cho nên, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống, với tư cách là
một giảng sư của Hội, tất không thể nào không lên án
các đối tượng thợ tụng ấy.
Chính
nhờ sự lên án mạnh mẽ các đối tượng này, đồng thời
với việc thiết lập các trường đào tạo Phật giáo, mà
Phật giáo Việt Nam đã chuyển mình đi vào hiện đại một
cách thắng lợi, có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp
giữ đạo giữ nước còn vang vọng cho tới hôm nay. Vì thế,
khi đọc những bài thơ trên, ta phải trông vào bối cảnh
thời đại và hiểu được tâm huyết của những người
đang giữ vai trò xoay chuyển thời thế để đưa đất nước
và đạo pháp đi lên. Làm thế, ta mới thấy được ý nghĩa
và vị trí của những bài thơ loại ấy.
Phần
lớn các bài của chùm thơ 23 bài này đều ít nhiều mang âm
hưởng của loại thơ có tính phê phán vừa nêu. Tuy nhiên,
không phải cả chùm thơ đều có âm hưởng như vậy. Mỗi
độ xuân về, lòng người như trút bỏ bớt bao âu lo toan
tính của đời thường, để tự mình hòa nhập và tận hưởng
những vẻ đẹp của hoa tươi quả ngọt, và thấy mình như
sống lại một cuộc sống mới với nhiều sắc màu thiên
nhiên như bài thơ xuân sau:
Xuân
về thử hái một cành mai
Thành
kính đem dâng trước Phật đài
Nhụy
trắng hoa vàng sương vẫn đượm
Hiện
trăm ngàn vạn bóng Như Lai
Chùm
thơ 23 bài này, dù số lượng không bao nhiêu khi so với Thủy
nguyệt tòng sao, nhưng thật đáng để ta trân trọng, vì chúng
giúp ta hiểu thêm con người và tư tưởng thiền sư Chân Đạo
Chánh Thống.
23
BÀI THƠ TỨ TUYỆT
1
Vượt
thành leo núi quá gay go
Để
lại gia tài biết mấy kho
Con
cháu nào ngờ đồ khốn kiếp
Đứa
giành xe nhỏ đứa xe to
2
Công
ơn của Phật nói không rồi
Mà
kẻ tu hành bạc quá vôi
Nợ
chúng còn nhiều đồ khó tưởng
Đài
sen chín phẩm phóc lên ngồi
3
Chơi
leo muốn hỏi bác Văn Thù
Tu
luyện làm sao mới thiệt tu
Biết
cảnh Nhứt chơn không kém Phật
Mắc
vòng Tam giới cực hơn tù
4
Cái
sự tu hành cũng muốn thu
Đi
đâu họ cũng bảo thầy tu
Đã
tu âu hẳn đành tu trót
Cuộc
thế mà chi béo lại bù
5
Phật
la Tổ mắng đã ê chề
Trăm
kiếp ngàn đời vẫn cứ mê
Giở
bộ Tòan thư mà ngó thử
Thái
Hư ngài lại bảo a lê
6
Kiếp
người tính lại có bao lăm
Văn
tự làm chi rút ruột tằm
Nói
ngược nói xuôi trăm vạn ngả
Như
như hai chữ nói không nhằm
7
Đúc
mãi chưa thành một chữ tu
Bao
giờ cho ngộ trí Văn Thù
Vay
đi trả lại còn mang nợ
Ba
cõi còn mang một kiếp tù
8
Nợ
trần hết trả, trả rồi vay
Sáu
đạo vào ra giạn mặt mày
Sắm
sửa hương hoa lên nịnh Phật
Nào
ngờ ông Phật cũng khoanh tay
9
Hôm
qua ông Phật mắng tôi rằng
Chẳng
biết tu hành chỉ biết ăn
Âu
phải liệu hồn chừa láu mép
Kiếp
sau thiên hạ khỏi kêu thằng
10
Cái
nghề làm Phật khó thì thôi
Mắc
nợ quần sanh biết mấy rồi
Mà
khối vô minh còn giữ chặt
Không
thành ông Táo cũng ông Vôi
11
Họ
xuân mình cũng muốn xuân chơi
Ngót
sáu mươi năm xuân chán rồi
Tết
đến vẫn còn xuân bận bịu
Bốn
mùa thay đổi mãi không thôi
12
HỎI
CÁC BÀ VÃI TRONG BAN LÀM BÁNH
Nương
náu cùng nhau chốn cửa Không
Chị
em nào có quản gì công
Lợi
tha phải gắng nghề làm bánh
Bánh
vẽ đừng làm có đặng không
13
VÔ
ĐỀ
Cửa
Phật vào ra để kiếm ăn
Mang
chuông cắp mõ chạy lăng xăng
Tam
thân Tứ trí đành không biết
Thợ
tụng Thầy tu cũng một thằng
14
Trong
chốn thiền môn có một ông
Đến
già còn giữ tánh chơi ngông
Văn
chương đã xé quăng vào giỏ
Giành
lợi còn đem đổ xuống sông
15
Này
ông Di Lặc chướng thì thôi
Suốt
tháng quanh năm mãi cứ ngồi
Hỷ,
Xả, Từ, Bi đầy một bụng
Không
cho tôi với lại cười tôi
16
Xuân
về thử hái một cành mai
Thành
kính đem dâng trước Phật đài
Nhụy
trắng hoa vàng sương vẫn đượm
Hiện
trăm ngàn vạn bóng Như Lai
17
Vừa
rồi chư Phật nhóm cùng nhau
Khiến
đức Quan-âm mua vé tàu
Đến
núi Ngũ hành đều một chuyến
Không
nên kẻ trước với người sau
18
Việt
Nam Phật giáo họ làm chi
Bàn
bạc trong ngày đến bữa ni
Bánh,
chuối, xôi, chè nhờ kẻ khác
Còn
ngành văn hóa có ông Quy
19
A lô,
a lô
Giáo
hội tin cho Phật giáo đồ
Trong
núi Ngũ hành làm Phật sự
Tăng,
Ni, Đạo, Tục kéo nhau vô
20
Cái
ông Sơ Tổ mặt đen sỳ
Đông-độ
tuôn qua chẳng nói gì
Sấp
mặt xây lưng trên núi Thiếu
Cho
ông Nhị Tổ cụt tay đi
21
Đương
ngồi thiền định lúc canh ba
Ma
Phật cùng nhau đến một nhà
Kẻ
nói thế này người thế nọ
Chi
bằng đừng Phật cũng đừng Ma
22
Ông
Phật sao mà chẳng biết suy
Giọn
hàng Hỷ Xả với Từ Bi
Đã
rằng vật ấy tôi không thiếu
Nhập-cảng
mà Ông có lợi chi
23
Mũ
len, tràng thụng cũng như ai
Phê
phẩy cho ra cái giạng Ngài
Sống
mấy trăm năm mà dã-dối
Cột
đồng, giầng sắt khó kêu nài