THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
Tình trạng văn bản
Phân tích nội dung
Mấy nhận xét
.
Lê Mạnh Thát 
TOÀN TẬP CHÂN ĐẠO CHÁNH THỐNG
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam

THỦY  NGUYỆT TÒNG SAO

Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
192
CHÚ THÍCH VỀ TỪ

I.
Thuyết Hạng: Hạng Tư, tự Tử Thiên, người Giang Đông đời Đường, mấy lần thi rớt, bèn đem bài đến yết kiến Dương Kỉnh Chi. Dương khen thưởng lắm, bèn làm thơ để giới thiệu lên đường rằng:
Mấy lượt thấy thơ, thơ rất đẹp
Khi xem tiêu cách quá hơn thơ
Sinh bình không hiểu chê người tốt
Rốt cuộc gặp người, nói Hạng Tư
Bài thơ truyền đến Trường An, năm sau bèn thi đỗ cao, nay khen ai nói về cái tốt của người, thì gọi là thuyết Hạng.
II.
Thức Kinh: Lý Bạch viết thư cho Kinh Châu:
Sống không xin phong Vạn hộ hầu
Chỉ xin một biết Hàn Kinh Châu v.v...
Tức Hàn Triều Tông, từng làm thứ sử Kinh Châu ở đời Đường.
III.
Trì đường xuân thảo[98]: Tạ Linh Vận mơ thấy người em họ là Huệ Liên, được câu thơ:
Trì đường sinh xuân thảo
(Bờ đìa mọc cỏ xuân)
cho là rất hay. Liên mười tuổi đã có thể làm thơ, người ta cho là thần đồng
IV. 
Khế khoát: Siêng năng. Thơ có câu:
Tử sinh khế khoát
Cũng có nghĩa là sơ khoát. Có chỗ nói:
          Hành lộ cấp tốt
Phi trần khế khoát 
(Đường đi gấp vội
Chẳng bày khế khoát)
V.
Khương Lạc: Tạ Linh Vận đời Tấn nối tước phong Khương Lạc công, tính thích sông nước, làm đôi guốc có răng. Khi lên núi thì xếp răng trước xuống, khi xuống núi thì bỏ răng sau, thường tự hào rằng: “Xưa nay thiên hạ văn chương có mười đấu thì Tào Tử Kiến được tám đấu, văn nhân thiên hạ cộng hết được một đấu, riêng Vận được một đấu”. Râu rất đẹp. Lúc gặp nạn, bèn cắt bộ râu mình cúng cho chùa để làm râu cho tượng Duy Ma Cật. 
VI.
Tưu sinh: Hán thư có câu “Tưu sinh thuyết ngã”, tức chỉ cá nhỏ thường nổi ở mặt nước vậy, dùng để nói khiêm về mình, hoặc chê người là tiểu nhân.
VII.
Ốc châu: Tên núi, rất đẹp. Người đi ẩn phần lớn ở đó, cũng có tên Mãi ẩn, để đòi thiên tử trưng mời. Lưu Trường Khanh làm thơ để cười rằng:
Chớ mua núi Ốc Châu
Người ta đã biết chỗ
VIII.
Tinh đao: Tinh Châu làm dao rất sắc. Cũng gọi là Tinh Châu tiển. Thơ Đỗ Phủ có câu:
An đắc Tinh Châu khóai tiển đao
(Đâu được dao sắc của Tinh Châu)
để ví dụ việc chóng vánh.
IX.
Tam lang: Tên của Đường Minh Hoàng thời nhỏ. An Sử làm loạn, Minh Hoàng chạy vào Thục. Ở trạm nghỉ chân, nghe tiếng chuông nhỏ, mặt giống như có vẻ suy nghĩ. Bầy tôi đi theo là Hoàng Phiên Xước nói: “Chuông tức là chuông nhỏ của Tam lang”. Vì ghét việc ông không quan tâm đến việc nước mất, mà lại nghĩ tới Dương quý phi
X.
Trà liêu: Trong thời Đường Đại Trung (847-859), Đông đô dâng một nhà sư 130 tuổi. Tuyên Tông hỏi uống thuốc gì, bèn đáp: “Thần thuở nhỏ nghèo hèn, vốn không biết đến thuốc, chỉ thích trà”. Nhân thế vua ban cho 50 cân, bảo ở chùa Bảo Thọ, gọi chỗ uống trà là Trà liêu.
XI.
Kiếp hôi: Hán Vũ Đế ở hồ Hậu Côn Minh thấy có vết tro ở dưới đáy hồ, bèn lấy làm lạ, hỏi Đông Phương Sóc. Sóc tâu: “Thần không biết. Gần đây có nhà sư người Hồ mới đến, nên gọi vào hỏi”. Nhà sư đến xét nghiệm một lúc lâu, bèn nói: “Lúc kiếp sơ, chỗ này là biển, tang thương biến cải, giống sinh vật nước chết đi, mà còn để lại tro của chúng”. Đó gọi là kiếp hôi.
XII.
Trầm La hương thảo: Khuất Nguyên, tự là Bình, người Sở thời Đông Châu, Tống Ngọc thờ làm thầy, là đại phu nắm Tam lư thị, bị vua Sở nghi ngờ đuổi. Nguyên khôn xiết lo giận, bèn ôm cục đá, tự dìm ở sông Mịch La. Vào lúc ông bị đuổi, bèn làm thơ Ly tao, lấy hương thảo (cỏ thơm) để tự sánh mình.
XIII.
Giao nhân: Loài cá, đầu người mình cá, dệt lụa rất tinh xảo, thời Châu thường đi bán cho con người, nghỉ đêm ở nhà trọ. Chủ nhà đãi rất hậu, khi đi, bèn khóc, nước mắt rơi thành ngọc, để tạ ơn.
 
  
XIV.
Vân vật: Cũng như nói cảnh vật. Thơ Đổ Phủ có câu:
Tứ siêu vân vật ngọai
(Tứ thơ vượt ra ngoài cảnh vật)
XV.
Ban kinh: Trải cỏ kinh ra đất mà ngồi. Thời Đông Châu, người nước Sở là Ngũ Cử làm bạn rất thân với Thanh Tử, gặp nạn chạy qua nước Tấn, gặp Thanh Tử ở giữa đường, bèn trải cỏ kinh ra ngồi để nói chuyện. 
XVI.
Lý Quách tiên chu: Thời Đông Hán, Lý Ưng tự là Nguyên Lễ và Quách Thái tự là Lâm Tông, văn chương đức hạnh đều vượt lên người đương thời. Mỗi lúc rảnh rỗi, hai ông dùng thuyền đi du ngọan, phiêu bồng như có phong cách của thần tiên. Người đời gọi là Lý Quách tiên chu. Một hôm gặp mưa, mũ hai sừng của Quách thấm nước mưa cụp xuống một sừng. Người ta phần lớn bắt chước, cho là cao nhã. Quách sở dĩ được Lý Ưng kính trọng, vì Quách không phải là người trong biển quan lại.
XVII.
Khâu sanh: Quý Bố là người thời Tây Hán, có tín nghĩa. Tục ngữ đương thời có câu:
Thiên kim chi đắc
Bất như Quý Bố nhất nặc
(Được cả ngàn vàng
Không bằng một lời vâng của Quý Bố)
Bố lúc phiêu dạt gặp Khâu Sanh lo lắng cho nhau. Tên Bố nhờ thế nổi lên. Hạng Võ mời để dùng. Đến khi Hạng Võ thua, Cao Tổ ra lệnh: “Ai được Quý Bố thì thưởng cho ngàn vàng, phong Vạn hộ hầu. Ai che giấu sẽ bị giết cả họ”. Bố sợ, bèn cắt tóc làm nô đến ở nhà của họ Chu. Chu biết là Bố, bèn không quản ngàn dặm đến nói với Đằng Công Anh rằng: “Quý Bố tội gì? Đương lúc Hán Sở tranh nhau, mỗi người đều vì chúa của mình thì cũng thường tình, và cũng là phận sự của nghĩa sĩ. Nay nhà Hán được cả thiên hạ mà còn muốn vây giết những người hào kiệt, sao không độ lượng thế ư?”. Đằng Công nói với Cao Tổ. Cao Tổ bèn tha mà cho làm quan. Sau khi Bố quý hiển, họ Chu chưa từng một lần gặp.
XVIII.
Hoa ngạc liên huy: Đường Huyền Tông tính ưa thích bạn. Trong cung bèn dựng hai lầu ở phía Tây và Nam tên lầu phía Tây là lầu Hoa ngạc tương huy. Vua cùng với các vương ăn yến và ngủ ở đó để diễn tả việc vui của tính trời. 
XIX.
Diệm khê: Tải Quỳ tự là An Đạo, là người thời Tấn, sống ở Diệm Khê, nên cũng gọi là Tải Khê, tức nơi Vương Tử Hiến đi thuyền trong tuyết đến thăm Tải, hết hứng bèn trở về. 
XX.
Hứa Phi Quỳnh: Tên của tiên nhân xưa. Hán Vũ nội truyện kể Vương mẫu sai  hầu gái là Phi Quỳnh thổi ống sáo Chấn linh. 
XXI. 
Hàn Khương: Tự là Bá Hưu, người Bá Lăng thời Đông Hán, bán thuốc ở chợ Trường An, miệng không nói hai giá. Có cô gái theo Khương bán thuốc. Khương giữ giá không đổi, cô gái tức giận nói: “Ông là Hàn Bá Hưu sao mà không nói hai giá”. Khương chán việc quấy rối, bèn trốn đi.
XXII.
Lan đài: Tống Ngọc cùng vua Sở đi chơi ở Lan đài. Ngọc làm bài Cao đường phú, gởi gắm cái oan của Khuất Nguyên chết chìm ở sông Mịch La.
XXIII.
Lạp kích: Tống thơ kể Nguyễn Phu tính thích guốc, lấy sáp ong chà cho bóng để phòng khỏi bị hư hao, nên có tên đó.
XXIV.
Minh kha: Kha là một thứ ngọc người sang dùng để trang sức ngựa, nên dàm ngựa để vào chầu, gọi là minh kha. Đó là vì ngựa đi thì ngọc kha va nhau mà thành ra có tiếng.
XXV.
Du mộ: Lưu Nghệ cầm dụ kim mấy cân mà đi, nói: “Đây là người trong mộ nịnh hót có được, không để cho chúc thọ Lưu quân”, bởi muốn chê bai người nhận vàng của kẻ khác mà làm văn bia trên mộ người ta.
XXVI.
Cầm hạc phong lưu: Người nước Lỗ thời Xuân Thu là Mật Bất Tề, tự là Tử Tiện, làm quan tể ở Đơn Phụ, nuôi hạc đánh đàn, mà ấp vẫn yên ổn lớn. Khổng Tử cho là quân tử.
XXVII.
Hoa huyện: Phan Nhạc đời Tấn, tự là An Nhơn, làm quan tể ở Hà Dương, cả huyện đều trồng đào mận. Lý Bạch làm thơ nói: “Hà Dương hoa làm huyện”.

193
ĐỀ TIỂU ẢNH TẶNG CÁC BẠN ĐẠO

I. Trí Thủ
Chẳng không chẳng có 
Tức giả tức chân
Coi đó là ai
Trí Thủ thượng nhân
II. Mật Nguyện
Bích Phong pháp dĩ vượt tình vị
Mật Nguyện làm sao định giả chân
III. Trí Đức
Chẳng mình chẳng người
Chẳng rời chẳng tức
Chính đó là ai
Nhân giả Trí Đức
IV. Trí Quang
Thủy nguyệt tùy duyên
Diệu hữu thành phi hữu
Trí Quang chiếu khắp
Chân không chẳng phải không
V. Thanh Tùng tại Bắc Việt
Khi mộng nói vờ tha lại tự
Trong gương sao can giả với chân
VI. Trọng Ân
Có thân nói quáng không thân tốt
Một bóng hay khiến muôn bóng theo
VII. Hoằng Thơ
Muốn cậy chân thân trình tướng giả
Trước treo gương huệ chiếu quần sinh
VIII. Khánh Nghiêm tại Nam Việt
Tướng giả không sai chân thật tướng
Một thân lại hiện sát trần thân
IX. Ban cho thị giả
Giả chân đã chẳng 
Há bàn tới lui 
Chẳng bảo mà tin
Chẳng nộ mà uy

194
LỜI SỚ ĐÚC TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ
Cúi nghĩ,
Pháp thân không tướng, tùy cơ hơn kém mà sai nhau, phẩm sen chẳng hình, theo nguyện cao thấp mà tự khác. Lễ tuân lời ngọc, bèn đúc thân vàng, dặn nhớ mở cửa 48 nguyện, bày phép 16 quán. Từ bi lượng lớn, nhòm ống lắm thẹn với trời xanh. Nhiếp thọ ơn sâu, lường bầu lại hổ với biển biếc.
Tin thay sắc tướng vàng ròng, nguyên chẳng phải lò rèn mà tới. Song e tùy loại ứng thân, chỉ mong muốn căn trần hiện lên.

195
RĂN ĐỜI
Nghiệp tham sân si
Buồn sinh linh vô lượng kiếp đắm mê. 
Cha là heo cưới bà nội làm vợ
Phật Di Lặc bụng phình phình hề cười rộ 
Được mất tiền đồ khôn tự liệu
Vinh nhục việc ấy há vô bằng
Ngộ Đạt từng mười kiếp làm cao tăng
Lòng mới nổi ham danh chiêu ác báo
Tin ngày này nhân duyên do tự tạo
Ấy lúc kia nghiệp quả thảy khôn trốn
Trường danh rú lợi lăn lộn 
Hình bóng tiếng vang tơ hồng không sai
Tất do đạo chính ôm hoài 

196
SÁNG XUÂN CẢM TÁC
Trời lên núi cao,
Sáng đẹp vô biên thế giới
Cỏ hoa ánh xuân giải 
Chim cá tự tại đi
Làm chi ư
Bên nhà con nhện giăng lưới
Trước sân lũ kiến kéo binh
Mơ ư, tỉnh 
Gian khó còn tí chết
Nhân quả hỏi ba sinh
Lệ đầy tràn 
Mênh mông biển lớn buồn bèo trôi
Ngoái đầu là bờ
Sao buồn đường mười vạn 

197
TẶNG TỲ KHEO NI THỂ QUÁN
Miệng cọp ra rồi việc đáng bi 
Duyên lành duyên ác hẹn đúng kỳ 
Cơ thiền đã vậy không tam thế
Trần mộng sao phiền luận bốn tri
Bút viết ánh châu nên tự gắng
Mắt trông kim tướng hãy còn nghi
Mới sinh thấy nói ao sen tắm
Sau đó khó gì chứng Bảo trì 

198
TẶNG MÔN ĐỆ PHẬT HỌC ĐƯỜNG 
NHA TRANG 
Ngày xưa tiểu ẩn lúc lồng trần 
Việc ấy khôn liều hẹn với anh
Cay đắng đời đây đâu nếm được
Tế vi việc đó sao hay rành
Nhà thiền nói tới tuôn đôi lệ 
Việc thế xem ra đau mấy lần
Biết tớ, biết anh hoặc có kẻ 
Thầy kia giám viện ấy người cần 

199
THAY VIẾT BÀI CHÂM SAU BỨC BÌNH PHONG 
CỦA THÁP HÒA THƯỢNG GIÁC NHIÊN 
CHÙA THIỀN TÔN

Tốt lành thay
Quạt từ gió xuân 
Thấm bi mưa hạ 
Trăng thu quạnh tròn
Tùng đông riêng mướt
Lớn trùm sa giới
Chẳng đến chẳng đi
Nhỏ tới vi trần
Không mùi không tiếng 
Tuổi nhỏ theo Phật
Phước trí gồm tu
Một hiểu nhập thần
Thầy trò trao nhận
Mang y giữ bát
Lợi khắp trời người
Giao kệ bàn kinh
Đạo thông tăng tục
Tăng cang ngày ấy
Biển chúng đều cậy
Hòa thượng lúc này
Giới châu rộng vải
Diêm phù dạy đủ
Thẳng tới vô dư
Bốn chúng thỉnh cầu
Tháp lưu đất ấy 

200
BÀI MINH TRÊN BÌNH PHONG 
SAU THÁP CỦA HÒA THƯỢNG GIÁC NGUYÊN 
CHÙA TÂY THIÊN
Trượng thất theo hầu đã mấy niên
Y bát gia phong hợp diệu truyền
Củ nướng đâu hay lòng đã sướng
Gạch đôi chóng hiểu tính thường viên 
Tang thương kiếp ấy thành như vậy
Vinh nhục trường kia thấy tự nhiên
Ngoái đầu nhằn nhọc mơ ba cõi 
Chung thủy một niềm nhắm Tây thiên

201
RÕ HUYỄN LÀ CHÂN
Vườn Kỳ trồng giống đạo
Y bát truyền ứng cúng lợi trời người 
Nước thu lắng trăng thu cùng tròn trịa
Hương mới đốt, nỗi vô biên lầu gác 
Nhất là thân này phải tự giác 
Lại nghĩ đời sau còn kiếm gì
Bàn cờ phân Á Mỹ Âu Úc Phi 
Đen ư, trắng ư
Đồng ngoài thành xiết bao đất vàng lở 
Xưa đã sai, đâu chịu nay là sai
Rất mệt óc vẽ cọp để làm chi
Hoa sen thắng hội hẹn kỳ
Năm thêm tuổi đạo kịp thì huân tu
Mười phương đều tại tâm đầu

202
TRUY NIỆM ĐỨC THẾ TÔN TA
Điềm ứng hoa đàm hiện 
Sóng lặng in biển thâm 
Nước thành cá vào mộng
Con vợ chim đậu rừng
Ngựa liếm ngọc liền lệ 
Người thương luyến chúa tâm
Linh sơn xanh chung cổ
Muôn loài ngưỡng di âm

203
TẶNG BÀI MINH 
GHI PHẦN MỘ CỦA TIÊN SINH NGUYỄN HY ĐÌNH
Văn vũ dọc ngang sân thế gia
Chiếm riêng một cảnh tình đâu ngăn 
Riêng chiếm phong quang vô hạn tình
Bút gươm ơn cũ ngài vâng lắm
Y bát tiếng nhàn tớ trốn cười
Mệt đến chim bay buồn chiều tới
Già rồi ngựa chạy biếng đường xa
Nhục vinh ngó lại theo dòng nước
Nên kiếm đất lành chọn một nơi
LẠI GỞI THĂM
Đường thư thuyền xe tiện 
Bận sống người hiềm lo 
Muốn đến cùng thăm hỏi
Một đi lại quanh co
Chim đau buồn thu lạnh
Đêm dài khổ tuổi cao
Chúc anh mãi tự tại
Việc đời hãy nhìn sơ

204
THĂM ĐẠI ĐỨC TRÍ THỦ, 
GIÁM  VIỆN PHẬT HỌC NHA TRANG
Cửa thiền khỏe mạnh giống bồi vun
Chẳng kém ba sinh đá ấy hồn 
Kia cõi chưa từng quên cõi đó 
Có lời chính muốn rõ lời không 
Người bên quàng gọi non sông cách
Tớ tự sâu hay đạo nghĩa còn
Nếu hỏi năm kia gì được đó
Già gồm nghèo bệnh chúng trung tôn

205
THƠ LÀM THAY KHÓC VỢ
I.
Bọt bóng ngoái đầu lệ lặng tuôn
Làm chi thân thế nhọc nhằn luôn
Mà nay trần lự nàng không nghĩ
Chung cổ u hoài ta tự buồn 
Mấy thuở nhân duyên như giấc mộng
Nỗi kia tâm sự nhắm ai buông
Đáng thương tài sắc vô song ấy
Hoa nguyệt về chưa về ấy hồn 
II.
Xưa nay đôi đẹp tự do trời
Đời trước đời nay đem chọn thôi
Kết tóc gối cùng vui nhớ mãi
Rụng hoa còn giận tiếng mất rồi
Khó đầy biển hận đều vì bạn
Riêng ấp trời tình nên xót tôi
Cầm bút bồi hồi buồn khó tả
Bỗng nghe chuông lậu điểm canh rơi
III.
Đầu bạc họp nhau chính có kỳ
Ai hay rừng đậu lại chim bay
Có thiêng dưới suối em tin chắc
Đâu hại trên đời anh vẫn nghi
Anh tội há can em có tội
Người hay mặc họ quỉ liền hay
Non sông như thế thôi xong vậy
Tâm sự trăm năm ván tượng kỳ
IV.
Em đã hồn về, trời hận rời
Đêm đêm đâu chịu cảnh mình côi
Tấc lòng còn ngóng trời tình vá
Việc ấy nhọc suông biển giận bồi
Đời lánh đâu vì chê anh vụng
Nên nhà tự chắc cậy em tài
Cung trăng Bồng đảo khôn tìm kiếm
Sớm tối đốt hương một niệm ngời
V.
Tử biệt sinh ly bọt nước mau 
Đảo điên trước mắt kiếm gì đâu 
Tám năm chăn gối nghìn hàng lệ
Một tấm u hoài vạn hộc sầu
Nỡ giữ trời tình rơi biển hận
Riêng thương xanh cỏ phủ gò cao 
Từ xưa người đẹp như danh tướng
Không hứa nhân gian thấy bạc đầu
VI.
Hẹn biển thề non việc lỗi rồi 
Thâu đêm đèn quạnh ngậm bi ai 
Nhớ suông chén rượu ngày thơ viết
Còn xót sân nhà lúc nguyệt vơi 
Vờ bảo trên sông tin cá tít 
Thôi bàn trời mé nhạn thư sai 
Ruột buồn muốn đứt em hay nhỉ
Đứt nối tiếng lòng buồn tử quy

206
THAY LÀM ĐỐI LIỄN THỜ GIA TIÊN
I. 
Kinh chi doanh chi, ấm lưu thiên tải hạ
Du chi cửu chi, đạo tại lưỡng nghi gian
(Sửa kia làm kia, bóng lưu tới thiên cổ 
Xa vậy lâu vậy, đạo ở tại lưỡng nghi)
II.
Tổ đức tôn công, kỳ lai giả viễn hỷ
Xuân thường thu tử, phất thế hồ dẫn chi
(Đức tổ công tôn, nguyên lai ấy xa vắng
Xuân cúng thu tế, chẳng bỏ vậy dâng lên) 
III.
Tuế tự tổng nan vong, thốn thành tại niệm 
Canh tường như tương kiến, chí đức vô nhai
(Bậc tuổi thảy khó quên, tấc thành tại niệm 
Nhớ cha như gặp nhau, chí đức vô bờ)
IV.
Nãi vũ nãi văn, vạn cổ tinh thần lương hữu tự 
Ư vị ư dục, thiên thu hương hỏa khởi vô nhân 
(Ấy vũ ấy văn, vạn cổ tinh thần tin có gốc
Đối vị đối sinh, thiên thu hương hỏa há không nhân)
V.
Thế tục cơ cừu, tân sự nghiệp 
Gia truyền trung hiếu, cựu văn chương
(Đời nối nghề xưa, mới sự nghiệp 
Nhà truyền trung hiếu, cũ văn chương)
VI.
Nhất phiến từ bi bằng diệu lực
Thiên thu trở đầu đáp hồng ân
(Một tấm từ bi nhờ diệu lực
Nghìn thu cúng giỗ đáp hồng ân)

207
VIẾNG MỘT LÃO CƯ SĨ 
Nhân sanh đáo thử diệc giai, nữ hữu gia nam hữu thất
Thế sự hồi đầu tợ mộng, sanh nhi ký tử nhi chi
(Đời người đến đó cũng hay, gái có chồng, trai có vợ
Thế sự quay đầu như mộng, sống là gởi, thác là về)

208
CHO CÂU ĐỐI NIỆM PHẬT ĐƯỜNG VẠN PHÚ
I.
Vạn thiên ư số phi đa, tùy xứ tường vân thành mạc trắc
Phú quý thị nhân sở dục, nhất trường xuân mộng cánh hà chi
(Muôn nghìn về số chẳng nhiều, tùy chỗ mây lành thành khó tính
Giàu sang là người đều muốn, một giấc mơ xuân để làm chi)
II.
Bảo phiệt độ mê xuyên, thử giới đốn siêu, tha phương tùy hiện
Thần đăng khai ám thất, nhất chân bất muội, vạn pháp tề chương
(Thuyền báu vượt sông mê, cõi này mau qua, phương kia theo hiện
Đèn thần mở nhà tối, một thực không mờ, muôn pháp rõ đều)
III.
Pháp hữu thiên viên, môn đình nghi biệt thiết
Tâm vô quải ngại, sinh tử bất tương quan
(Pháp có lệch tròn, môn đình nên riêng thiết
Lòng không quải ngại, sống chết chẳng tương quan)

209
CHO CÂU ĐỐI NIỆM PHẬT ĐƯỜNG THIÊN HƯƠNG
I.
Thiên hà ngôn tai, tứ thời hành như vạn vật dục
Hương mạc đại giả, nhất chú khởi nhi thập phương văn
(Trời nói gì đâu, bốn mùa đi mà vạn vật dưỡng
Thơm chẳng gì lớn, một nén thắp mà mười phương nghe)
II.
Đạo bất viễn nhân, lợi tha hoàn tự lợi
Từ năng tế vật, cầu chân tức vọng cầu
(Đạo không xa người, lợi tha thành tự lợi
Từ hay giúp vật, tìm chân tức vọng tìm)
III.
Phục hiện sát trần thân, chiêm tại tiền hốt tại hậu
Quy đầu Tịnh Danh thất, hình tại ngọai thành ư trung
(Lại hiện sát trần thân, nhìn ở trước bỗng ở sau
Quy về Tịnh Danh thất, hiện ở ngoài thành ở trong)
IV.
Thúy trúc hoàng mai, đồng đăng hoan hỷ địa
Thanh sơn bích thủy, bất tác tự tha tâm
(Trúc thúy mai vàng, đều lên hoan hỷ địa
Núi xanh nước biếc, không móng tự tha tâm)
V.
Đạo thành chánh giác thị hùng tôn, chiết phục đại thiên thế giới
Phật thị chúng sanh như nhất tử, nhiếp đăng cửu phẩm liên đài
(Đạo thành chánh giác bậc hùng tôn, chiết phục ba ngàn thế giới
Phật xem chúng sinh như con đỏ, đem lên chín phẩm đài sen)
VI.
Giác thế bản vô tư, cơ tùy đại tiểu
Minh tâm hoàn tự dị, pháp hữu thiên viên
(Giác thế vốn không riêng, cơ tùy lớn nhỏ
Rõ lòng thành tự khác, pháp có lệch tròn)
VII.
Dã thảo nham hoa, hữu duyên triêm pháp vũ
Sơn thôn thủy quách, tùy xứ kiết tường vân
(Cỏ nội hoa non có duyên gội mưa pháp
Xóm núi thành nước, tùy chỗ kết mây lành)

210
THAY TÍN ĐỒ THIÊN CHÚA GIÁO 
MỪNG LẠC THÀNH
Phước tự thiên thân, khẳng đường khẳng cấu
Lạc tùng nhân nguyện, tư tụ tư ca
(Phước tự trời cho, con nối cha nghiệp
Vui tự lòng người, đây nhóm đây ca)

211
THAY CHÙA SƠN LONG TỈNH BÌNH ĐỊNH 
CHO CÂU ĐỐI TRONG NGOÀI
I.
Sơn hữu tiên tắc danh, hiển thật khai quyền, tề chương vạn đức
Long tùy thời nhi hiện, hưng vân trí vũ phổ nhuận tam căn
(Núi có tiên thì nổi, hiển thật mở quyền đều rực vạn đức
Rồng tùy thời mà hiện, nổi mây đổ mưa thấm khắp mọi loài)
II.
Sơn bất tại cao, đáo xứ nghi vi bình đẳng hạnh
Long phi sở trụ, tùy duyên bất tác tự tha tâm
(Núi không tại cao, đến chỗ nên vì bình đẳng hạnh 
Rồng chẳng chỗ trụ, tùy duyên chẳng móng tự tha tâm)
III.
Bình thản vô tư, lưu khứ vãng hoàn tùy sở tiện
Chính trực thị dự, đông tây nam bắc ứng hồ trung
(Bằng phẳng không riêng, đi ở tới lui tùy chỗ tiện
Chính trực ấy dự, đông tây nam bắc ứng giữa thôi)
IV.
Phật ấn nhất thừa, bất tức bất ly, vạn phái thiên lưu quy đại hải
Pháp khai ngũ giáo, thị chân thị giả, thập phương tam thế bản duy tâm
(Phật chọn nhất thừa, chẳng tức chẳng ly, muôn sông ngàn lạch về biển lớn
Pháp mở ngũ giáo, ấy chân ấy giả, mười phương tam thế vốn tại lòng)

212
VIẾNG BẠN CŨ CƯ SĨ MỖ
Đáo tử hà ngôn, thiên cổ anh hùng câu thị tử
Yếm sanh tư thế, cửu liên trì thọ thủ vô sinh
(Đến chết nói gì, thiên cổ anh hùng đều chết cả
Chán sống đời đó, chín sen ao cội lấy vô sinh)

213
VIẾNG BẠN ĐẠO 
Quân phi tử da nhân thế giai ngôn quân dĩ tử
Ngã thả sinh dả hỗn trần ninh trắc ngã vô sinh
(Anh chẳng chết ư, nhân thế đều thưa anh đã chết
Tớ còn sống đó, bụi mờ đâu biết tớ vô sinh)

214
THAY LÀM LIỄN CHO NIỆM PHẬT ĐƯỜNG CÂU HOAN
I.
Câu thị thượng thiện nhân, trì khai bát đức
Hoan tai tịnh độ cảnh, thọ nhiễu thất trân 
(Đều bậc thượng thiện nhân, hồ mở tám đức
Vui thay tịnh độ cảnh, cây vây bảy trân)
II.
Nhược hữu nhược vô tình, thử vi bồ tát diện mục
Phi ngã phi pháp tướng, chân thành Phật tổ gia phong
(Hữu tình với vô tình, đó là mặt mũi bồ tát
Chẳng ngã tướng pháp tướng, chân thành Phật tổ gia phong)
III.
Thiết thạch kỳ tâm, bất thiên bất ỷ
Từ bi thử địa, nhi thản nhi bình 
(Sắt đá lòng kia, không nghiêng không ngửa
Từ bi đất đó, vừa phẳng vừa bằng)
IV.
Ngô hà úy bỉ tai, tử sinh nhược thị
Phật diệc do nhân giả, triêu tịch ư tư
(Ta sao sợ nó ư, sống chết như thế
Phật cũng do người vậy, sáng chiều ở kia)

215
THAY VIẾT CÂU ĐỐI 
CHO TAM QUAN CHÙA VẠN PHƯỚC
I.
Vạn thiên phương tiện tùy thời, dụng xả hành tàng do thị đạo
Phước lợi hàm linh giáng thế, đông tây nam bắc ứng hộ trung
(Muôn ngàn phương tiện tùy thời, dùng bỏ hành tàng do đường đó
Phước lợi hàm linh giáng thế, đông tây nam bắc ứng giữa thôi)
 
II.
Tam giới vãng hoàn, tạc mộng sơ hồi do thị mộng
Chư duyên biến dịch, thử thân tá vấn tức thùy thân
(Ba cõi tới lui, mộng rồi mới tỉnh cũng là mộng
Các duyên biến đổi, thân này mượn hỏi tức thân ai)
III.
Đại thí thử môn khai, chấn pháp lôi, kích pháp cổ
Vô già tư hội khải, minh thiên nhạc, tán thiên hoa 
(Cho lớn mở cửa này, rền sấm pháp, đánh trống pháp
Không ngăn đặt hội ấy, rung nhạc trời, rải hoa trời)
IV.
Thị không bất trước, thị sắc bất duyên, chứng chư pháp thật tướng
Vô Phật khả cầu, vô sinh khả độ, tức tam giới hùng tôn
(Không ấy chẳng mắc, sắc ấy chẳng duyên, chứng các pháp thật tướng 
Không Phật khá cầu, không người khá độ, tức tam giới hùng tôn)

216
THAY CHÙA BÁO QUỐC, 
DÂNG CÂU ĐỐI BÀN THỜ TỔ 
Bồ đề phi thọ, minh cảnh phi đài, y bát gia phong tại thử.
Đông độ bất lai, tây thiên bất khứ, truyền thừa đạo mạch vu tư.
(Bồ đề chẳng cây, gương sáng chẳng đài, y bát gia phong tại đó.
Đông độ không đi, tây thiên không tới, truyền thừa đạo mạch đến đây)

217
THAY BAN HỘ LĂNG, LÀM CÂU ĐỐI 
MỪNG NHÂN VIÊN MỖ LÊN CHỨC
I.
Vạn lý thừa phong ba lãng tịnh
Ngũ lăng diệu vũ lược thao nhàn
(Muôn dặm thừa phong, sóng nước lặng
Năm lăng diễu võ, lược thao yên)
II.
Thiên thu Hương thủy trường lưu bích
Chung cổ Bình sơn bất đoạn thanh
(Sông Hương muôn thuở luôn mãi biếc 
Núi Ngự nghìn năm chẳng hết xanh)

218
THAY HỌ MỖ LÀM CÂU ĐỐI CÚNG CÁC BẬC ĐI TRƯỚC[99]
I.
Hữu khai tất tiên, vạn cổ tinh thần hàm túy tụ
Khắc xương quyết hậu, thiên thu hương hỏa lại miên trường
(Có mở tất trước, muôn thuở tinh thần đều nhóm đủ
Hay đẹp kẻ sau, nghìn thu hương hỏa cậy lâu dài)
II.
Đại hỷ tai, văn chất bân bân, thằng kỳ tổ vũ 
Tối hảo giả, thanh danh liệt liệt, di quyết tôn mưu 
(Lớn lao thay, văn chất hoàn hảo, nối được vết tổ
Tốt đẹp quá, tiếng tăm lừng lẫy, để lại mưu con)

219
BUỘT MIỆNG 
Cách thế ngã tằng trần ngọai sự
Thử sanh thị thị cá trung nhân
 
  
(Cách thế, tớ từng việc ngoài bụi
Đời này, ai ấy kẻ trong kia)

220
THAY THẦY MỖ, TRONG NHÀ THỜ PHẬT, 
BIỂN ĐỀ TRÍ TUỆ 
Trí tính thường viên, thúy trúc hoàng mai vô hạn lạc
Tuệ quang phổ chiếu, thanh sơn bích thủy hữu dư nhàn
(Tính trí thường tròn, trúc thúy mai vàng không hạn sướng
Ánh tuệ chiếu khắp, núi xanh nước biếc có dư nhàn) 

221
THAY NIỆM PHẬT ĐƯỜNG THÚY VÂN, 
VIẾT CÂU ĐỐI TRONG NGOÀI
I. 
Thúy trúc thương tùng, thị sắc thị không, vô hạn phong quang trừng hải ấn
Vân thân nguyệt diện, phi chân phi giả, giá ban ý vị ngộ thiền cơ
(Trúc thúy tùng xanh, ấy sắc ấy không, vô hạn phong quang trong biển ấn
Mây thân trăng mặt, chẳng chân chẳng giả, thứ kia ý vị ngộ cơ thiền)
II.
Phật tính hữu tình, pháp tính vô tình, thị xứ bất ly phân biệt niệm
Không gian hoành tưởng, thời gian thụ tưởng, đương nhân mạc tác khứ lai tâm
(Tính Phật có tình, tính pháp vô tình, chỗ ấy chẳng rời phân biệt niệm
Không gian tưởng ngang, thời gian tưởng dọc, người kia chớ móng khứ lai tâm)
III. 
Linh lung tứ diện, ninh khả truy tầm, chiêm tại tiền, hốt tại hậu
Đột ngột kỷ tằng, thùy vi tỷ lượng, ngưỡng di cao, toản di kiên
(Lung linh bốn mặt, há thể truy tìm, nhìn tại sau, bỗng ở trước
Ngất nghểu mấy tầng, ai hay so sánh, trông càng cao, dùi càng bền)
IV.
Tiền Nhi hải, hậu Linh sơn, minh nguyệt thanh phong trường tự tại
Triêu từ chung, mộ pháp cổ, thiền âm phạn bối vi dung thông
(Trước Nhi hải, sau Linh sơn, trăng sáng gió trong luôn tự tại
Sáng chuông từ, chiều trống pháp, âm thiền tán phạn thảy dung thông)
V.
Ly Phật tướng, ly chúng sanh tướng, ly nhất thiết tướng
Tức pháp thân, tức báo ứng thân, tức tùy loại hóa thân
(Rời tướng Phật, rời tướng chúng sinh, rời hết thảy các tướng
Tức Pháp thân, tức báo ứng thân, tức tùy loại hóa thân)
VI.
Thủy tính bản vô thù, vạn phái thiên lưu hoàn tự dị
Phàm tâm nguyên bất trước, tam hiền thập thánh tổng giai như
(Tính nước vốn không sai, muôn dòng ngàn suối thành tự khác
Lòng phàm nguyên không mắc, ba hiền mười thánh thảy như nhau)
VII.
Điểm xuyết giang sơn khiêm địa lợi
Tài bồi thảo thọ phấn thiên công
(Điểm xuyết núi sông gồm địa lợi
Vun bồi cây cỏ sánh thợ trời) 
VIII.
Nhất phái thanh sơn thành diệu cảnh
Thất trùng hàng thọ kiến kỳ công
(Một dãy núi xanh thành cảnh diệu
Bảy lớp hàng cây thấy công kỳ)
IX.
Thơ đối thanh đăng lâm hạ độc
Thọ di đan quế nguyệt trung tài
(Sách đối đèn xanh trong rừng đọc
Cây dời quế đỏ trên trăng trồng)

223
CÂU ĐỐI NIỆM PHẬT ĐƯỜNG HIỀN LƯƠNG
I.
Hiền hồ tai, phổ lợi hữu vô tình, Thứu lĩnh cao tiêu hàm ngưỡng chỉ
Lương thị giả, bất phân thiện ác pháp, ấn triều đại chấn ức cường dư
(Hiền ấy ư, lợi khắp hữu vô tình, núi Thứu nêu cao đều ngưỡng mộ
Lành đó vậy, chẳng phân thiện ác pháp, triều in rền lớn hoặc mạnh sao)
II.
Phi diệt diệc phi sanh, vạn pháp tiên tùng sanh diệt khởi
Bất tăng hoàn bất giảm, nhất chân yên dụng giảm tăng vi
(Chẳng diệt cũng chẳng sinh, muôn pháp trước từ sanh diệt khởi
Chẳng thêm lại chẳng bớt, một chân đâu dụng bớt thêm làm)
III.
Gia truyền trung hiếu thanh danh cựu
Đạo khế chân như pháp giới khoan
(Gia truyền trung hiếu, thanh danh cũ

Đạo hợp chân như, pháp giới khoan) 
224
CÂU ĐỐI VIẾT THAY CHO CHÙA LONG AN,
QUẢNG TRỊ
I.
Long đức tợ vân khởi xuân sơn, thiên gia cọng ngưỡng
An tâm như nguyệt trừng thu thủy, vạn ảnh đồng viên
(Đức lớn tựa mây nổi núi xuân, ngàn nhà đều mến
Lòng yên như nguyệt trong nước thu, muôn bóng đều tròn)
II.
Tình tảo vân mai, đình ngọai trúc tùng phong tự hưởng
Quyên trừ trần cấu, môn tiền trú dạ thủy thường lưu
(Quét sạch bụi mây, ngoài sân trúc tùng, gió tự dội
Rũ hết trần bẩn, trước cửa ngày đêm, nước thường trôi) 

225
NIỆM PHẬT ĐƯỜNG QUY LAI
I.
Quy đầu đại giác tôn, nguyệt chiếu thu giang tâm tự ấn
Lai sinh An dưỡng quốc, phong xuy bảo thọ pháp thường văn
(Quy về đức Đại giác, trăng chiếu sông thu, lòng tự ấn
Sinh tới nước An dưỡng, gió thổi cây báu, pháp thường nghe)
II.
Ư chân ư tục ư trung, đạo tịnh hành nhi bất bối
Tức pháp tức báo tức hóa, thân thường trụ kỳ hà thiên
(Ở chân ở tục ở trung, đạo cùng hành mà không trái
Tức pháp tức báo tức hóa, thân thường trụ sao có dời)

226
BÀI TỤNG LỄ PHẬT ĐẢN[100]
Thành La Vệ giữa trời giáng đản
Khắp mười phương xán lạn sát trần thân
Một tức nhiều, sao phải nhọc tinh thần
Xa rời huyễn, ngoái đầu, chân cũng huyễn 
Phát gai gốc, đường to phải kiếm 
Muốn thấy trời xanh hết mây mù
Trải tăng kỳ ba đại kiếp gắng tu
Chẳng pháp tướng, cũng chẳng trái pháp tướng
Tùy vạn loại ứng thân vô lượng
Đèn truyền nghiệp chướng thảy tiêu ma
Đốt hương tham lễ Phật đà

227
CÂU ĐỐI CHÙA QUY THIỆN
I. Điện Đại Hùng
Quy hướng Từ Tôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, sắc kiến thanh cầu trần thượng chuyển
Thiện đăng bảo sở, việc tam hiền, siêu thập địa, nhân di quả dịch mộng trung khan
(Hướng về Từ Tôn, rời bốn cú, dứt trăm sai, sắc thấy tiếng tìm trên đời chuyển
Khéo lên chỗ báu, vượt ba hiền, qua mười địa, nhân dời quả đổi trong mơ xem)
II. Bàn thờ Tam bảo
Án túc phi hung, thường hỷ Như Lai hành xứ
Đê mi nộ mục, kỳ tai Bồ tát hóa thân
(Vạch ngực đè chân, chuộng ấy Như lai hành xứ
Cúi mày giận mắt, lạ thay Bồ tát hóa thân)
III. Bàn thờ Quan Âm
Lịch bách thiên ức giới, trợ Phật hoằng dương, hoặc trụ Ta bà hoặc cư Cực lạc 
Ứng tam thập nhị thân, tùy duyên phổ độ, diệc hiện tể phụ, diệc hóa nữ nhân
(Trải trăm ngàn ức cõi giúp Phật hoằng dương, hoặc ở Ta bà, hoặc cư Cực lạc
Ứng ba mươi hai thân tùy duyên độ khắp, cũng hiện tể phụ, cũng hóa nữ nhân)
IV. Tiền đường
1.
Quy đầu bảo địa ưng vô tướng
Thiện xiển kim văn giác hữu tình
(Quy về đất báu nên vô tướng
Khéo xiển văn vàng giác hữu tình)
2.
Cảnh tượng không hoa ninh bả tróc
Thân vân tâm nguỵệt đoạn ngôn tư
(Hoa đốm bóng gương đâu chụp bắt
Thanh mây lòng nguyệt dứt ý lời)
3.
Thạch chương nam triều Hương thủy bắc
Phụng sơn tây cũng Ngự Bình đông
(Núi đá nam chầu sông Hương bắc
Non Phụng ôm tây Ngự Bình đông)
V. Nhà thiền bên phải và trái
1. 
Phàm bất giảm, thánh bất tăng, pháp dĩ như thị
Ô tùng huyền, hộc tùng bạch, thiên hà ngôn tai
(Phàm không giảm, thánh không thêm, pháp là như vậy
Quạ thì đen, ngỗng thì trắng, trời nói gì đâu)
2.
Trước lực tư văn, bút hạ ưng di tinh đẩu
Túy tâm thử đạo, hồ trung biệt hữu càn khôn
(Sức viết văn này dưới bút nên dời sao đẩu
Lòng say đạo đó trong bình riêng có càn khôn)
3.
Thử sinh bất thậm kinh doanh vi nhân do kỷ
Sa giới vô cùng sự nghiệp xả ngã kỳ thùy
(Đời này không chịu làm gì nhân từ do tớ
Bao cõi vô cùng sự nghiệp, bỏ ta thì ai)
4.
Họa bỉnh sung xan, cảm cầu tri ngã
Phùng trường tác khí, bất khẳng nhiều nhân
(Bánh vẽ đem ăn dám tìm biết tớ
Gặp trường trò múa chẳng chịu nhường người)
5.
Tích trác dã tằng kinh bạch hạc
Kiếm phi không tự thí hoàng long
(Gậy cắm cũng từng kinh hạc trắng
Gươm bay luống tự thử rồng vàng)
6.
Mộng trung tùy thuyết nhân tranh lộc
Hải thượng vong cơ ngã khán âu
(Trong mộng nói leo người tranh lộc
Trên biển quên cơ tớ nhìn âu)
VI. Cửa chính tam quan
Chân tục hổ dung, xiển đệ nhất nghĩa
Tự tha khiêm lợi, nhập Bất Nhị môn
(Chân tục dung nhau, xiển đệ nhất nghĩa
Tự tha gồm lợi, vào Bất Nhị môn)
VII. Trụ biểu trước chùa
Y bồ đề địa dĩ đăng, vô sanh diệt khứ lai, dĩ thời Phật cáo
Tùng bát nhã môn nhi nhập, bất kinh khủng bố úy, như thị ngã văn
(Dựa đất bồ đề để lên, không sanh diệt tới lui, bấy giờ Phật bảo 
Từ cửa Bát nhã mà vào, chẳng hãi hùng kinh sợ, như vậy ta nghe)
VIII. Câu đối về Phật
1.
Án nhất túc, thụ nhất quyền, túy vi vi trần, vô lượng vô biên thế giới
Đỉnh trường thân, xuất trường thiệt, diễn thành đại hải, bất tư bất nghì kinh văn
(Đè một chân, giơ một nắm, nghiền làm vi trần vô lượng vô biên thế giới
Nổi thân dài, ra lưỡi dài, diệt thành biển lớn bất tư bất nghì kinh văn)
2.
Cảnh thị căn duyên, đa kiếp đa sinh trường tác mộng
Tội tùng tâm khởi, nhất chiêm nhất lễ tổng quy chân
(Cảnh ấy căn duyên, nhiều kiếp nhiều đời luôn gây mộng
Tội từ tâm dấy, một chiêm một lễ thảy về chân)
IX. Nhà tăng
1.
Sắc không bất nhị, pháp pháp thường viên, giác hậu ninh luân lai khứ tướng 
Chủ bạn giao tham, quang quang vô tận, mê thời thượng tác tự tha tâm
(Sắc không không hai, pháp pháp thường đủ, tỉnh rồi đâu luận lai khứ tướng 
Chủ bạn giao xen, ánh ánh vô tận, lúc mê còn dưỡng tự tha tâm)
2.
Giác hải tịnh thu ba, thủy để kim ô thiên thượng nhật
Thành đăng khai ám thất, nhãn trung đồng tử diện tiền nhân
(Biển giác lặng sóng thu, đáy nước ác vàng trên trời nhật
Đèn thần rọi nhà tối, trong mắt đồng tử trước mặt người)
3.
Phàm tình thánh giải vị trừ, thập nhị nhân duyên tâm thượng hỏa
Lưỡng ngạn trung lưu bất trụ, tam thiên thế giới thảo đầu sương
(Tình phàm trí thánh chưa trừ, mười hai nhân duyên trên lòng lửa
Đôi bờ giữa dòng không trụ, ba ngàn thế giới đầu cỏ sương)

228
CỬA CHÙA NÚI TỈNH ĐÀ LẠT 
Kỷ điệp sơn khê tuệ vũ triêm thì vinh thảo thọ
Vô biên sát hải hương vân tùy xứ khởi lâu đài 
(Mấy lớp sơn khê, mưa tuệ thấm rồi tươi cây cỏ
Vô biên biển cõi, mây thơm tùy chỗ nổi lâu đài)

229
TẶNG BẠN ĐẠO QUẢNG NHUẬN 
TRỞ VỀ TỈNH LÂM VIÊN
1.
Ngã vi giáo thọ sư, lục hải tùy duyên thi pháp vũ
Quân tác bất thỉnh hữu, thanh sơn nhất nhiệm bố từ vân
(Ta là thầy giáo thọ, biển đất theo duyên ban mưa pháp
Anh làm bạn không mời, núi xanh một chịu phủ mây từ)
2.
Pháp pháp tương thừa, Thiếu thất đình tiền tham diệu nghĩa
Quang quang vô tận, Lô sơn nhật hạ thọ liên bang[101]
(Pháp pháp nối nhau, trước sân Thiếu thất tham nghĩa diệu
Ánh ánh vô tận, dưới trời núi Lô trồng cõi sen)

230
THIỀN ĐƯỜNG CHÙA NI DIỆU ĐỨC
Long nữ hiến châu, vạn đóa kim liên tùng địa dũng
Kiều Đàm đắc ký, nhất thiên hương vũ tệ không lai
(Long nữ dâng châu, muôn đóa sen vàng từ đất mọc 
Kiều Đàm được ký, một trời mưa ngát che trên lên)

231
CÂU ĐỐI CHÙA NI HỒNG ÂN
1.
Hải ngạn chiên đàn hương, mông huân pháp giới 
Liểu đầu cam lồ thủy, biến sái tam thiên
(Hương chiên đàn bờ biển xông thơm cõi pháp
Nước cam lồ đầu liễu vãi khắp ba ngàn)
2.
Hiện tỷ kheo ni thân, thiên hoa bất trước
Nhập tát bà nhã hải, vạn đức tề chương
(Hiện thân tỷ kheo ni, hoa trời chẳng mắc
Vào biển tát bà nhã, muôn đức đều bày)
3. Nhà Tổ 
Thuấn mộc dương mi diệu chỉ ninh vân tâm ngọai vật
Phụ bôi thụ tích chân truyền hoàn thị cá trung nhân
(Nháy mắt dương mày, diệu chỉ há rằng tâm ngoại vật
Nổi chén dựng gậy, chân truyền lại ấy người trong kia)

232
MỪNG CƯ SĨ LẠC THÀNH
Tùng mậu trúc bao, kinh doanh bất nhật
Địa linh nhân kiệt, du cửu vô cương
(Tùng tốt trúc tươi, kinh doanh chẳng nghỉ 
Địa