THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
Tình trạng văn bản
Phân tích nội dung
Mấy nhận xét
.
Lê Mạnh Thát 
TOÀN TẬP CHÂN ĐẠO CHÁNH THỐNG
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam

THỦY  NGUYỆT TÒNG SAO

Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
101
THƠ VỊNH SEN
Trăm hoa nở rụng trước xuân tàn
Ngoài thẳng trong thông thách nắng ran 
Ai hiểu lòng bùn che ngọc trắng
Nói vờ mặt nước bủa tiền xanh
Tùy thời ẩn hiện thân thường tại
Chẳng mượn vun bồi sắc tự tân
Đừng lạ rùa thần rất hướng mộ
Trong kia vi diệu Phật còn thương

102
LÊN CAO
Cây vạch, mù xua lên núi cao
Ngoảnh đầu cõi thế mắt nhìn đâu
Bao người xưa đã lên nơi ấy
Lạnh lẽo lá vàng cuốn gió thu

103
ĐÊM MỒNG 7 THÁNG 7 ÉP MỜI DỰ TIỆC, 
TA KHÔNG ĐI, BÈN HÒA VẬN ĐÁP
Ngưu nữ đêm nay sông lại qua
Chẳng hay vui ấy thế nào a
Ba thu ngày cách người cho ngắn
Một lượt năm  trời ấy bảo đa
Thật đúng để vui nên có rượu
Lại lo đến tiệc khổ không bè
Xưa nay huống lại liên trì khách
Há quản tầm thường bướm luyến hoa

104
HỎI TRỜI
I.
Gần đây dám hỏi cựu thiên hoàng 
Thượng giới thế nào hạ giới mang
Tinh tú có đâu tranh nòi giống
Thần tiên đúng thực bỏ hương quan?
Nếu hay đế quốc nên dân quốc
Vợ bảo Châu bang thành Hán bang
Nghe nói cung phi hai vạn mấy
Chớ tìm sinh kế đến nhân gian
II.
Cõi trên Phật giáo lại sao a
Thực tế tu trì những thế ra? 
Thiền lữ từng không thất đế lợi
Sơn môn ai chẳng tát bà ha
Dân trời tưởng cũng nhiều vong mạng
Thích tử há không một vị tha
Muốn chán ta bà sinh tịnh độ
E về tịnh độ thích ta bà

105
55 TUỔI LẦN ĐẦU RỤNG MỘT CHIẾC RĂNG 
BÈN VỊNH CHƠI
Biên thùy rừng rực sợ môi tiêu
Nhai đắng nuốt bùi với ả nhiều
Giúp đỡ nhà côi vài mấy chiếc
Riêng thương không vết một đi vèo

106
TẶNG GIÁM ĐỐC PHẬT HỌC ĐƯỜNG 
KIÊM HÓA CHỦ GIỚI ĐÀN LÀ ĐẠI SƯ TRÍ THỦ
Trải hết gió mưa chí vững thêm 
Đúng hay lửa rực hóa hồng liên
Dạy người lòng thiết mình vô tướng
Chọn Phật mở trường trời một bên
Đức ngợi nửa suông đàn sáo rớt
Tiếng lưu chung cổ bát y truyền
Tâm hương một nén cầu đâu lắm
Vui pháp đem đi khắp mọi miền

107
THƯỢNG TỌA TỐ LIÊN CỦA BẮC VIỆT 
DÙNG PHI CƠ ĐẾN KINH ĐÔ, 
TA VIẾT BÀI TRÌNH
Tùy duyên bay gậy đến tầng mây
Phương ấy cõi này lui tới hay
Đôi mắt mới đưa bốn biển ngó
Một chân nhẹ duỗi vạn non lay
Nuốt kim La Thập vừa khen vội
Nướng củ Lãn Tàn nên nói ngay 
Chính đó sáng nay mưa cũ tới
Trước sân cây bách chịu đông đây

108
CHÀO TỪ BIỆT
Gió reo hạc khóc chẳng liên quan
Muôn dặm mây trời chớp mắt lan 
Nhóm ngọc tung lên gần nhật nguyệt
Bụi hồng chọc phá tiểu giang san
Bốn bề nên trước Nga My viếng
Đôi cửa sẽ sau Đâu Suất thăm
Về tới chẳng hiềm Hương thủy nhạt
Chớ buồn đường chẳng đến Tràng An

109
ĐẤT KHÁCH ĐƯA ĐẠI SƯ TRÍ THỦ 
LÊN PHI CƠ VỀ TRƯỚC 
Tha hương cùng nằm mộng
Đưa nhau nhớ sáng nay
Gậy bay mây mù cưỡi
Cành liễu đâu cần ngay

110
LÚC GIẢNG HỌC Ở CHÙA TÂY THIÊN, 
HỌA VẬN ĐÁP THƠ TẶNG CỦA PHÁP HỮU TỐ LIÊN TỪ BẮC VIỆT
I.
Dám nhờ ơn Phật phá vô minh
Ba cõi từ đây khỏi buộc mình
Rực rỡ trăng lòng mừng thắng hữu
Tối tăm mắt thịt xót quần sinh
Giao dung vẫn biết tuy không tướng
Ứng hiện tuồng như phải có hình
Nam bắc còn mong ngày gặp gỡ
Rửa tai xin đợi tiếng đinh ninh
II.
Vẫn biết thân tâm cũng huyễn mà
Tùy duyên chẳng ngại lúc vào ra
Thênh thang tích báu khen tài bạn
Bươi móc tro tàn hổ phận ta
Danh hão, đã đành không bận bịu
Đạo mầu, âu phải tính gần xa
Chưa vui sum hiệp đà chia cách
Quê kịch vài câu để gọi là 
(Mau diệt vô minh cậy Phật đà 
Dám đem ba cõi dựng nhà ta
Lòng trăng bạn tốt treo đà biết
Mắt đốm quần sinh giận những mà
Lui tới tùy duyên như giống tớ
Bắc Nam hiểu hợp khác đâu ta
Nhủ lòng tự thẹn tài thua kém
Bay lượn cõi ngoài ngày tới a)

111
MÙA THU NĂM QUÝ TỴ (1953) 
CÙNG CÁC BẠN ĐẠO LẠI ĐẾN THĂM CHÙA NÚI NGŨ HÀNH SƠN, 
CẢM XÚC LÀM RA
Hai chục năm kia nhớ Ngũ hành
Đầu thu bầy nhạn hướng về nam 
Tham thiền ngày ấy còn lưu vết
Hóa chủ nhiều khi sống huyễn thân[21]
Vọng Hải sóng dồi còn lắm hận
Huyền Không mây nguyệt há không tình
Bước lên đâu sánh người chơi rỗi
Tên cũ gởi lời nhận núi xanh

112
LÀM THƠ GIÃ BIỆT 
VỚI CÁC THANH TÍN SĨ NỮ 
CỦA THÀNH ĐÀ NẴNG
Rảnh rồi bay gậy nhắm về nam
Đâu kể quan san mấy dặm đàng
Trải mấy tang thương chim hãi sợ
Quên đi thân thế bèo trôi phăng
Núi Trà như cũ muôn non ấp
Đà hải mới thêm muôn cảnh sang
Ái mộ mấy lời duyên lại có
Lần này đi ở xiết bao lòng

113
VỊNH CÚC
Một tấm ruột mềm chỉ tự hay
Cành sương thu gặp thử thách ngay 
Há buồn bướm đẹp phấn hương cắp
Đâu thiếu cao nhân phên dậu xây
Ba lối thành hoang nhớ Tỉnh Tiết
Mấy ly thêm đẹp thích Dương phi
Xuân về nhiều ít khoe hồng tía
Sao giống trong hoa giấu lạ kỳ
 
  

114
CÙNG TỰ CHỦ CHÙA TỪ QUANG 
LÀ BẠN ĐẠO QUẢNG HUỆ 
NÓI CHUYỆN CŨ
Sướng khổ theo nhau nhớ thiếu thì
Tháng ngày nối tiếp tóc mai suy
Biết anh lăn lộn toàn không mộng 
Cười tớ ngông cuồng mỗi thích thi
Cõi đấy tùy duyên không bám víu
Phương kia bổ xứ vẫn thưa rì
Lưới chồng chịu hẹn cùng nhau phá
Phụng đẹp rồng lành tự tại bay

115
VÔ ĐỀ
I.
Nại thu sao chẳng chịu rơi tàn
Vừa thấy xuân về thu lại sang
Nghèo bịnh tính nay hơi tớ hại
Văn chương tự cổ lắm người lầm 
Đầy vơi giống nguyệt trời bên lặn
Tươi héo như hoa mưa mới giăng 
Thế cục nhân tình thôi hỏi nữa
Kê vàng chưa chín lại mơ màng
II.
Một bình nước sạch, một lò hương
Một chậu đèn xanh suốt tối trường
Bọt bóng ngoảnh đầu kinh việc cũ
Quả nhân buộc niệm thách dư ương
Bên tai chưa rõ vô sinh khúc
Dưới mắt còn tìm bất tử phương
Vạn vật nguyên lai không định tướng
Gió thu vàng lá thảy thê lương
III.
Cửa thư vắng vẻ năm canh chầy
Ngó bóng chịu đâu mắt lệ đầy
Giận tớ có đâu trời để hỏi
Lòng thương chỉ cậy Phật vui hay
Trăm năm thế sự theo vân cẩu
Một tấm hồn tinh gởi tử quy
Quét đất đốt hương đành kế vụng
Chẳng quan xưa đúng với nay sai

116
THỊ PHÁP ĐỒ
Trông nhờ đuốc tuệ rọi đường ngu
Biển pháp ngại sao lắm kiếp tu
Đã hiểu đốm hoa đâu trổ trái
Lại thương ép cát muốn ra dầu
Trường chơi lần lữa thân khôn rảnh
Gương sớm ta đà tóc đã thu
Biết mộng lại hay còn ấy mộng
Xưa nay chỉ có một Văn Thù

117
TRẦN THỊ TRÚC KIẾN CÙNG EM LÀ TỤC ĐIỂN 
ĐÚC MỘT HỒNG CHUNG LỚN Ở CUNG TIÊN NỮ MỘT CHÙA NỌ, 
ĐẾN XIN THƠ ĐỂ KHẮC
Hoa nở đúng là em chị hương
Mặt mày kiều diễm một vùng thơm
Đài soi gương cũ bay lan xạ
Trúc dựng lầu cao nối điển chương
Vinh nhục chịu đâu thân ngoại vật
Trí bi đều cậy Pháp trung vương
Quê mây nước nước chuông từ khắp
Thu được lòng không làm Phật trường

118
TRÍ THỦ NHÂN GIẢ 
RIÊNG DỰNG MỘT TỊNH THẤT ĐỂ AN CƯ, 
BÈN LÀM THƠ GHI NIỀM VUI
Thôi bàn ứng hóa tựa sa trần
Đất đấy tùy duyên gởi tấm thân
Sức mỏi núi mây xa vạn dặm
Lòng còn dựa dẫm mới hằng năm 
Lầu cao sàn rộng toàn không dáng
Trăng trúc gió tùng biết có thần
Đáng giận luôn gặp thời chiến loạn
Lúc nào vượn hạc tự men gần

119
BẢO NI HỌC CHÚNG CHÙA DIỆU ĐỨC
Rõ hay sống chết chẳng tương quan 
Đại địa vi trần một dạng xem
Mặc chúng thiên ma bày sát kiếp[22]
Chỉ nhờ đức Phật mở huyền quan
Đáng thương liễu rũ muôn cành yếu
Há sợ gió thu rét mấy lần
Tuyết khúc Ba ca mình tự tại
Không dây đàn gảy ngắm trăng lên

120
TẶNG TỲ KHEO NI DIỆU KHÔNG
Cửa son buông muộn cành hoa đi
Mặt đẹp lòng thơm nhớ thiếu thì
Sớm chán gốc trần quên thế lợi
Những vun cây đạo mặc điền y
Lại đâu vất vưởng hay người giỏi
Há lấy tầm thường xem nữ nhi
Trăm thước đầu sào thêm bước nữa 
Chờ hiềm thay đổi để trì nghi

121
VIẾNG GIAO TIỀU LÂM TIÊN SINH
Núi đá rừng tùng lững thững chơi
Ngày này đâu chịu ngoảnh đầu coi
Sao trời đầy huyệt đất vàng lấp
Trung dũng một lòng thu biếc soi
Đọc tới lân hề riêng nuốt lệ
Mộng theo hạc vút biếng lên đò
Năm nay mồ quạnh như ai hỏi
Cuộc ấy biển dâu việc khác rồi

122
TẶNG ĐẠO SĨ KIÊM THẦY THUỐC MỖ 
SAU THEO PHẬT
Chịu thích Huyền đô ở động thân
Bên đường bán thuốc cứu thời nhân
Núi Lô nhớ lại từng hẹn ước
Tay dắt cùng chơi hết kiếp trần

123
HỎI CHƠI ĐẠO SĨ
Đuổi quỷ trừ tinh học Đại la
Bụng che năm khí, đỉnh ba hoa
Hoàng Đình viết lại xong chưa nhỉ
Lỗi ít, nhiều nên nhận lấy ngan
 
  
124
TẶNG Y SĨ VÂN ĐÀM
Khởi tử hồi sinh thuật diệu hành
Hoàng Kỳ học hết thỏa chí anh
Nên như ngũ tạng hay ngưng kết
Trà uống trên hồ chẳng phụ tình

125
ĐÁP VẦN CƯ SĨ MỖ VIẾNG THIỀN SƯ MỖ
Trăng tự tròn lên nước tự trong
Mây trời mặc ý lững lờ rong
Sắc tâm rốt cuộc đều như huyễn
Thái Thượng vô tình mới động lòng 

126
ĐÁP TẶNG NỮ SĨ MỖ CHO TIỀN
I.
Mất dê rất chán khóc đường chia
Đồng thanh ai sẽ đến Nga my
Sớm hôm thăm rõ mặt mày mẹ[23] 
Tiết hạnh thường còn, gần lễ thi
Vọng tộc nói vờ nhiều giống phúc
Khuê phòng lắm giống ấy linh ky
Lòng vui mới gặp ưa cho biếu
Năm độ hướng lên chẳng khó gì
II.
Tùy duyên ăn uống sống qua ngày
Đón rước lăng xăng chẳng thói hay
Dạy dỗ chưa xong lo tháng hết[24]
Chân thành biếu tặng cảm lòng dày 
Phòng xuân ngày thích vui mẹ sống
Lòng lắng chỉ màu thêu Phật hay
Đất báu đài vàng nguyên có gốc
Công nêu sáu độ thí làm thầy

127
NGÀY MỒNG 3 NĂM TÂN MÃO (1951) 
THĂM TỌA CHỦ CHÙA VIÊN THÔNG
Giọt móc mai hồng ánh áo thầy
Men khê đường tắt bạn thân đây
Tùy duyên chỉ muốn uống trà ấy
Trời đã ngoài song cao bấy chầy

128
ĐẠI HỘI THỐNG NHẤT PHẬT GIÁO CẢ NƯỚC XONG VIỆC, 
TẶNG HAI VỊ PHÁP CHỦ MIỀN BẮC VÀ MIỀN NAM
Xem nam thành bắc, bắc thành nam
Rốt cuộc giữa nêu chẳng định tham[25]
Ba một dung nhau, rành bát nhã[26]
Tự tha gồm lợi, nở hoa đàm
Năm màu lấp lánh cờ mây tỏ
Nghìn cõi lặng êm biển dấu làm[27]
Lặng chiếu tùy duyên nhờ diệu lực
Nhà nhà cửa cửa thảy già lam 

129
TẶNG NHẠC SĨ HỌC PHẬT 
Nhạc trời vang động khắp gần xa
Nghiệp cũ kế thừa nỗi họ ta[28]
Điệu chuyển vô sinh mai rụng khúc
Tiếng vang bất tử liễu cầm ca
Chuyện xưa không rảnh nêu làn Vạn
Lòng xót nỡ đâu bàn kèn hồ[29]
Đàn được thế nào Ca Diếp dậy
Ngó lộn Chu lang, tớ thế nào

130
TẶNG BẠN ĐẠO TỐ LIÊN Ở BẮC VIỆT[30]
Ba kỳ thống nhất nhớ lời mình
Biển hội chập chùng hiện Tố Liên
Sắt đá lòng ôm lên Thứu lĩnh
Biển dâu giận mãi khóc Kỳ viên
Dây vàng ghi rõ dấu thời ấy
Trăng báu treo cao dặm muôn nghìn 
Thống nhất nay thành như ước cũ[31]
Do anh hiển thật, tớ khai quyền[32]

131
TẶNG NHÀ LÀM BÚN TÀU MỘ PHẬT
Sợi vàng dây ngọc vạn ngàn chiều
Nước định lại đem lửa tuệ thiêu
Giã tới chạy thần kinh thế mộng 
Chuyển đi bàn xát dứt tâm triều 
Mọi duyên buông hết ba vòng lắng
Một tấc toàn nhờ năm quán tiêu
Rốt cục lợi tha thành tự lợi
Nghèo không nịnh hót, phú không kiêu

132
THÁNG 8 NĂM NHÂM THÌN (1952) 
ĐẠI HỘI TĂNG GIÀ PHẬT GIÁO CẢ NƯỚC 
TẠI CHÙA QUÁN SỨ CỦA BẮC VIỆT. VIỆC XONG, 
ĐỂ THƠ LẠI TẶNG HÒA THƯỢNG THƯỢNG THỦ TUỆ TẠNG
Niết bàn trên hội nhận di âm
Giới hạnh nghiêm trì hợp diệu tâm
Trí tuyệt ánh thu trong biển ấn
Đức như ngày ấm sưởi thiền lâm
Trời người cùng mến không nam bắc
Văn hóa đều thông, nhất cổ kim
Nguyện mở từ bi thường trụ thế 
Cứu mê xin giữ chỉ nam châm

133
THƠ TẶNG CÁC BẠN ĐẠO TRONG BAN TỔ CHỨC 
Chỗ này đương mở hội Hoa Nghiêm
Thu nhạn trời thơ đến tự nam
Chủ khách vô cùng lên bục giảng 
Mây trời bất tận kết đài sang 
Tư triều thuận ứng sức mầu biết
Đánh hét tùy nghi tài thẹn hèn
Đi ở ban này sao phải giống
Viên dung mọi việc đáp lòng êm

134
ĐỂ THƠ TẶNG BẠN ĐẠO THANH TÙNG
Thần kinh nhớ thuở tự chia tay
Hai chục năm rồi ngày tháng chày
Mừng gặp đạo ta vừa mở hội
Huống thăm bạn cũ Phụng thành đây
Sinh châu đầu bút nên mình trọng[33]
Từ nước lấy trăng dùng việc gì[34]
Đương lúc một tay bưng mọi cõi
Tùy duyên vô ngại khởi lòng bi

135
VIẾNG BẠN ĐẠO QUẢNG NHUẬN 
ĐỂ KHẮC VÀO BÌNH PHONG SAU THÁP
Mưa thu gió thổi suốt đêm dày
Hạc lạnh non suông, lệ ướt y
Khó nhọc từ ngày gặp gỡ lạ
Bơ phờ riêng chạnh lúc chia tay
Lợi đời anh lắm nhân và dũng
Lụt trí ta buồn bạn với thầy
Đài sen lệnh đệ nếu như hỏi
Cuộc thế hòa quang hẹn chửa quay[35]

136
LỜI THỪA
Anh chẳng người trong mộng
Việc trong mộng sao với
Vào mộng xưa nay nhiều
Thích nghe người mộng nói
Người mơ đừng lạ tớ
Lắm nhắm người mơ nói
Người tỉnh chẳng phải người
Há tìm người mộng lỗi
Tớ là người trong mộng
Thích nghe người tỉnh nói
Anh nay cũng người mộng
Việc người tỉnh ai nói
Mộng tỉnh do tâm tạo
Tỉnh cũng sao đáng bàn
Tỉnh nếu chướng duyên lắm
Cảnh mộng đẹp sao bằng
Anh là người xuất gia
Long đoàn lại rất thân
Tớ với anh việc gì
Lúc gọi Ang đầu xuân[36]
Lạc nô, tình rất nhạt
Sao như tính mày nồng
Muốn diệt con rối tớ
Gọi lại mày cũng đồng[37]
Nếu bảo anh yêu tôi
Lắm nhắm người bên chửi
Thương anh thành hại anh
Lòng muốn anh tạ lỗi
Khuyên mày thôi từ tao
Há dám kẻ đa sự
Mỗi thấy nó tính còn
Say chửi tỉnh cũng chửi

137
TRÁCH TA
Vô ngại là ai lòng quải ngại
Ly tao đâu việc nói lao xao
Tự xưa cười tớ quên già lắm
Dưới nguyệt thường mài đại tuệ dao

138
VÂNG HỌA NGUYÊN VẬN 4 BÀI THƠ MAI RỤNG CỦA MẶC SI ĐẠI NHÂN 
LÚC Ở NHÀ TIÊN SINH KHƯỚC DƯ SANH CỦA NƯỚC TRUNG HOA
I.
Dọc diềm liễu rũ lắm nhăn mày 
Loạn xạ chiếu bay sầu muộn gì
Họa lớn khôn ngăn thơm ngát mộ 
Lòng si mỗi giận gió tin chày
Mộng xuân việc ấy nhờ ai tỏ
Một dải tình thơm chỉ tự hay
Thượng uyển giả như hoa nở mãi
Sắc hương chỉ để cuộc cờ vây
II.
Muôn tía nghìn hồng bỗng vắng không
Chịu đâu mưa tạt với cuồng phong
Linh treo rung lắm ngại gì bướm
Đất tới ai thương bạn tối trùng
Sớm nở mới xem hay rụng sớm
Hiểu nhân ấy thỉ, quả là chung
Nhọc đời không thích xuân mơ lắm
Múa bút riêng yêu học Phóng ông
III.
Quái lạ gió đông lại trở hung
Hương tàn khắp đất tiễn lung tung
Tươi vui may gội mưa xuân tới
Vắng vẻ vờ hay giấc mộng xong
Mặt đối bỗng thành khách vạn cổ
Gió qua rót hết chén say nồng
Thân này đâu dính anh hay chẳng
Một dạ việc gì phải bung sung[38]
IV.
Mấy lượt ân cần chẳng chịu lưu
Hương bay phấn rụng uổng cúi đầu
Vun bồi cười tớ thành mong hão
Tàn nở thương ai chẳng tự do
Mười hộc minh châu về mộng bướm
Mấy hàng cây đỏ đối lầu mơ
Vui buồn rốt cuộc do tâm tạo
Anh nếu vô tình tớ cũng thua

139
NGẪU VỊNH
Trồng mai ghép trúc kế sau tồi
Tình nhạt hãy đem gởi đất trời
Vinh nhục nơi kia đâu chỗ thích
Một đời thích độc, sách không thôi
 
 
140
LÚC THIỀN ĐỊNH, BỖNG ĐƯỢC BÀI THƠ
Hết thảy pháp như huyễn
Ngã pháp chẳng cần khiển
Ngã không, pháp cũng không
Ngã hiện, pháp cũng hiện
Chân vọng hãy tùy duyên
Thị phi sợ khó biện
Sinh tử vốn như như
Lỗi ở văn với kiến 

141
BÀI CA HOA RỤNG
Đêm qua Đông hoàng ban lệnh ngọc
Nhóm hương về tới trễ chẳng được
Thần gió cầm hịch xuống chín trời
Run run đối mặt chẳng còn sắc
Từ ngày đày xuống tới trần gian
Nhả phấn rút hương chẳng tạm nhàn
Lắm bị ong điên gặp bướm luyến
Từng qua nóng dữ với rét căm
Chỉ vì lúc trước một niệm sai
Trong cõi năm dơ nhọc sống hoài
Trước sinh sau diệt sinh lại diệt
Xưa rơi nay nở, nở lại rơi
Vin hoa rước cội để làm chi
Mận đổi đào khô chẳng rõ kỳ
Đáng xót mình suy khôn ấy chủ
Xô cây trục gốc đất xưa đi 
Hoặc cắm trong bình để ngắm nhìn
Phấn hương tàn tạ gợi buồn thêm 
Kỳ hoa ai biết hương hoa đó
Giống tốt mấy lần trở giống hèn
Ngậm hờn nuốt hận dựa lan can
Cay đắng vì ai bận mỗi năm 
Hiểu lời đâu giống không lời tốt
Cành bỏ dễ, cành luyến khó khăn
Cửu trùng ân chiếu bỗng nghe ra
Kết trái trổ hoa chẳng trẻ già
Kéo lục lôi hồng giao bậc đỏ
Tiệc vui lúc ấy nhỏ đâu ta
Cũng tin vui lắm ở thiên đàng
Vui lắm sinh buồn biết sao đang
Ngày trước vua trời suy tướng hiện
Chẳng nhờ sức Phật uổng than van
Bồ tát đẹp làm địa ngục ra
Mưa lành hoa tốt ứng nơi sa
Cõi người sướng khổ tương đương nửa
Xin nhắm ưu đàm trả nợ xưa
Về đi chỉ biết trên trời yên
Điểm xuyết non sông ai đó làm
Thần gió mọi hương lòng xét kỹ
Thềm trời sớm tạ thánh hoàng ân 

142
THIÊN THAI THIỀN TÔN TỰ CHÍ LƯỢC

Dấu mờ, đợi người thì sau mới rõ. Đạo phế, được người thì sau mới truyền. Người còn thì khuôn phép được nêu, người mất thì khuôn phép biến mất, há là lời nói dối ư. Thế thì, dấu mờ tỏ, đạo hưng phế, hết thảy đều do lòng người chân thành hay trá ngụy đưa tới, há ngoài tâm riêng có chỗ gọi là vun bồi khuynh đảo ư.

Chùa Thiên Thai Thiền Tôn tọa lạc ở địa phận ấp Ngũ Tây của xã An Cựu, cũng là một danh thắng của đất thần kinh nước Việt ta, do hòa thượng Liễu Quán tổ đời thứ 35 của phái Lâm Tế dựng nên trong khoảng năm Cảnh Hưng triều Lê. Kế thừa nối dõi là đệ tử cùng bổn đạo lại chọn dưới chân núi của chỗ đất tốt ấy, rất may núi sông đẹp đẽ. Nài chi đất đá hoang vu, họ nỗ lực bỏ của mở lại tịnh địa, phần trong có hai sở. Một sở dựng chùa để thờ Phật tổ và tu trì, một sở thì xây tháp để chứa kim cốt của bổn sư cùng xây tháp mộ cho các vị tăng tịch ở chùa ấy và nghĩa trang cho bổn đạo quá cố. Họ lại khai khẩn và mua thêm ruộng đất, đúc tạo hồng chung. Pháp khí và chùa chiền mới đẹp rực rỡ. Các thầy kế tiếp lại họp thợ sắm gỗ, tu chỉnh. Đó là lần trùng kiến thứ nhất.

Đến thời Tây Sơn khơỉ nghiã, chùa chiền bị hư hại, pháp khí và ruộng chùa bị sung làm việc quân. Sau khi quốc triều bình định, năm Gia Long thứ 3 (1804) vua ra lệnh bảo cho nhân dân nếu có những ruộng tư hương hỏa được mua tạo mà bị lính giặc hoặc cường hào chiếm đoạt, thì cho phép chuộc lại, để yên sinh nghiệp. Mà tổ đình thì to lớn, há có thể ngồi xem. Cho nên sơn môn vân tập, suy cử hòa thượng Đạo Tâm Trung Hậu làm tự chủ, sưu tìm văn khế, chuộc lại ruộng đất, để thỏa mãn nhu cầu hương hỏa của chùa. Cái nào đã thoát lạc không thể kê cứu được, thì khẩn trưng lại, để khỏi mất công đức của tiền nhân.

Kịp đến khi nhận được châu phê, thì có những lời vua ban sau: “Khâm sai Quận công Mỗ nghiêm cấm những ai có đất đai tiếp cận bốn phía và quân lính không được chặt cây cối trên ba ngọn núi ở vùng Huyền Vũ sau chùa. Đến như địa giới của chùa thì giao lại cho chùa quản nhận, đời đời truyền cho nhau, để cho núi Thứu vườn Kỳ nghìn thu còn mãi”. Tiếp đó, phu nhân của Bình Tây đại tướng Mỗ xin đem phủ riêng cúng làm Đại hùng bảo điện để quan chiêm cho hùng tráng. Đó là lần trùng kiến thứ hai.

Kể từ khi hòa thượng Trung Hậu hóa mãn Diêm Phù, gửi hồn tịnh cảnh, lại cử đại sư Tín Thiện An Cư làm chủ. Trải ngày tháng chả bao nhiêu, đại sư cũng rung linh đi mất. Tiếp theo là cử tăng cang chùa Diệu Đế là đại sư Hải Nhuận Phước Thiêm làm chủ. Chỉ một đời này thôi, mà cửa nhà ruộng vườn cơ hồ bán sạch. Ôi, người con phá nhà, nếu không phải là Hải Nhuận thì quy về ai đây? Tựa như người ngây này, không mất thì đợi gì? 

Lại cử trụ trì chùa Diệu Đế là đại sư Hy Hữu Tâm Thiền làm chủ, bèn dựng sơ điện vũ, chuộc lại ruộng chùa. Nhưng đại sư trong biển nước Phật pháp, lại chưa rửa hết được bụi bặm, nên tính tình nóng nảy mà hành động thì dữ dội. Tuy có một chút công lao thì cũng chẳng qua vì thích cái ngã của mình, mà quan tâm tới ngã sở. Nếu bảo có lòng đối với tổ đạo, nếu không phải nịnh thì cũng là hót, trái với lời bàn ngay thẳng. Vả lại, xem việc trú trì chùa Diệu Đế, tọa chủ chùa ấy đều bị chê đuổi. Nhân họa tự tạo ấy, há vì sơn môn ít tình ư? Nhưng đây cũng cho là lần trùng tu thứ ba. 

Thế rồi, tăng cang chùa Diệu Đế là đại sư Gia Khánh Tâm Khoan lại sung làm chủ. Ngày lụn tháng qua, gió dồi mưa tạt, điện Phật nhà thiền đông xiêu tây đổ. Mà thầy lại mở rộng đất khô, trồng thêm cây tạp, hai cọc công đức, tựa cũng khả quan. Tuy nhiên, thành báu chùa vàng trở thành gò chồn hang thỏ. Xe trước đã đổ, xe sau mới đến, kia diệt đây sanh, cùng đường hợp vết. Ôi, tiến ư? nối ư? hay là đường thẳng khó đi ư? hang dục chưa lấp, gốc nổi phải nhổ.
Đến năm Bảo Đại thứ 12 (1937), sơn môn lại cử thầy làm chủ chùa ấy. Lần này thầy vâng lệnh vua đang giữ chức tăng cang chùa Thánh Duyên, tự nghĩ quốc tự và tổ đình, thế đều to lớn. Huống nữa, sơn môn thạc đức chúng khẩu cùng lời, đạo ấy tình ấy, thật khó từ chối. Than rằng, ơn vua đức tổ mang khoán sắt để nhọc đầu, trúc biếc hoa vàng, thấy món đồng mà chảy nước mắt. Trộm nghĩ, một cây đâu thể chống được nhà to, mượn đến muôn tay bèn thành việc lớn. Cho nên, nghiêm túc thưa với sơn môn, trưng cầu thiện tín để Phật đường tăng xá nay được mới lạ. Đây là lần trùng tu thứ tư ở đời Thầy.

LỜI SAU BÀI CHÍ
Hiện nay Hòa thượng đường thượng Giác Nhiên, đạo hạnh cao khiết, giữ miệng như bình, cả đời chưa từng nói lỗi của người, huống nữa là dựng nên lời văn búa rìu này. Vừa rồi, Phong tôi vâng lời dạy, thay làm Lược chí, ghi sự tích của chùa ấy cùng việc lịch đại truyền thừa hưng phế thế nào, để làm lưu chiếu về sau. Trộm nghĩ, nêu cái tốt của người là đúng rồi. Cái không tốt của nó mà cũng cho là tốt thì đó là bao che tỳ vết làm ngờ vực người đời sau. Nghiệp nói dối ai hơn đó nữa. Khổng Tử nói: “Ba người cùng đi, tất có người làm thầy ta, chọn điều tốt mà theo, điều không tốt mà đổi”. Đã thế, thiện ác đều là thầy ta, thì có gì phải húy kỵ. Cho nên, không tránh nỗi hiềm của người khác, bèn thẳng bày mọi việc. Biết ta, tội ta, xin chịu gánh hết. Đem chim tạp để làm phượng hoàng, ta chưa từng quen làm. Cẩn từ.

143
PHIẾM NGÂM CÙNG TỰA

Kinh dạy: “Phật tại thế gian, không tách rời thế gian, mà giác ngộ được”. Cho nên, người tu hạnh bồ tát phải nên thiệp thế lợi sanh, tùy cơ phó cảm, ở địa ngục mà như chơi lầu thượng uyển, cởi áo quí mà mặc áo rách. Nếu không có bản lĩnh đó, động tới thì nói như huyễn, hay nói vô vi, mà coi chuộng hình hài, chạy tìm thế lợi, thì chưa thoát khỏi nỗi khổ của ba đường, rảnh gội ao sen tám đức ư? 

Tôi hèn làm Thích tử, tự thẹn học hạnh tầm thường mà một đời ôm ấp lòng ấy chưa từng một phút giây bỏ qua. Tự nghĩ đã thô biết niềm vui của giáo pháp đại thừa, nên vì người trong khi tập sự, mà gắng gỏi đãi cát, thấy vàng có ngày. Cho nên, những lúc sáng thức đêm ngủ hoặc khi thiền quán, bèn thử hiện những thân ấy ra, không cho là ngông cuồng, bày ngâm dưới đây.
SĂN

Chỉ sợ ông trời ghét tớ nhàn
Chó săn thử dắt bước lên non
Khá thương thỏ ác đông tây chạy
Nhấn xuống cung son không nỡ buông

DỆT
Ngang dọc muốn đem giúp người dân
Con thoi há bực bận tay chân
Trên trời Chức nữ chỉ nên khéo
Chớ cưỡi mây mù tới thế nhân

ĐÁNH CÁ
Rảnh cưỡi thuyền con đem nhợ sào
Cá rồng không lưỡi, câu hay đâu 
Đáy sông bỗng thấy trăng mồng tám
Mỗi tự vết che chẳng lộ đầu

HÁI CỦI
Sáng sáng đem rìu tới góc non
Há không vượn hạc ngỡ ta còn
Tận tình cây tạp thu đi hết
Để lại chỉ nên gỗ cột rường

CÀY RUỘNG
Đem cày nhắm tới ruộng hoang cày
Ngang dọc trẻ chăn cùng tớ đây 
Cỏ rác sáng nay đem dọn sạch
Lúa xanh năm tới khắp nơi đầy

CHĂN TRÂU
Rừng bằng hãy nhắm kẻ chăn này
Ngồi ngó quên lòng mây trắng bay
Mỗi gặp chiều tà trâu cưỡi lại
Sơn ca thổi sáo một làn hay

ĐÁNH ĐÀN
Hương đốt dưới trăng gảy cổ cầm
Khúc thành còn dội tận mây thâm 
Dương xuân Bạch tuyết nên khôn họa
Tài vụng mong nhờ cậy thưởng tâm

ĐÁNH CỜ
Bàn cờ mượn đến giải lòng lo
Việc ấy can chi thái thú mưu
Rừng quất ăn thua đâu quái ngại
Cháy rìu khiến nỗi buồn tiều phu

LÀM THƠ
Đèn xanh song cửa học làm thi
Lui giặc khiếp người hẹn dễ gì
Đông trét tây bôi tùy chỗ thích
Mượn người lỗ mũi để làm chi

UỐNG RƯỢU
Trong tiếng đề hồ giục tứ xa
Chén oanh để hiểu truyền hơi ra
Đã quen im ỉm thâu đêm uống
Sao ngại không say lại chẳng về

VẼ
Biển thế mênh mông chán duổi rong
Mượn nhờ xanh đỏ nằm chơi ngông
Vô cùng lại giận việc trong mộng
Năm tới trên tường chửa nhặt xong

HỌC TRÒ
Bầu giỏ ngõ quê vui ở trong
Mặc người xe ngựa tới tây đông
Thịnh suy ai ngỡ toàn như mộng
Suông đối gió thu oán đạo cùng

NHÀ NÔNG
Cũng nhắm nhà nông làm chủ ông
Tùy thời cày vại ruộng vườn xong
Ngàn kho trăm lẫm đầy dư dật
Chày giã vui nghe dân hát xoang

NGƯỜI THỢ
Giỏi việc đồ dùng lo trước xong
Mượn đem mực thước định tròn vuông 
Suông tranh khéo vụng làm gì thế
Thử hỏi ai hay chí vững vàng

NHÀ BUÔN
Đem đồ mình có đổi nơi không
Giàu tới Đào Chu tớ phải nhường
Lười nhắm cõi người bày ván nhỏ
Hồng đồ muốn mở thế giới gom

MƠ LÀM PHẬT
Thân Phật đài sen ngồi thẳng làm
Từ bi độ chúng sánh sa trần
Lần này há tín việc trong mộng
Tỉnh lại như xưa một vị tăng

MƠ LÀM VUA TRỜI
Thiên đế thân nghiêm ngồi cõi thiêng
Ngàn sao vây vái tạ ơn trên
Tự nhiên bỗng hiện năm suy tướng
Tỉnh lại y nhiên lười một tên

MƠ LÀM ĐẾ VƯƠNG
Đêm qua mơ đóng đế vương thân
Muôn nước chầu về ngọc gấm dâng
Bỗng nhắm Đình Hồ rồng cưỡi mất
Tỉnh rồi ngó lại một tăng nhân

MƠ LÀM DIÊM VƯƠNG
Thân làm chúa ngục quyết âm ty
Tội phước chập chùng gương rọi chia
Gian tặc hành hình bỗng tỉnh mộng
Giường mây anh trụi vẫn nằm y

VỊNH NAM KHA
Vua kiến Nam Kha vào yết vương
Dạy dân lễ nhạc trọng luân thường
Năm năm tích chứa quên lo khổ
Tỉnh lại mới hay giấc mộng trường

VỊNH KÊ VÀNG
Chương vàng dây tía đội ơn vua
Chăm chỉ nắm quyền chục năm qua
Nửa gối phù vinh kinh mộng ấy
Kê vàng chưa chín xót sao la.

VỊNH TRANG CHU
Trộn hương bụi phấn hóa tượng đông
Mắt mở mỗi hay sắc ấy không
Trang Tử đêm qua mơ đóng bướm
Sáng nay thấy bướm tức Trang công

144
VỊNH XƯA[39] 
KHỔNG PHU TỬ
Chi thánh Văn Tuyên tập đại thành
Nghìn thu luống tự mến tên lành
Nhan Hồi Tăng Tử người nào nhỉ
Riêng được đến hầu lễ giáo sân
QUẢN TRỌNG[40]
Chín họp chư hầu, nghiệp bá đầu
Sao giăng cờ thiết trí mưu làu
Dẫu không Bào Thúc hay ta thật
Ôm luống hùng tài tới chín châu
BÀO THÚC[41]
Tài hèn nghĩa trọng mấy như ông
Tể tướng lề xưa thích lại nhường
Nói mãi trí mưu suy Quản Tử
Rước về Tiểu Bạch ấy ai công
PHẠM LÃI[42]
Nhà đá sớm hôm chia chủ lo
Há do ngày khác mưu vàng đưa
Vang trời tiếng trống thành Ngô hạ
Một tấm lòng tôi, một chiếc đò
VĂN CHỦNG[43]
Kỳ mưu bảy món thảy đem khoe
Dưới mắt mất Ngô việc đã qua
Phạm Lãi lời trung nay mới hiểu
Ngũ Tư kiếm cũ nại chi a?
NGŨ VIÊN[44]
Cha anh thù trọng nước nhà khinh
Tóc bạc ải Chiêu chỉ một đêm
Đất Sở trẻ tung nam tử chí
Sông Ngô di hận giận triều lên
THÂN BAO TƯ
Ơn nước bạn bè thảy dính tình
Do kia đường trước một tiếng khinh
Thù báo chửa quên còn chí Sở
Thử đem máu lệ vấy sân Tần
NHIẾP CHÍNH
Vui vẻ dưới chân việc đã sai
Biết lòng há lại ngó hình hài
Giết thù một kiếm hãy nên báo
Hủy mặt còn ngờ chị thấy nghi
KINH KHA[45]
Nổi giận xung thiên tới mống dài
Khí giận xung lên tới cầu vồng
Tần mạnh trăm hay trong mắt không
Thành bại tiền đồ thôi hỏi nữa
Đền ơn chút móc bài ca xong
TÔ TẦN[46]
Muốn đem kế trá dập Tần xâm
Tung ước đưa ra thử mũi châm
Dài thuyết chư hầu không sức mắt
Năm nay quỷ cốc lệ ướt chăn
TRƯƠNG NGHI[47]
Liên hoành dốc chí tới tinh vi
Thuật dối đem lừa thuật dối khi
Từ lúc Ấn Thư Tần tướng giữ
Chẳng bàn đánh Triệu đáp tương tri
LỮ BẤT VI
Hàng lạ chọn xong ở được rồi
Đám buôn nhiều dối chịu kinh thôi
Cương thường đạo trọng chân thành giả
Bốn biển muốn gì nuốt trọn xuôi 
TIÊN CHẨN
Bắt liền ba tướng cửa vàng dâng 
Thả cọp do đâu nghe vợ bàn 
Nhổ toẹt biết sai thần tử đạo
Mượn về tên mọi tỏ hồn trung
TIÊU HÀ
Bái huyện năm kia tên lại thôi
Đã thông đại cuộc lại hay người
Hán gia sáng nghiệp công đầu đứng
Sách sổ ghi lòng Tần chửa rơi
TRƯƠNG LƯƠNG[48]
Vận trù chẳng thẹn làm thầy vua
Nói bậy mình ông giống gái vừa
Giúp Hán vì Hàn thôi hỏi nữa
Tới lui loại đó mấy người thưa
HÀN TÍN[49]
Nhút nhát ngại gì việc mổ trâu
Non sông quét sạch tính từ lâu
Có khi hưng lợi cậy công lớn
Đâu biết quân vương mộng ruỗi hồ
TRẦN BÌNH[50]
Đầy đặn mặt mày ngọc chuốt thành
Cửa nghèo từ nhỏ chiếm tài danh
Kỳ mưu sáu lượt nếu như thích
Há thích anh không trái tính mình
PHÀN KHOÁI 
Đất Bái năm kia giết chó khi
Hưng vong việc ấy biết chi ly
Cung Tần can chúa sao nồng nhiệt
Lại nhắm Hồng môn phạm hổ uy
HẠNG TỊCH[51]
Quát thét tiếng oai, sức nhổ non
Chỉ vì nghi kỵ với hung tàn
Mộc hầu nếu được lòng trời giúp
Đình trưởng do đâu trước nhập Quan
PHẠM TĂNG
Diệt Lưu, hưng Hạng, trái thiên tâm 
Đâu biết mưu thâm họa cũng thâm
Đưa ngọc Hồng môn điềm ứng trước
Bỏ về chỉ giận nhắm rừng xanh
TÔ VŨ[52] 
Mao tiết đất Hồ mãi giữ ngay
Lòng trung dám trễ nhọc chăn vây
Nhớ cha luyến chúa nhờ thu nhạn
Thao túng ra sao mặc bọn mày
PHÙNG DỊ[53]
Hưng phế ai hay cũng tự thiên
Luận công sao phải khổ tranh tiên 
Tướng quân riêng nghĩ cây xanh bóng
Để lại nghìn năm cội lớn truyền
MÃ VIỆN[54]
Già rồi càng khỏe chí sao bền
Ý dĩ lời sàm nghe tự nhiên
Giao Chỉ cột đồng đà dựng thẳng
Hung Nô còn tiếc khói lang truyền
MÃ DUNG
Màn vá uy nghi ấy tính anh
Do đâu ý ngựa vẫn chưa lành
Bên cầu lúc ấy nếu nhìn giết
Ai với Trịnh Huyền những truyện tâm 
LƯU BỊ[55]
Tay dài quá gối, tai buông vai
Chân mạng ai hay có tự trời
Bắc Ngụy gởi thân đùa Tháo trước
Đông Ngô ở rể gạt Quyền chơi
THANH MAI NẤU RƯỢU
Sấm nghe, rớt đũa, mặt lừa Tào
Khen nức gian hùng khổ tự hào
Cưỡi được mây mưa từ giã hết
Luống đem ngựa lếu đuổi rồng giao
GIA CÁT LƯỢNG[56]
Gò rồng nằm khểnh mấy thu chày
Chân vạc nước nhà chính lúc này
Ba lượt nếu không lòng biệt đãi
Danh trùm vũ trụ có ai hay
BÀNG THỐNG[57]
Lấy người, dùng tướng cười Ngô hầu
Dừng cánh, chim khôn chọn nhánh cao
Chí muốn một kêu trời đất động
Lỗi Dương trăm dặm lại sao cầu
TỪ THỨ[58]
Mới qua Tân Dã mượn âm thanh
Một khúc ca quê vô hạn tình
Tự cổ hiếu trung khôn tọai cả
Ngụy ngu Lưu trí ấy lòng rành
GIẢ LÍNH ẢI QUA ẢI
Độc mã đơn đao thoát Hạ Bì
Thổ sơn ba ước có ai hay
Anh em huống nữa vua tôi trọng
Muôn dặm gian quan hai chị đi
TRƯƠNG PHI[59]
Đầu báo, ngươi tròn, tiếng sấm vang
Giáo ngang Trường Bản thối Tào quân
Ơn đền oán báo ngay như thế
Lẫm liệt nghìn thu khí vẫn còn
TRIỆU VÂN[60]
Ngày ấy Đương Dương nổi gió hùng
Ngủ say lòng ấp một rồng con
Trăm muôn tỳ hổ ngựa đồng ấy
Gan mật đầy mình thế tuyệt song
QUANH CÂY ĐUỔI TÀO
Tin hung một đến, bỏ Lương châu