THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
Tình trạng văn bản
Phân tích nội dung
Mấy nhận xét
.
Lê Mạnh Thát 
TOÀN TẬP CHÂN ĐẠO CHÁNH THỐNG
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam

THỦY  NGUYỆT TÒNG SAO

Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
THỦY NGUYỆT TÒNG SAO

1
Trúc xanh ngàn thu đó
Hoa vàng mới một màu
Tươi khô người vào mộng
Hồn nhọc ta ra vào
Đất nào chẳng Tịnh độ
Thân nào chẳng pháp thân
Bình minh trên muôn cõi
Mưa thấm sạch bụi trần

2
Thử học bước Hàm Đan
May trình thơ họ Đỗ 
Tôi chẳng kẻ bán văn
Sao cần hợp thời đó


Rằng thơ là để thấy chí, văn là nhằm thấu tình. Cho nên, những người ưu thời mẫn thế đều làm thơ sánh với Đỗ Phủ, còn mượn vật để biểu lộ cảm xúc thân phận mình, thì phần lớn đều thuộc về loại Khuất Nguyên. Hoặc nhóm nhau tại một nhà, vui chuyện muốn làm rõ lòng mình ở ngâm vịnh, hoặc bị đày ở đất xa, nhằm nói hết nỗi buồn thì gửi gắm vào thi ca. Cho đến việc trăng khuya hoa sớm là bởi nêu cảm hứng, hoặc những lúc trà dư tửu hậu cũng nhờ thế mà thêm vui. Nói tóm lại, văn chương tuy giới hạn ở hay dở, nhưng việc buồn vui há có thể phân ra xưa nay.

Tôi người Trung Kiên tỉnh Quảng Trị, gia thế theo thiền, mà ông nội cùng với cha đều rất hiểu sâu Nho học. Phép giữ nhà lại rất nghiêm túc. Con cũng như cháu nếu ai có chút bê trễ về lễ giáo liền bị la mắng tới chốn. Chỉ hiềm tôi tuổi nhỏ nhiều bệnh, yếu đến nỗi không mang nổi áo, mẹ tôi lại rất thương yêu. Tuy xách cặp đến trường mà ngày lụn tháng qua, cũng chỉ được năm bảy bữa. Tới mùa đông năm Tân Hợi (1911) lại gặp tang ông nội. Việc ấy kéo dài đến lúc nửa đường thì chấm dứt.

Thêm vào đó, trào lưu mới lúc ấy phát triển rầm rộ, trường Nho hoang vu. Bốn biển một nhà, ngoài chuyện tiền bạc, cùng ghét việc giúp đỡ nhau làm cho tinh hoa bị lụn bại. Cha tôi tuy không tỏ ra ngoài mặt, nhưng trong lòng mang một mối u uất, không thốt ra lời để tự giải được. Một hôm bèn kêu tôi dạy: “Này con ta, con người sống trên đời chẳng qua cũng trải mấy chục năm nóng lạnh, gửi bám như bèo trôi, thật là buồn bã. Một hơi thở không trở lại, thì giống như cát bụi. May mắn là nhà ta năm đời truyền cho nhau, đều lấy Khổng học làm nền móng, lấy Phật pháp làm lâu đài. Bọn các con nếu không kịp sớm nghiên cứu, thì ngày kia e khó thoát khỏi lời trách về xe vàng bạc, về con hạc nước già. Điều đau xót đáng giận là bộ mặt thật của Khổng giáo trước vào đời Tần Hán đã bị che lấp, về sau bị bọn hủ Nho làm cho che lấp thêm với quy mô lớn, rồi đến những ăn nói sai lầm của tư trào thời hiện đại. Ai mà có lòng với đạo này há nỡ ngồi xem. Thêm nữa, lũ học giả lén trộm thuyết tùy thời, thì cũng không thiếu người. Nhớ lại ơn bú mớm, thật thẹn nhiều với loài chim. Song đã bỏ thành ra đi, còn hy vọng vào tiền đồ; chưa thể đi hết nước non, đâu mong thấy hoa sáng liễu tối. Phải dứt khoát trách mình, đâu rảnh mà nhìn đến kẻ khác. Còn đối với Phật giáo, cần phải chọn bỏ những lời vu vơ, nắm lấy diệu chỉ để cho trời nghĩa ngày sáng, biển giác sóng êm, nhằm không phụ lòng tha thiết của cha ông ta”.

Mùa hè năm Giáp Dần (1914), bèn dẫn ta đi xuất gia, đến chùa Kim Quang ở kinh đô Phú Xuân lạy hòa thượng Ngộ Tánh Phước Huệ làm bổn sư, tự nghĩ mình như con chim câu rời tổ đầy sợ hãi, mãi dựa vào bóng ưu đàm. Thế mà chế độ của sơn môn xưa còn tệ hơn cả chính sách hà khắc. Ngoài nuôi heo chăn bò, việc dạy dỗ không nghe nói tới. Cười khóc khi đón tới đưa về đều là tội cả. Sinh hoạt thiền gia thì tối bốn sớm ba. Biển học thấm vào thì như sừng lân lông phụng. Men tường trông ngóng, chỉ tăng thêm nỗi buồn của kẻ cùng tử. Lần lữa mấy năm, luống nuôi giấc mộng Trang Sinh. Từ đó trèo non vượt suối, hỏi bạn tìm thầy, mong nghe lời vàng như mong chuông gỗ. Mùa thu năm Ất Hợi (1935) lại trở về kinh đô dựng mở Phật học đường ở chùa Tây Thiên. Bốn phương đến học ngày càng thêm đông. Ngoài sách Phật ra còn tham khảo thêm cả Nho học, đối với học giả cũng có điều bổ ích.

Ta sinh ngày ba mươi tháng chạp năm Canh Tý (18/2/1901), 15 tuổi xuất gia, 20 tuổi xuống tóc, 22 tuổi thọ giới cụ túc, 28 tuổi du học, 30 tuổi làm giảng viên của Phật học đường. Đến năm Đinh Sửu (1937), thời gian thấm thoát tính đốt tay thì đã 38. Mùa đông năm đó vị hội chủ khai sáng chùa Quy Thiện là Nam tước Đông các đại học sĩ Thái tướng công cùng phu nhân vâng ý chỉ của Khôn Nghi thái hoàng thái hậu mời ta làm tọa chủ của chùa ấy. Vua ban sắc, trao chức Tăng cang, cấp cho lương tháng để lãnh đạo trụ trì và tự trưởng các chùa.v.v...

Vậy mà, ta lâu trải qua sương gió, nếm đủ đắng cay, dù gặp được hơi ấm của mùa xuân mà vẫn không như cây tùng chịu lạnh. Bèn riêng dựng một ngôi nhà cạnh bên trái chùa gọi là Thủy Nguyệt hiên, để tiện việc kê cứu giáo điển trong ngoài. Thế rồi tao nhân mặc khách, khen chí của ta. Những ngày rảnh rỗi, họ mang rượu lên núi chơi, chẳng ngờ cỏ nội hoa non có lúc cũng được người thăm viếng. 

Ôi, nắn le, gọt hạc tự biết chẳng hay, đem kia đỗ đây, đâu dám chê dở. Nhưng ta bình sinh  rất ghét kỹ thuật sao chép, cho nên khi cảm hứng bay cao thì sáo trời tự reo, sai nhịp trái lời cũng chẳng trở ngại gì cho công việc. Huống nữa, ngôn ngữ Trung Quốc âm vận đối với ta không đồng, ý muốn là có lời theo chỗ ta thích, chỉ muốn yêu cầu cái lợi nó thấu được tình ta mà thôi, sao phải khổ rơi vào vòng lưới của người khác mà mãi tự chịu làm kiếp con tò vò ?

Thơ ta cũng như văn, mỗi khi soạn ra mà không hợp lòng, hoặc có điều liên quan tới thời cuộc thì liền bị vứt đi. Những gì đã được sao tập nhưng bị thất lạc lại cũng không phải ít. Hai tập đây sở dĩ chưa nỡ quăng vào lửa nến, chính muốn để xem sự tiến thoái của trình độ ngày sau. Đâu biết rằng sau này khi cầm đọc mà không khiến người muốn nôn ư? Kinh nói: “Không rời văn tự, cũng không là văn tự”. Điều đó thật đáng tin vậy. 
Sau tiết Đoan dương 2 ngày năm Quý Tỵ (1953)
Chủ nhân Thủy Nguyệt hiên là Bích Phong họ Thạch Sơn tự viết tựa.

4
Bạn tôi là Mai Xuyên Trần quân gần đây đem hai tập Thủy Nguyệt am thi văn cho tôi xem và bảo tôi bình duyệt. Tôi với thiền sư tuy chưa phải cùng một bình diện, vả lại trong tập phần nhiều dùng thiền ngữ, tôi bình sanh không tập thiền, nên quá nửa chưa thể liễu giải. Tôi từng cố từ. Nhưng Mai Xuyên ép tôi đến bốn lần, tôi lại phải gắng cầm lấy bút, gọn thêm bình điểm. Trong đó có nhiều câu mới mẻ xuất chúng đẹp đẽ không thể nói hết, đúng là một tay lớn trong giới nhà thơ những ngày gần đây. Tôi trước đây đã từng đọc tập thi văn của Viên Thành thượng nhân. Nay lại được đọc cảo bản này, thấy tác giả có kiến giải siêu quần, học thức sâu rộng thì đúng là một người được chọn trong đám chân trắng của rừng thiền, lại cũng là người được chọn trong đám mày trắng của rừng thơ, mà tôi thỉnh thoảng được cùng với thiền sư kết duyên phương ngoại.

Hễ văn chương phải có thần, giao hữu thì phải có đạo lý. Xưa Uyên Minh (Đào Tiềm, 372-427) đối với Tuệ Viễn, Liễu Châu (Liễu Tông Nguyên, 773-819) đối với Văn Sướng, Xương Lê (Hàn Dũ, 768-824) đối với Đại Điên, Đông Pha (Tô Thức, 1036-1101) đối với thiền sư Phật Ấn. Mối duyên văn tự ngàn xưa truyền làm giai thoại. Ta tuy không dám tự phụ ở vào hàng các bậc quân tử ấy, nhưng đã ở gởi nơi quê này, bốn phía đều là rừng thiền, ánh Phật chiếu khắp, ta đi ở các danh lam cổ sát, sáng chiều đều gặp. 
Ta duyệt xong, cẩn thận ghi thêm mấy lời, nguyện dùng đó để làm một giới thiệu phẩm giữa ta và thiền sư. 
Tiết Trung hòa năm Quý Tỵ
Mặc Si Nguyễn Huy Nhu người Cổ Hoan kính viết ở nhà cỏ Xuân Sơn.

5
I.
Núi xanh những ngỡ kết thi bằng
Phương ngoại như nay được chửa từng
Dưới nguyệt bên đìa nhiều câu đẹp
Lãng tiên nên chẳng thẹn thi tăng
II.
Cười tớ bình sinh chẳng tập thiền
Nhiều thầy học triết hiểu chân truyền
Xương Lê chẳng phải vô tình ấy
Khôn được Triều Châu gặp Đại Điên
III.
Chùa đẹp vây quanh ở bốn bên
Sớm chuông tối trống cạnh tai rền
Đọc sư khắp quyển toàn câu đẹp
Danh sĩ cao tăng ấy kẻ tên
IV.
Cành tùng lá bối bạn người thơ
Thi vị sao sâu đạo vị như
May được bồ đoàn đêm sáng nghĩ
Mây non trăng suối lòng thiền đưa
Trên đây là ghi lại những thơ tặng của Cổ Hoan Mặc Si Nguyễn đại nhân.

6
Bích Phong xanh xanh
Thủy Nguyệt thanh thanh
Tên của tiên sanh
Vạn cổ chênh vênh
Trên đây là chép thơ tặng của Mai Xuyên Trần đại nhân.

7
TỰ VỊNH

Từng trải việc đời một giấc mơ
Mà nay chẳng giống lúc còn thơ
Lữa lần cười tớ không công việc
Câu được chuông trăng khi vịnh đưa.

8
VĂN SÁM HỐI

Kính lễ mười phương đấng Thế Tôn, tràn đầy biển pháp dạt mênh mông, quyền thừa bồ tát các bậc tăng, duyên giác thanh văn những thánh chúng.
Đệ tử nhiều đời theo nghiệp giống, tung hoành khắp cõi luống nổi trôi, ngưỡng mong trời tuệ chiếu lòng tôi, mỗi mỗi chân thành xin sám hối.
Nhiều kiếp hoặc gây mười ác tội, giường sắt trụ đồng khôn xiết nói, đụng của chẳng nhường tham si khởi, mãi chịu ngạ quỷ đường rách đói, tung dục hoành hành theo nghiệp chịu. Cánh lông vảy giáp thân súc sinh, hung tàn cường bạo đều do sân, đến nỗi tu la trời biển khác. Năm giới nghiêng trọn theo trí đời, nhục vinh từ đó chia đạo người. Chỉ nhờ thập thiện làm ân cần, cõi trời cao thấp tùy chỗ gắn. Bốn quả cắt trừ dây não phiền, ba tâm chưa dứt sợ triền miên. Đại thừa mười thánh cùng tam hiền, sống chết lớp lớp tùy biến đổi, cõi này phương khác từng trải qua, noãn thai thấp hóa giận ta đà, trông lại biển thức còn sóng nhỏ, đáy nước mấy lúc lặng bóng trăng, có mộng vượt sông nay sớm tỉnh, nhân quả chẳng hai dứt leo vịn, mênh mông thân độ cùng vô biên, vô lượng quang minh vô lượng thọ, từ đó mây lành giăng khắp chỗ, mưa ngọt tưới tới mọi chủng loài, mênh mông đại địa cũng chìm bằng, lặng lẽ hư không nát thành bột, đem tấm thâm tâm dâng mọi cõi, tùy cơ phó cảm nhờ từ bi, không rời lòng ấy vượt tam kỳ, duy nguyện từ bi thương nhận lấy.

GIỚI ĐÀN VĂN

I. BẢNG THỨ TỰ TRONG GIỚI ĐÀN

Nước Việt Nam, bọn chúng con vâng lời Phật dạy, cẩn thận y theo giáo điển mở giới đàn lớn, dắt dẫn kẻ đến sau, nhằm nối tuệ mạng Phật. Hôm nay đốt đèn lửa hạc, nhóm hương Ngưu đầu, ngẩng trông tam bảo uy quang, cúi chứng lòng thành khẩn thiết. Mong nhờ gió từ khắp thổi, dứt bụi bặm tại cõi này phương khác. Nhiều gội mưa pháp rộng ban, trồng quả lành ở vườn Kỳ non Thứu. Đàn mở ba đêm ngày, làm rõ ba thân không tăng không giảm. Bảng định 26 thời, mong cho bốn chúng hãy chiêm hãy ngưỡng. Phàm có ngày giờ tiết thứ việc vàn xin ghi dưới đây...

II. BẢNG THẬP SƯ

Kính nghe ba cõi không yên, giống như nhà lửa, muốn khỏi nẻo khổ, trước phải quy kính tam tôn, muốn vượt bến mê chẳng gì hơn chỉ cầu tịnh giới. Vì thế, các vị chức sự của giới đàn, nhìn trời hồng đến ngọ, lòng lại tha thiết lợi người, cầu nghiệp dữ suốt đêm, lễ tham bái bậc chí đức. Để cho cửa mở tịnh giới ba nhóm nhằm bỏ ác làm lành để lợi ích chúng sinh thơm khắp mười phương. Nhờ giới vào định mà viên thành trí tuệ, ánh châu vô tận, giới phẩm đều lên, cùng chứng chân thừa, giám quên bậc đại tạo. Phàm có đại đức hồng danh, tay rửa hương trầm kính đặt như dưới...

III. CHỨC SỰ KIẾN ĐÀN

Kính nghe trí bi đều dùng, chủ bạn cùng dự. Cho nên, Phật chế giới luật, những thánh chẳng bỏ việc làm là phạm. Kinh dạy lời mầu các bậc đều đến để xưng dương. Công việc nhờ quần chúng mà thành, giáo pháp không đơn lẻ mà nổi. Nay giới tử chúng con muốn mãi làm hạnh anh nhi, tự tiếc thời gian không đợi con người, mong rộng mở trường tuyển Phật, hầu thỏa lòng trống thi đỗ. Vì thế, lạy xin bậc tiên giác, sạch dựng giới đàn, ngoái nhớ hậu lai, dẫn lên sơ địa, để giúp căn và trần mau chấm dứt, dám đâu quên người đã giúp làm. Giới hạnh kiêm toàn giúp nhiều sức cho việc lợi người. Xin mong hãy thương xót, hãy thương xót, hãy nhiều thương xót. Hễ có phương danh các chức sự giới đàn xin ghi dưới đây...

IV. BẢNG NGƯỜI GIÚP VIỆC GIỚI ĐÀN

Trộm nghe, Ấn Độ mới xướng, Trung Hoa truyền theo, tới nước Nam ta dốc lòng về Bắc, nơi nơi đều thấm mưa pháp, người người cùng mát mây từ, yên ổn xuất trần, hòa quang tiếp Phật. Cho nên, Văn Thù là bậc thầy đời xưa, còn làm Như Lai pháp tử, Quan Âm bảo là Phật quá khứ, vẫn hay giúp đỡ Thích Tôn. Thế mới biết nay giới đàn này, thánh phàm khó biệt, kết duyên tùy hỷ cùng chứng bồ đề. Phàm có việc phải làm dám không ghi tên liệt thứ. Hễ có người giúp việc giới đàn, xin ghi dưới đây...

V. BẢNG NGOẠI HỘ GIỚI ĐÀN

Rằng chánh pháp của Phật ta là tùy thời tùy chỗ tùy đất nước. Muốn được lưu thông phủ khắp, tất nhờ bốn chúng trong giữ ngoài giúp. Thế mới biết sức hộ pháp là chẳng phải nhỏ. Đâu dám nói vội việc khác, chỉ việc mở dựng giới đàn ở đây nhằm dẫn người làm Phật, rường cột của giáo pháp là đây, thuyền bè của biển khổ cũng là đây, mà trong bốn chúng nếu thiếu một thì việc làm nên đại sự thật cũng khó lắm thay. Vì thế, chức sự dựng đàn chúng tôi thành khẩn kính mời những vị thanh tín sĩ nữ tại gia có lòng rộng lớn, nghĩ đến việc đền đáp ơn Phật hãy tổ chức ban ngoại hộ, giúp tiến hành Phật sự, hầu đạt được một trường giới thể, lợi mình lợi người, gồm đủ ba nghiệp trừ sạch bốn sông đổ biển. Chúng tôi khôn xiết mừng vui. Có những phương danh xin ghi dưới đây...

 
10
BÀI PHÚ VỀ HỘ GIỚI ĐÀN CHÙA BÁO QUỐC

Gặp năm Kỷ Sửu (1949)
Trung thu đến tiết
Trăng sáng lại tròn
Dậu hoa rất đẹp 
Kể trống thuật rườm
Nói lời chẳng thiết
Trên tuyết dấu hồng 
Gượng nên bài viết
Ai tin cuồn cuộn sóng bậy,
tìm châu đầm rồng mình tự hãm
Đâu chịu đêm dài mùng mịt,
chỉ trăng tượng giáo lại phải nhờ
Trải bao mưa sa gió táp, 
nhà học vẫn còn nền móng trơ trơ
Mặc cho chuột gặm sâu ăn, 
cột chùa còn dựng đạo lý miên viễn 
Dốc làm biện rõ, người sau mỗi đã thành tài 
Nêu thiện tiến hiền, bậc trước hẳn phải dự báo 
Y bát gia phong còn đó, mãi đọng muôn đời
Căn trần việc ấy thảy tiêu, bốn ơn báo hết
Tới đây,
Đồng chí nhóm về
Quy kính đức Phật
Đại chúng dốc lòng
Giới châu nhận hết
Sơn môn xuống lệnh,
đồng thanh góc biển chân trời 
Tin nhạn viết xong,
mau đến cõi nam đất bắc 
Đời này lúc này
Lo được lo mất
Lòng sâu dâng muôn cõi,
nên hay ngoại nạn rốt không
Tay trắng dựng lâu đài, tự hỏi nội ưu há thật
Huống chi, trùng sư tử ăn thịt sư tử,
cười chết điên cuồng
Thế mà, việc trong kia nhờ người trong kia, 
đâu biết giáp ất
Người dựng đàn này, tiếp dưới nối trên
Ban ngoại hộ đó, tả phù hữu bật
Sao kinh sao sợ, 
treo cao bảng vàng ở Xuân Sơn
Đại lực đại hùng, 
mở dựng giới đàn tại Báo Quốc
Xem thường đường sá khó khăn, 
lễ thỉnh thập sư
Dám đem thành khẩn phơi bày, 
kính dâng bốn món
Treo đèn sen, rủ lọng báu,
dựng bảng giới, bày gậy vàng, 
xiết bao lầm tổ khi chim về
Thỉnh hồng chung, đánh trống lớn, 
trỗi nhạc trời, rải hoa thơm, 
quân ma lộn kiếp lại mất chốn
Dọc ngang rộng hẹp, đường bọc vườn Kỳ
Nam bắc đông tây, chùa này nêu hạn
Rõ rồi phù sinh giấc mộng, 
trông nhờ giới phép rủ thương
Khó thay bốn đại làm giường, 
những mong từ bi nạp nhận
Lưới trời ngọc sáng, 
ngửng trông trên ghế các thầy
Tiệc bày giới luật, 
ngồi khắp những trò tâm ấn
Tội xưa hiện nghiệp, mỗi tự sám trừ 
Bán thế đồng chơn, mặc lòng tỏ tận
Chuộng danh chuộng lợi đây không
Nửa nuốt nửa nôn ai dám 
Chuyện kia như vậy, 
cúi mong hòa thượng chứng minh
Nên hư làm sao,
ngưỡng trông các ngài hộ thuận
Yết ma đã bạch, chẳng người tội ư
Già nạn rõ xong, xin nhiều từ mẫn
Chính mừng thăng đường nhập thất, 
đâu quên tay mắt đỡ đần
Lại lo nâng bát đắp y, 
nhiều trông trời người cúng dưỡng
Việc ấy giữ ấy, hạnh cũ lời xưa 
Tất kính tất răn, ba ngàn tám vạn 
Ra khỏi nhà lửa, dám bỏ xe nhẹ dê hươu
Ngồi ở đường quan, chờ cho trâu bạc xe lớn
Lời Phật giảng hết 
Pháp sự sắp tàn
Mình lạy năm vóc
Hương đốt ba hoàn
May thơm xông lên thiên giới
Khí lành thấu tới u quan
Mưa đổ hoa trời,
đất Phật vàng ròng rửa sạch[1] 
Kệ mầu gió đưa,
đàn tràng nghiệp sạch cao dương
Đất nước sinh linh thường an lạc
Hoa đốn bóng trăng ấy đạo tràng[2]

11
BÀI TRUY TIẾN CHÍ SĨ VÀ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

Trộm nghĩ: theo duyên ác ấy, trái đạo lành này. Khóc tổ quốc hơn 80 năm ách vận, trời đất chông gai, sân Tần khóc máu cũng không thiêng. Ôi đồng bào 25 triệu tội gì, cá chậu chim lồng, sông Dịch bi ca lòng giận mãi. Người cương nghị cũng tội, kẻ lo tuan cũng tội, ai chất phác cũng tội, ngỗn ngang tâm sự rốt là chi? Hoặc bị tù mà mất, hoặc chạy trốn mà mất, hoặc chiến tranh mà mất, nhiều ít anh hùng còn đâu tá? Dù cho chướng duyên đời trước chưa xong, khó vượt hiện trường thống khổ, may gặp nước phép lúc này thấm khắp, thẳng vào đất Phật thanh lương.

12
BÀI TỨ TIẾN NẠN VONG SAU TRẬN LỤT LỚN THÁNG 8 NĂM QUÝ TỴ (1953)

Ô hô, gió mây biên tái, sóng nước sông hồ. Bèo dạt lững lờ, tiếng thu mưa chiều thành buồn bã; lá rơi rầu rĩ, mặt nước tim bùn theo mất tăm. Quê hương nơi đâu đó, thần thức gởi chốn này phương kia; họa phúc thảy có gốc, rước quả nghiệp đời nay kiếp trước. Kệ ngọc kinh vàng nhờ Phật lực, gọi hồn Khuất tử trở về; bình hoa bát nhang nhờ ơn vua, sám bỏ Tử Tư mối hận.

13
VĂN CỦA BAN CỔ NHẠC TẾ NGÀY SINH CỦA TỔ

I.
Chuông Lạc tiết ứng, mộc đạc dạy truyền, trời người vận hợp, lễ nhạc chính phân. Đẽo gỗ vông bắt đầu cầm sắt, mở đạo này để dạy dân ta; phổ lời văn vụt thông đàn sáo, giữ kiệm ước để chờ rộng cho. Tại trận địa tiếng tiêu vừa trỗi, đã thối hùng binh chốn cung đình, điệu nhã mới lên, bỗng gọi hạc về. Gõ chuông đánh khánh giúp thành chương nhạc tế trời, gảy đàn thổi sênh phụ lễ đón đưa khách khứa. Cõi trần làm việc Phật, phải nhờ nhạc giúp vui. Kinh mầu phổ vào dây, cậy đó mà được giải thoát. 

II.
Tiếng hòa chuông khánh, vang ứng trời người. Nghề quanh đất Lương, đàn gọi hát múa. Nghe Tiêu Thiệu ở nước Tề, trỗi Phạn bối tại núi Cá. Trông khúc Châu lang, nghề rành Đông địa, thổi tiêu chơi khánh, duyên kết Tây Tần. Lúc ép lúc dương, Mạnh Thường mãi gạt lệ, hoặc cung hoặc vũ, Chung tử hay tỏ lòng. Chí đức vô bờ, thay âm dương mà lợi vật, công lớn chẳng khoe, đem ca nhạc để an dân. Nay gặp ngày sinh, lễ phẩm bày đủ, những mong chứng giám, rủ ban hồng ân, khiến đệ tử dừng biết chỗ dừng, giúp nước nhà mỗi ngày mỗi mới.

14
THAY HỘI PHẬT GIÁO TỈNH THỪA THIÊN VIẾT LỜI NHẬN XÉT

Ngày…tháng 5 năm Tân Mão (1951), pháp chủ của sơn môn Thừa Thiên, chức tôi đặc mệnh tuần tiễn tăng thông báo các chùa trong tỉnh biết rõ:
Ngày mồng 10 tháng tới quý liệt vị lãnh đạo ban trị sự sẽ thăm hết các chùa để tỏ đạo tình. Chỉ có điều lạ, giám chủ chùa kia đã kính kỉnh tuân ghi, mà ngày đó không y lời vâng mệnh, dám đi trốn tránh. Chiếu theo luật Phật, tội ấy đáng đuổi. Nhưng kia đã biết lỗi, lại chịu đổi mới, nên làm lời nhận xét này, để làm gương về sau.
Xét giảng chủ ấy chùa ấy, bụng không chút mực, mắt không biết chữ, dám đánh trống qua nhà sấm, lạm thổi sênh ở đất Tề. Thây đi thịt chạy, đâu biết tướng chuột có da, theo nước đuổi sóng, chỉ biết mượn tôm làm mắt. Quen thói nhác nhớm, chùa giăng mạng nhện, dựng cờ kiêu mạn, thỏ quyệt trong hang. Sinh nhai cậy nhờ nghề vạy, chẳng biết chuyện sai, áo mão giả lấy cửa thiền, luống chỉ có dáng. Lòng xằng càng lộng, nói vơ nấm sáng khôn nhờ, chính pháp chẳng nghe, bèn khiến dạ lang tự đại. Lấy lợi người làm lợi mình, bịt tai trộm chuông, nhận đường mê làm đường chính, khắc thuyền tìm gươm. Nếu kể hết tội khoét dậu trèo tường, nên sớm đuổi về cõi tục, song thương lòng nó đội gai ngậm ngọc, hãy tạm cho ở lại nhà thiền. Nay giao cho tuần kiểm tăng đem nước tam muội rửa sạch ruột nó, mài dao trí tuệ, khiến nó dứt lầm. Cẩn xét.

15
THAY VIẾT BÀI CHÂM DÂNG LÊN 
HÒA THƯỢNG PHÁP CHỦ TỊNH KHIẾT 
CHÙA TƯỜNG VÂN

Trăng sáng sông Hương
Mây giăng núi Ngự
Non sông đúc un
Trổi xuất bậc lạ
Biết đời ấy huyễn
Chỉ đạo báu cả
Đáng anh đáng em
Vô Trước Bà Lũ
Dựng lớn thiền phong
Chiết phục thói xấu
Dạy đủ Diêm Phù
Người anh mất dấu 
Mây ám trời trong
Biển dồi sóng dữ 
Đuốc tuệ thuyền từ
Chỉ sư cậy chỗ 
Làm giáo hội chủ 
Làm chúng trung tôn
Đạo truyền đất Việt
Ai thể sánh hàng
Việc nhà hoằng pháp
Đạo nối tông môn
Dung nghi đĩnh đạc
Mắt thấy đạo còn
Đánh hét tùy thời
Người đều kính ngưỡng
Trong sạch không tên
Ứng dụng vô lượng
Phật pháp cột rường
Sơn môn che chắn
Trong trường tuyển Phật
Lễ tôn hòa thượng
Lớp sau xứ Huế
Lâu dựa đức âm
Chẳng biết tỏ lòng
Bèn nhờ bài châm
Mong rủ mắt từ
Cúi chứng lòng thành
Mãi dâng muôn cõi
Đem tấm thâm tâm

16
THAY MÔN ĐỒ CHÙA PHƯỚC ĐIỀN
MỪNG BỔN SƯ THỌ 60 TUỔI

Thành đông có Kỳ viên
Để người làm phước điền
Ơn vua từng sắc tặng
Đạo tổ hợp chân truyền 
Hoa rơi đất sạch bụi
Đèn đỏ suốt trời đêm
Chuông vàng nhắc mộng lớn
Bè báu vượt sông lầm 
Chiêm ngưỡng thần còn đó
Bước lên lòng ngạc nhiên
Theo nhau gió bát ngát
Lòng với trăng đoàn viên
Vương công tiếng nhà cũ
Từ bi giữ đạo bền
Môn đồ cúi đầu lạy
Hoa giáp mừng chu niên

17
BÀI SIÊU TIẾN THÁI TƯỚNG CÔNG

Trộm nghĩ:
Cha sao ra đi
Con đâu chỗ tựa
Giàu sang tựa mây trôi, 
mỗi hướng chân trời mà tuôn lệ
Sống chết như mới mộng, 
luống ngâm chín chữ xiết bao tình
Dám nói chí hiếu khó quên
Muốn báo ân sâu sao có
Thả thuyền từ mà vượt biển khổ
Chỉ nhờ Phật nổi hùng phong
Đem cây thu mà nở hoa xuân
Toàn cậy chư tăng ban mưa pháp

18
THƠ VIẾNG HÒA THƯỢNG HUỆ MINH 
CHÙA TỪ HIẾU

Rồng voi cửa Phật
Biển khổ từ hàng
Y truyền đạo tổ
Gây dựng danh san
Giới Minh hòa thượng
Vua tăng tăng cang
Tông phong nổi lại
Trời tuệ trùng quang
Trời người cúi lạy
Ma ngoại lạnh gan
Bảy mươi chín tuổi
Thanh tịnh niết bàn

19
BÀI TÁN CÕI PHÁP HOA NGHIÊM

Đạo lớn không lời
Lòng thiêng tuyệt đối
Biển nhận trăm sông
Núi ném hột cải
Trước trước vô thỉ
Oai Âm chưa sinh
Sau sau vô chung
Nhương Khư đã hoại
Vũ trụ đầu lông
Như một thân cõi 
Lâu đài trong mây
Sắc không tự tại
Ánh ánh tiếp nhau
Trời trăng mất dọi
Pháp pháp viên dung
Vực trời đâu chọi
Muốn gọi nó thật khó được tên
Thường gọi rằng Hoa Nghiêm pháp giới

 
20
CUỒNG CA NGÀY XUÂN

Trồng hoa trên đá,
Nói vơ thêm đấu tía khoe hồng
Hồn quốc Vọng Đế,
Vân cẩu Triệu vương
Kim cốc vườn Lương ấy
Dư thêm bao xiết rừng hoang
Biết mơ xuân lâu bền chẳng phải
Buồn thiêu thân dại dột sao đang
Đã không tịch đâu khỏi rơi vào sào huyệt ấy
Cười tớ cao thấp mặc tùy duyên
Bỗng chốc trên trời dưới thế bỏ chạy

21
BÀI TÁN ĐỀ TRÊN TƯỢNG HÒA THƯỢNG GIÁC TIÊN 
CHÙA TRÚC LÂM

Ánh thiêng riêng tỏ
Vượt hút căn trần
Hiện phàm hiện thánh
Theo tục theo chân
Xương trắng thêm thịt
Người chết sống lên
Tán thán chẳng kịp
Lớn thay sư ân

22
VIẾNG HÒA THƯỢNG HUỆ GIÁC 
CHÙA THIÊN MỤ

Nhiều ít sinh linh sợ bụi xằng
Tịch quang đâu chỗ kiếm chân thân
Tám mươi năm trước nay suy lại
Thiên Mụ buồn thôi chuông vắng ngân 
Nhiều ít sinh linh sợ bụi đời
Tịch quang thân thực kiếm đâu nơi
Tám mươi năm trước nay suy lại
Thiên Mụ chuông ngân buồn chết người

23
NGÀY XUÂN SAY NGÂM 

Vô cùng nay đến xưa đi
Năm qua xuân quá, hồi ni xuân về
Ngàn hồng muôn tía chi li
Phù sinh thử hỏi mấy thì là xuân
Hoa đào như cũ 
Rượu xuân đôi ba chén uống cùng người
Mến rừng hương bướm sứ lại ong mai
Hoàng oanh ríu rít xin mời xuân mơ 
Bóng hoa quét bụi thềm chẳng động
Gió thơm lướt đất giống như nghe
Cười xưa nay ngạo cốt quá ngất nghêu
Xem ấm lạnh không thêm cũng chẳng bớt
Điện ngọc cửa son
Hiên tranh hạm trúc
Bọt nước một lần nổi liền thành không
Đáng thương thay, 
Dũng ngang dọc, trung man xúc
Được nhiều ít mà tranh hùng đồ bá
Tít mắt trời rộng nhạn lẽ qua
Đã ngây cuồng sao rảnh kể hành tung
Xưa nay trời đất vô cùng

24
MỘT BẠN HỌC CỦA TA CÓ GIẤC MƠ VÀO ĐÀO NGUYÊN, 
LÀM MƯỜI BÀI THƠ CÙNG TỰA, DẶN TA LÀM KÝ

Năm Bính Tuất (1946) tháng 2 ngày rằm, cùng với đôi ba người tri kỷ tạm rời sơn trang về thành Xuân xem danh thắng. Trên đường đi qua một tiệm sách Hoa kiều nào đó, mua được một quyển Đào nguyên ký, lòng giấu ôm ngọc, mà mặt vẫn ngó gió xuân. Sau khi trở về, khêu đèn mở đọc, mới vừa xong quyển, buồn buồn, bất chợt đã đi vào giấc ngủ. 
Bỗng đến một nơi kỳ hoa dị thảo, liễu mảnh tùng xanh, nước chảy thành tiếng sáo đàn, đá nhả màu mây ráng, giống như năm nào đã trải qua, chợt nhớ chợt quên. May cuộc kỳ phùng ngày đó, nửa sợ nửa vui. Đã thế, oanh đẹp ra khỏi hang cất tiếng hót nhè nhẹ. Én bệnh rời tổ, nhởn nhơ dáng vẻ tuyết hoa, chẳng chút e ngại, lại tỏ ra ân cần, mời vào trong động, ngồi phân chủ khách. Loan xanh dâng quả, phụng đẹp ngậm chén, dọn ăn món trời, rót trà nước ngọc, trải tả mong ước đời nay thì chàng Lưu tỏ thích tham thiền, muốn đáp lại duyên đời trước.
Cho nên, tiên nữ lại nêu ước xưa. Rốt cuộc, gió nghiệp thổi lên, khó lặng sóng xằng của biển. Thế mà lưới ma lôi buộc, kéo vào giấc mộng núi Vu. Đồ quý của nhân gian, tìm một còn khó. Gái đẹp trên trời, được đôi thành dễ. Than ôi, nước đầy thì tràn, trăng tròn tất khuyết. Nửa năm duyên lạ, khóc nhắm Tần Tương. Việc tốt một trường, buồn giục một trời gió mây. Bỗng rời Đào nguyên, rõ thành nhân thế. Mỗi nhờ hoa đốm mà cột niệm thì ruột sầu tơ kết. Muốn tìm mộng xưa để thỏa lòng thì mây che cửa động. Cho nên, chẳng ngại tài mọt sách, giúp nên lời ngâm cô phẫn, bèn viết bài ký nhỏ để ghi việc này vậy. 

25
ĐÊM XUÂN XA CẢM 

Rơi nở lòng trời mai mấy bông
Nổi trôi thế cuộc rượu vài chung 
Đêm khuya bóng lẻ dằng dùng, 
Tiếng trùng rả rích giục lòng buồn thôi 
Tính tay tự tang thương biến đổi
Bụi chiến chinh ải lấp khôn qua
Gió đông lạnh oán tay chia
Năm nay như cũ lại hoa đào hồng 
Có khách dong về nhà góc biển
Hỏi tin đâu nghe đến bảo chưa từng 
Đèn hoa chiều khảy buồn lòng
Sáng xem thước hót khó mong thiệt hư 
Ném thước vải cá to chẳng tiện
Trong mơ kiếm đâu thấy hành tung
Núi mây mấy lượt mắt trông
Biết sơ sắc sắc không không những kỳ
Trong song quạnh ngậm buồn uống giận
Rầu tình xa khôn hỏi trời xanh
Tâm hương hầu tỏ chút thành
Cơ thần lẻ diệu quay mình khôn đo
Bĩ lại thái, giữ buông thay đổi 
Khuyết lại đầy, thêm bớt lặng đưa
Buổi này trăng ám sao thưa
Những mong rằm tới hẹn vừa đoàn viên

26
DUY MA ĐẠI SĨ 

Nhà vuông có cổ Phật
Thị tật vì chúng sanh 
Chiết phục các thanh văn
Tên gọi Duy Ma Cật

27
BÀI TÁN KINH LĂNG NGHIÊM

Đại định Lăng Nghiêm tam muội vương
Hàng ma đuổi vọng pháp trung cường
Thấy nghe tri giác đều vô ngại
Chỉ hỏi người nay tự nghĩ lường

28
A NAN THỊ ĐỌA

Dâm thất A Nan thị đọa khi
Lòng thương vì chúng tạo cơ thì
Đã xong bảy chỗ nêu tâm ấy
Lại nổi năng suy với sở suy

29
VUA BA TƯ NẶC XEM SÔNG

Kỷ tìm kiến tánh tự viên dung
Mặt mũi nhọc sao nỗi dị đồng
Sáu chục xem sông cũng thế vậy
Đáng tin sinh diệt xưa nay không

30
CUỒNG NGÂM

Thân ta sánh hạt cải
Mười phương hiềm chật chội
Chỗ nào không nhục vinh
Cho ta chút tự tại
 
31

KỆ TRÌNH PHÓ PHÁP
Niết bàn sinh tử xưa nay không
Diệu pháp khôn lường tính tự dung
Chân Đạo truyền thừa tồn Chính Thống
Bích Phong cao dọi trời đương trung

32
BAN KỆ CHO PHÁP ĐIỆT TÂM TRÍ,
tự VIÊN GIÁC, hiệu CHIÊU NHIÊN ĐẠI SƯ

Y bát gia phong nửa tối truyền
Dung thông Tâm Trí hiểu chân thuyên
Không rời thấy đạo lên Viên Giác
Pháp pháp Chiêu Nhiên ấy thật quyền

33
ĐÊM THU ĐỌC CHINH PHỤ NGÂM, 
CẢM TÁC HAI KHÚC NAM AI VÀ NAM BÌNH 
(khúc đầu hát theo điệu chèo đò)

I.
Nên hay trăng Hán tựa trăng Hồ
Chưa biết lòng chàng như lòng thiếp
Đêm dài riêng ấp chăn thơm 
Nhà ai tiếng địch thêm buồn não nhân
Tứ thơ mùa thu đa sầu, trong lòng muôn mối
Dệt gấm hồi văn, mong dâng quân vương
Lầu quạnh bạn tà dương
U hoài, trời mỗi Tận Tương
Đến tháng đêm đốt hương
Mỗi đoạn trường, can trường
Chim én bay bay
Lúc đến đậu đìa trên dưới 
Lại thương hoa vàng kia 
Nhìn bóng lạnh lẽo 
Rèm song hững hờ
Buồn biệt ly
Muốn đề thi
Hối ngày về
Nhớ tới đó lã chã lệ tuôn
Trời trong trông suốt mấy tầng mây cây
Than lầu sò chợ biển
Chuông tàn giấc mộng mất luôn
Thấy ngựa thần ngoài khe cửa 
Hối tham phong hầu

II.
Thu mãi đêm ba canh
Tiếng nhạn vang
Hồn mơ xa thẳm
Thiền viện chuông ngân
Sân vắng 
Mưa nhẹ mới tạnh
Nhớ chàng
Núi mây ngoài đường xa
U tình khó bỏ
Nhớ tiếng thu
Tình này sâu kết
Nửa đêm gặp nhau
Dựa lan can mắt nhìn chim hồng ngoài biên tái 
Núi xanh nước lục mênh mang 
Nên luống nhớ 
Suốt đêm chăn lạnh bàng hoàng bên dâu
Nhụy hoa ngậm sương mai
Trăng lại lên 
Mộng đời lạnh lẽo
Sạch sầu duyên
Mau mở ruộng lòng

34
MÙA HẠ NĂM BÍNH TUẤT (1946)
THĂM PHÁP LỮ ĐÔN HẬU 
MỚI NHẬN LÀM TỰ CHỦ CHÙA LINH MỤ

Sông cong trong lắng bọc Kỳ viên
Tháp báu tầng tầng tỏ Phước Duyên[3]
Mây ráng xa vây cây cối núi
Xóm thôn trông xuống khói nhà lên 
Rực vàng sáng ngọc ơn vua nặng
Trao kệ bàn kinh biết đạo viên
Bạn cũ hai mươi nay hóa chủ
Trời Nam lại gặp sáng trăng thêm

35
LÀM KHI MỚI NHẬN LÀM TỰ CHỦ CHÙA DIỆU ĐẾ

Thành thị phồn hoa xe ngựa ồn
U nhàn riêng chiếm một trời thôn 
Mây bên cổ thụ xanh xanh mọc 
Chùa trước trường giang bát ngát ôm 
Lộn bóng lâu đài làm bức vẽ
Đưa thơm hoa cỏ tận thư song
Dám rằng gặp hội không cậy múa
Trời tuệ trùng quang trời chỉ trông

 
36
CÙNG CÁC BẠN ĐẠO THĂM CHÙA NÚI TÚY VÂN, 
VIẾT THƠ TRÌNH

Vừa lên xe pháp lại thuyền từ[4]
Nón gậy trèo non chân bước đưa
Sông chảy quanh chùa trời đất ngoại
Rừng xuyên sắc sáng có không ư
Núi xa khói phủ hoa rơi nở
Bãi phẳng cỏ giăng cò lượn lờ
Nhiếp niệm cùng thăm Điều Ngự tháp
Ít nhiều cảnh bụi ngắm nhàn thư 

37
NGÀY LÀNH NĂM MẬU TÝ 
THĂM TỔ ĐÌNH TỪ HIẾU 
VIẾT THƠ TRÌNH

Đất giăng hoa lạ, cây che trời
Hồ rộng trước chùa trăng dõi soi
Tượng ngọc ánh lên trời rực vượt
Chuông vàng tiếng dội mé mây rơi
Vô sinh gió tới chim vui hót
Thiền vị đá tham thầy tựa ngồi
Giác thế thần thông mình biết khác
Tùy duyên đi ở mặc ta thôi

38
ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG HƯƠNG,
HỌA VẬN VỚI PHÁP ĐỆ BÍCH KHÔNG

Khói ráng bơi rồi rộng khoảng trông
Chiều về neo đậu để ăn cùng 
Từ đâu gió nhẹ theo đùa sóng
Vô cớ trăng cao lạnh xuống sông
Bờ cách lâu đài kinh mộng cũ
Ngang trời cò trắng thích bay ngông
Lòng thiền Hương nguyệt hay gì giống
Nửa có tương quan nửa chửa từng

39
ĐÊM TRUNG THU NĂM TÂN TỴ (1941)
CÙNG HUYỆN DOÃN TRẠCH CHI 
NGHE ĐÀN TRÊN LẦU BÊN SÔNG

Tay nắm dìu nhau bước tới lầu
Nghe đàn vô cớ nổi buồn đau
Trong như tiếng quốc mong quê cũ
Nhỏ tựa thuyền cô góa phụ sầu
Suông ngóng thanh xuân còn mắt biếc
Luống lo tuổi xế oán phau đầu
Bao nhiêu thanh sắc theo dòng cũ
Mây đứng nhạn sa thảy bọt xao

40
TẶNG PHÁP ĐỆ BÍCH KHÔNG
TREO MŨ QUY THIỀN

Hán học thương thay đã xế rồi
Đêm tàn gác sách ngọn đèn côi 
Nửa đời mưa gió mơ trần khiếp
Nghìn tuổi y quan hoạn lộ rời 
Thiệp thế đâu ngăn lui tới mệt
Hiểu lòng mới biết chẳng ta ngươi 
Tạm dùng văn tự rời văn tự
Phật Ấn như nay Tô lão thôi

41
NĂM MẬU DẦN (1938) BẠN ĐẠO TRÍ THỦ
NHẬN LÀM TỰ CHỦ CHÙA BA LA,
LÀM THƠ TẶNG HÒA VẬN

Bạn hoa ưu bát giữa bao người
Chẳng thẹn giao y gánh vác rồi
Sân tuyết pháp truyền nơi Tổ đó
Tay hoa đạo hợp tự Phật thôi
Như nay cự phách trên trường giảng
Nhớ trước giới đàn đạt cao ngôi 
Thử đem thuyền đạo chèo Nam Phổ
Sóng sáng sắc trăng muôn khoảnh dồi

42
NĂM ĐINH HỢI (1947) 
NỐI VẦN BÀI TRÁNH BINH HỎA CỦA THÚC GỊA THỊ

Mưa đạn súng rừng phương tiện thân 
Góc non chạy khắp lại sông men 
Khôn đem tay lẻ xoay trời xế
Rất khổ quạ bầy đuổi tối giành
Cõi Phật nên hay không bẩn sạch
Đời người đâu chỗ chẳng phong trần
Sao nên dứt hết tham sân ấy
Khiến khắp người mê hiểu tính chân

43
Tiên sinh Mỗ miền Bắc sưu tập câu hay qua những nhà thơ Đường Tống, viết nên thơ mới. Lại sưu tập câu hay qua những tiểu thuyết truyền kỳ nước ta, nhóm thành thơ quốc văn để giải thích, đặt tên là Bút hoa tập. Vừa viết xong bản thảo, bèn đã từ trần. Trong lúc lâm chung, dặn con tặng ta một bản, xin đề vài lời để làm kỷ niệm. Ta hâm mộ tài tập cú của ông và cũng thích ông giỏi bút pháp, rành vẽ vời, có thể gọi là tam tuyệt. Bèn làm thơ để đáp lại.
Tập cú biết ông giỏi nhập thần
Phó Hàm từng chẳng ấy tiền thân
Nói quàng tam tuyệt tài đâu dễ
Lại nối thiên gia tứ mới gần 
Hoa bút chưa nên thành mộng cũ
Ngọc lâu đâu chỗ nhớ cao nhân
Gió lên trông bắc suông nhung nhớ
Thử nhại Đông Thi chút mặt nhăn

44
HÒA VẬN BÀI THUẬT HOÀI CỦA THÚC GỊA THỊ

Nước sáng non xanh thích thả thư
Mang theo nón gậy gặp nhà thơ
Nghe truyền tình bạn nên dùng đạo
Muốn trả nợ văn giận chẳng dư
Sênh thổi vong niên lạm kết bạn
Ngọc trau một chữ những tôn sư
Xưa nay cố tật ai hay đuổi
Đầy cửa nhà Nho chén rượu ư

45
KHÔNG ĐỀ
Mượn vận của tiên sanh nào đó

I.
Bao lần sống gởi vẫn còn si[5] 
Ba cõi dọc ngang chân mỏi xì
Cảnh khổ thật do người tự tạo
Lòng thương chỉ cậy Phật năng tri 
Người câm hết mộng nhằm ai kể 
Kẻ vắng ngồi chờ gượng nhướng mi
Trong chốn nhục vinh nên mắc ấn
Lòng dồn vào rượu, tính nhờ thi

II.
Mọt sách thành nghiền cười tớ si
Đọc to ngâm nhỏ mệt chẳng ghê
Lời bày lượm bậy người cho lạ
Vui lớn muốn đi mình tự tri
Đâu chỗ thềm bên quên sợ cỏ
Luống mong trị tới tám màu mi
Tang thương dưới mắt giao trường mộng
Ngày tháng tiêu đi rượu với thi

46
HỌA VẦN BÀI MỒNG TÁM THÁNG 7 DẬY
SỚM CỦA TƯỚNG CÔNG THÚC GỊA

Chẳng chịu rụng rơi thu thế sao
Cặp rèn Ngưu Nữ thử ai nào
Đêm qua duyên gặp vui cùng ngủ
Năm cách sông chia lệ khóc đâu
Ai biết trên trời băng lụa đứt
Nỡ nhằm dưới thế khéo tài cầu
Thuyền con một chiếc cùng phiêu dạt
Rượu rót, sáo ngân, gõ mạn ca: chuốc reo
Trời là nhà hề đất là chiếu
Trụ trời bút hề ngân hà mực
Chức Nữ là tỳ hề Ngưu Lang là nô
Đi không chỗ tới hề đến không chỗ được.

 
47
KHÔNG ĐỀ

I.
Tảng đá ba sinh đâu nại nhân
Đường hồng lui tới tớ bao lần
Lòng si dám nhắm người tranh mộng
Vật chuyển thẹn thôi tớ chửa chân 
Mái tóc bạc rồi còn nịnh Phật 
Tang thương trải khắp nhọc tinh thần
Sắc không chẳng khác luôn rời buộc
Đâu cũng ngang tàng một chiếc thân

II.
Chẳng nỡ nói năng khắp cõi buồn
Cười ta vô cớ cội sầu trồng
Nước lên luống nhớ dã tràng chí
Trăng sáng suông thương Đỗ Vũ hồn
Nhiều kiếp từng kinh dâu biển mộng
Đây thân chưa thấu tử sinh môn
Khi nghèo rượu dở hay chi đó
Trời đất tim tay đem nuốt luôn

48
HỌA VẬN BÀI VỊNH TÔ TẦN 
CỦA THÚC GỊA TƯỚNG CÔNG

Chẳng kịp Điền Văn hối chậm rồi
Đâm đùi năm ấy thật buồn thôi
Âm phù đọc khắp sao không chước
Tung ước tên cao tự có thời
Ở Triệu ơn nhiều còn chưa đáp
Bỏ Yên việc ấy bởi ngu ơi
Về Tần sáu nước người đà khiến
Chỗ thấy như ông cũng thấp thôi.

49
BÀI THƠ THAY MÔN ĐỆ 
ĐÁP LẠI VIỆC TIẾC THỜI GIAN 

Nhà tề nước trị gốc tu thân
Nên tiếc thời gian tấc lại phân 
Gạch chở mệt mình đâu nhắm lộc
Cửa qua không ghé há lo bần
Bóng trời tám tấc thông thần chí
Áo sớm năm đêm cảm chúa ân
Giả sử có làm, làm đúng thế
Nay người nào ấy xưa người nào

50
TÁM CẢNH Ở NÚI

Một dãy núi nam tấm chắn xanh
Cỏ hoa tranh vẽ nước reo quanh
Gió tùng làm quạt màn mây dệt
Gối đá hang mây trăng đón nghênh

51
VỊNH ẾCH

Câu Tiễn trước xe tỏ khí hùng
Ếch ngồi đáy giếng phát kiêu hung
Chung riêng làm rộn toàn vô lý
Sông núi Đường kia mi lật tung

52
XU CHUỘNG TRÀO LƯU MỚI

Bất tương ưng hạnh Phật tuyên từng
Thầy núi lạ thay chẳng tự tôn
Ẩn tích há hay thẹn yến ngủ
Ra non ấy đó chạy gà rừng
Tư trào cuộc mở thêm tân quỷ
Danh lợi trường đua nhốt cựu hồn
Khá tiếc năm rồi suông vọng ngóng
Cọp buông sói dắt loạn thiền môn

53
ĐĨ GIÀ CHỌC NGƯỜI TÌNH[6]

Son phấn nhiều lúc phải bỏ liền
Việc gì tâm sắc khổ triền miên
Dơ còn giận thiếp lòng sông đuổi
Bờ cách thương chàng mắt chó xuyên

54
XIN MÈO

Trên trời dưới thế thảy buồn hiu
May tới cửa thiền chẳng thị phi
Chỉ giận năm nay nhiều chuột lũ
Tiểu đồng kêu bảo xin con mèo

55
NGÀY 25 THÁNG CHẠP NĂM ĐINH HỢI (1947) 
GỞI GIÁC BẢN THƯỢNG NHÂN

Gần đây không việc, học làm anh tiều, trong rừng đốt củi cháy tới nhà tranh. Năm tháng sắp hết, lo làm lo lụng, có hẹn không tới, xin thầy thứ lỗi.
Trong rừng đốt củi học làm tiều
Mấy nóc nhà tranh luống rụi thiêu
Thu thập tro tàn đâu dám nhảng
Tung hoành đuốc cháy chẳng nại chiều
Ấm đưa sao biết lòng trời hậu
Ánh lẫn há rằng mặt tớ điêu
Vạ cá trong ao sao giải cứu
Dồi cao muôn trượng dội cơn triều

56
ĐẦU CHỊU MỘT HÈO

Thương ngươi hậu sanh
Chỗ thấy mờ mịt minh minh
Chữ Hán chưa biết
Bàn bậy Phật kinh
Lúa đâu chưa phân
Sao rõ vọng chân
Làm vẹt học nói
Cua bò lung tung
Quốc văn trước thuật 
Lộn xộn linh tinh
Xấu chẳng muốn nhìn
Dở, nghe chẳng muốn 
Hoằng đạo hoằng pháp
Kêu quý kêu canh
Chạy chuộng triều mới
Như lằn theo tanh
Đồ thừa ních lấy 
Tự cho là vinh
Thích nghiền vảy nhọt 
Mượn vật nên hình
Dọa người hung dữ 
Theo cọp a dua 
Người đời đến tới
Mặt hoa đón đưa
Đem ma làm Phật
Đổi đạo ra tình
Múa môi uốn lưỡi 
Đánh nhau tranh giành
Làm mày mất đức 
Tổn bại tiếng mày
Làm sâu dưới đất
Chẳng hót chẳng bay
Nặn đầu vặn óc
Tim đập mắt lay
Than ôi xuẩn động
Đồ nhỏ dễ đầy
Thà cho vắng lặng
Tỉnh táo đâu dùng
Diêm la gần cõi
Xa thành Pháp vương
Tương bùn thịt thúi
Đưa mày lên đường

57
HỌA VẦN BÀI TRUNG THU CỦA
THÚC GỊA THỊ

Nước biếc trời xa một sắc thu
Nhìn trăng luống những khiến thêm sầu
Rừng xanh oan khí đầu quay lại
Thuyền nhỏ sông Hương l