II.
NHỮNG QUAN HỆ XÃ HỘI
Thực
vậy, Thủy nguyệt tòng sao đã dành một số thơ văn thường
xếp vào loại xướng họa thù tạc. Bản thân loại thơ văn
này thường không được đánh giá cao do những hạn chế về
thể thức xướng họa đặt ra và yêu cầu giữ gìn về ý
tứ. Dẫu vậy, nó lại có một ưu điểm lớn là cho ta thấy
quan hệ xã hội của tác giả những bài thơ với những người
đương thời. Trong trường hợp thiền sư Chân Đạo Chánh
Thống, ưu điểm này lại phát huy tác dụng tích cực. Qua
những vần thơ xướng họa thù tạc, ta thấy thiền sư Chân
Đạo Chánh Thống đã có những quan hệ xã hội với ai và
những người này đã có những vai trò gì trong thời đại
ấy.
Chỉ
cần điểm qua tên tuổi xuất hiện trong các bài thơ, riêng
trong giới Phật giáo, ta thấy xuất hiện gần như hầu hết
các khuôn mặt lớn của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Đó
là các thiền sư Thanh Trí Huệ Giác (1858-1935?), Ngộ Tánh Phước
Huệ (1875-1963), Trung Thứ (1871-1942), Giác Nhiên (1878-1979), Giác
Tiên (1880-1936), Giác Bổn (?-1949), Tuệ Tạng (1889-1959), Tịnh
Khiết (1890-1973), Bích Không (1894-1954), Tố Liên (1903-1977),
Mật Khế (1904-1935), Đôn Hậu (1905-1992), Trí Thủ (1909-1984),
Mật Nguyện (1911-1972), Viên Giác (1911-1976), Trí Đức (1921-2001),
Trí Quang, Kế Châu v.v…
Chính
các vần thơ thiền sư Chân Đạo Chánh Thống viết về những
người vừa kể sẽ cho ta thấy không những chí hướng của
chính thiền sư, mà cả một bức tranh sinh hoạt Phật giáo.
Đúng vậy, chúng thường được viết trước khi những thiền
sư ấy trở thành các nhân vật lịch sử của Phật giáo Việt
Nam thế kỷ XX. Có vẻ như chúng là những lời tiên tri bộc
lộ dự cảm của tác giả, không chỉ về tương lai của họ,
mà cả về tương lai của Phật giáo Việt Nam. Chẳng hạn,
hai bài thơ họa lại bài thơ tặng thiền sư Tố Liên, khi
vị thiền sư này vào thăm Huế vào năm 1937 đăng trên báo
Viên Âm, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống không chỉ nói đến
chí hướng “tối tăm mắt thịt xót quần sanh”, mà còn
cả tấm lòng muốn phụng sự “đạo mầu âu phải tính gần
xa”.
Nhưng
đây chỉ nói một cách tổng quát. Chính bài thơ đó
gần 20 năm sau mới cho thấy rõ khi gặp nhau vào năm 1937, họ
đã nói với nhau cụ thể những vấn đề gì. Và đó thực
là một vấn đề lớn của Phật giáo Việt Nam vào thời ấy,
vấn đề thống nhất Phật giáo cả nước. Khi các phái đoàn
của Phật giáo ba miền về họp với nhau tại chùa Từ Đàm
vào năm 1951 để thống nhất Phật giáo cả nước thành một
tổ chức, gọi là Tổng hội Phật giáo Việt Nam có khuôn
dấu riêng và ra nghị quyết chấp nhận lá cờ Phật giáo
thế giới là lá cờ biểu trưng cho Phật giáo tại nước
ta, mà ta đã thấy nói đến ở trên, giấc mơ về một nền
Phật giáo thống nhất cả nước đã trở thành hiện thực.
Một loạt bài thơ đã được thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
sáng tác để chào mừng thắng lợi của sự nghiệp thống
nhất Phật giáo, như đã nói ở trên.
Trong
những năm 30 của thế kỷ XX, ở ba miền của đất nước
đã xuất hiện ba tổ chức Phật giáo lớn là Nam kỳ nghiên
cứu Phật học hội (1931), An Nam Phật học hội (1932) và Bắc
kỳ Phật giáo hội (1934), nhằm tổ chức lại lực lượng
Phật giáo để đáp ứng những yêu cầu của lịch sử thời
bấy giờ. Thực tế chính trị lúc ấy do bọn xâm lược Pháp
áp đặt lên đất nước với chế độ cai trị ba miền khác
nhau. Cho nên, Phật giáo buộc phải hình thành ba tổ chức
như thế. Song, những người tham gia vào các tổ chức này
rõ ràng có những thao thức của họ. Họ hiểu rõ đất nước
ta là một đất nước thống nhất từ bắc chí nam với một
dân tộc thống nhất về mặt văn hóa.
Từ
đó, yêu cầu thống nhất Phật giáo như một bộ phận của
một dân tộc thống nhất đã trở thành bức thiết, mà cuộc
nói chuyện vào năm 1937 tại Huế giữa thiền sư và thiền
sư Tố Liên là một thí dụ cụ thể. Rồi sau đó thiền sư
còn đi Bắc gặp các vị lãnh đạo Phật giáo ngoài ấy có
lẽ để bàn tiếp những công tác Phật sự như vấn đề
thống nhất vừa kể. Bằng cớ là bài thơ do thiền sư viết
để họa lại bài thơ của thiền sư Trung Thứ, một trong
những vị lãnh đạo hàng đầu của Phật giáo miền Bắc
hoạt động tích cực cho việc ra đời của Bắc kỳ Phật
giáo hội vào ngày 18 năm 1934 tại chùa Quán Sứ Hà Nội:
Đâu
thường trong đó vốn dưỡng dinh
Chỉ
sợ thanh văn mắc Hóa thành
Đóng
mở năm lời trừ nhị chấp
Chớp
loang một đấm phá vô minh
Thôi
bàn dưới mắt thông và nghẽn
Dám
nhắm đầu sào tử với sinh
Vui
vẻ từ dung nay gặp lại
Nguyện
đem pháp lạc chặn mê tình
(Cá
trung tư vị bản phi kinh
Chỉ
khủng thanh văn trệ Hóa thành
Ngũ
giáo khai già trừ nhị chấp
Nhất
quyền hoảng diệu phá vô minh
Hưu
luân mục hạ thông hoàn tắc
Cảm
hướng can đầu tử hựu sinh
Thả
hỷ từ dung kim tái đỗ
Nguyện
tương pháp lạc trấn mê tình)
Thiền
sư Trung Thứ mất vào ngày 16 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1942), thọ
71 tuổi. Như thế, bài thơ họa đáp trong lần ra Bắc vừa
dẫn phải được viết trước năm 1942, thậm chí có thể
trước năm 1939, lúc thế chiến thứ II nổ ra. Có khả năng,
sau khi thiền sư Tố Liên trở về Bắc, thiền sư được mời
ra Bắc thăm và gặp thiền sư Trung Thứ trong dịp ấy. Cuộc
viếng thăm hẳn đã nói tới nhiều chủ đề, mà một trong
số đó chắc là tình hình chính trị của thế giới lúc bấy
giờ, mà những liên hệ đối với đất nước ta cũng như
Phật giáo. Cho nên ta mới thấy trong hai câu luận thiền sư
đề cập tới vấn đề thông và nghẽn cũng như vấn đề
sống và chết.
Thông
là thuận lợi, còn nghẽn là những trở ngại. Thuận lợi
và trở ngại của các hoạt động Phật giáo lúc ấy chắc
chắn tùy thuộc rất nhiều vào những diễn biến tình hình
quốc tế, trước khi xảy ra thế chiến thứ II, tác động
mạnh mẽ tới đất nước ta. Vì thế, những người tham gia
vào hoạt động Phật giáo tất không thể nào không quan tâm
và tìm cách đối phó. Thông và nghẽn được nói tới trong
một tình thế như vậy, bộc lộ rõ những quan tâm của giới
Phật giáo lúc ấy đối với tiền đồ của dân tộc cũng
như Phật giáo trong một tình hình mới của thế giới và
đất nước.
Những
bài thơ, bài châm viết về các thiền sư Tịnh Khiết, Giác
Nhiên, Đôn Hậu, Trí Thủ, Trí Quang, Trí Đức v.v… cũng thế.
Chúng cũng giống như những lời tiên tri bộc lộ dự cảm
của tác giả về vai trò rường cột của những vị ấy trong
giai đoạn Phật giáo vừa qua. Chẳng hạn, khi viết bài châm
về thiền sư Tịnh Khiết, vị pháp chủ và Tăng thống đầu
tiên của Phật giáo Việt Nam sau năm 1945, thiền sư đã có
những lời lẽ sau:
Trăng
sáng Hương giang
Mây
giăng núi Ngự
Non
sông đúc un
Trổi
xuất bậc lạ
Biết
đời ấy huyễn
Chỉ
đạo báu cả
Đáng
anh đáng em
Vô
Trước Bà Lũ
Dựng
lớn thiền phong
Chiết
phục thói xấu
Dạy
đủ Diêm Phù
Người
anh mất dấu
Mây
ám trời trong
Biển
dồi sóng dữ
Đuốc
tuệ thuyền từ
Chỉ
sư cậy chỗ
Làm
giáo hội chủ
Làm
chúng trung tôn
Đạo
truyền đất Việt
Ai
thể sánh cùng
Việc
nhà hoằng pháp
Đạo
nối tông môn
Dung
nghi đĩnh đạc
Mắt
thấy đạo còn
Đánh
hét tùy thời
Người
đều kính ngưỡng
Trong
sạch không tên
Ứng
dụng vô lượng
Phật
pháp cột rường
Sơn
môn che chắn
Trong
trường tuyển Phật
Lễ
tôn hòa thượng
Lớp
sau xứ Huế
Lâu
dựa đức âm
Chẳng
biết tỏ lòng
Bèn
cậy bài châm
Mong
rủ mắt từ
Cúi
chứng lòng thành
Mãi
dâng muôn cõi
Đem
tấm thâm tâm
(Hương
giang chi nguyệt
Ngự
lĩnh chi vân
Sơn
xuyên dục tú
Đỉnh
xuất kỳ nhân
Giác
trần thị huyễn
Duy
đạo vi trân
Nghi
huynh nghi đệ
Vô
Trước Thế Thân
Chấn
khởi thiền phong
Chiết
phục tà thái
Hoá
mãn Diêm phù
Kỳ
huynh nan tái
Vân
ám trường thiên
Ba
cuồn đại hải
Huệ
chúc từ phàm
Duy
sư thị lại
Vi
giáo hội chủ
Vi
chúng trung tôn
Giáo
lưu nam độ
Thục
dự tỷ luân
Pháp
hoằng gia vụ
Đạo
kế tông môn
Nhi
đoan biểu chính
Mục
kích đạo tồn
Bỗng
hát tùy nghi
Nhân
hàm kính ngưỡng
Thanh
tịnh nan danh
Ứng
dụng vô lượng
Phật
pháp đống lương
Sơn
môn bảo chướng
Tuyển
Phật trường trung
Lễ
tôn hòa thượng
Xuân
thành hậu tấn
Cửu
phụ đức âm
Vô
dĩ biểu thành
Kiền
bị chuyết châm
Nguyện
thùy liên nhãn
Phủ
giám quỳ thầm
Vĩnh
phụng trần sát
Tương
thử thâm tâm)
Hai
câu kết của bài châm về thiền sư Tịnh Khiết vừa dẫn
không những thể hiện chí hướng của vị thiền sư này,
mà còn cả một thời đại Phật giáo của thế kỷ XX, khi
đất nước và Phật giáo Việt Nam đang thực hiện những
nỗ lực phi thường để tự giải phóng mình và đưa cả
dân tộc lên một con đường phát triển mới. Đúng vậy,
do giới Phật giáo đã có những người đem tấm lòng của
mình ra phụng sự cho dân tộc và đạo pháp, nên những diễn
biến về sau đã chứng thực cho những dự cảm chính xác
ấy.
Trường
hợp bài châm cho thiền sư Giác Nhiên cũng mang dáng dấp tương
tự. Thiền sư Trừng Thủy Giác Nhiên là đệ tử của thiền
sư Tâm Tịnh và là thầy của các thiền sư Thiện Minh Trí
Nghiễm (1922-1978), Thiện Siêu Trí Đức (1921-2001) v.v… Thiền
sư đã từng tham gia các hoạt động Phật giáo của An Nam
Phật học hội, Tổng hội Phật giáo Việt Nam, cuối cùng
là làm Tăng thống thứ II của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
thống nhất, sau khi thiền sư Tịnh Khiết mất năm 1972. Bài
châm do thiền sư Chân Đạo Chánh Thống viết khoảng sau năm
1954, tức trước khi thiền sư Giác Nhiên giữ một vai trò
lớn trong hoạt động Phật giáo, đặc biệt là của Giáo
hội Phật giáo Việt Nam thống nhất. Dẫu vậy, đọc qua bài
ấy, ta có dự cảm vị thiền sư ấy rồi sẽ có những đóng
góp to lớn cho Phật giáo. Chúng ta hãy xem bài châm này:
Tốt
lành thay
Quạt
từ gió xuân,
Thấm
bi mưa hạ
Trăng
thu quạnh tròn
Tùng
đông mướt lạ
Lớn
trùm sa giới
Chẳng
đến chẳng đi
Nhỏ
tới vi trần
Không
mùi không tiếng
Tuổi
nhỏ theo Phật
Phước
trí gồm tu
Một
hiểu nhập thần
Thầy
trò trao nhận
Giữ
bát mang y
Trời
người lợi khắp
Giao
kệ bàn kinh
Đạo
thông tăng tục
Tăng
cang ngày ấy
Biển
chúng đều cậy
Hòa
thượng lúc này
Giới
châu rộng vải
Diêm
phù dạy đủ
Thẳng
tới vô dư
Bốn
chúng thỉnh cầu
Tháp
lưu đất ấy
(Phi
hưu tai
Từ
phiến xuân phong
Bi
triêm hạ vũ
Thu
Nguyệt cô viên
Đông
tùng độc tú
Đại
chu sa giới
Phi
khứ phi lai
Tế
nhập vi trần
Vô
thanh vô xú
Đồng
niên hướng Phật
Phước
trí khiêm tu
Nhất
ngộ nhập thần
Sư
tư thọ thọ
Phi
y trì bát
Lợi
phổ nhân thiên
Phó
kệ đàm kinh
Đạo
thông truy tố
Tăng
cang dỉ nhật
Hải
chúng hàm y
Hòa
thượng đương thì
Giới
châu quảng bố
Diêm
phù hóa mãn
Trực
đáo vô dư
Tứ
chúng kiền cầu
Tháp
lưu tư độ)
Đặc
biệt đối với bực tiền bối là thiền sư Giác Tiên, người
đã đứng ra thành lập trường Cao đẳng Phật học Tây Thiên,
thiền sư Chân Đạo Chánh Thống có một niềm kính trọng
thật là sâu xa kỳ lạ, khi đề bài tán lên bức ảnh của
vị thiền sư ấy với nhan đề Bài tán đề trên tượng hòa
thượng Giác Tiên chùa Trúc Lâm (số 21: Trúc Lâm tự Giác
Tiên hoà thượng tiếu tượng tán):
Ánh
thiêng riêng tỏ
Vượt
hút căn trần
Hiện
phàm hiện thánh
Theo
tục theo chân
Xương
trắng thêm thịt
Người
chết sống lên
Tán
thán chẳng kịp
Lớn
thay sư ân
(Linh
quang độc lộ
Huýnh
thoát căn trần
Hiện
phàm hiện thánh
Ứng
tục ứng chân
Năng
nhục bạch cốt
Năng
sanh tử nhân
Tán
thán mạc cập
Đại
tai sư ân)
Không
chỉ đối với những vị thiền sư thuộc lớp trước như
Trung Thứ, Giác Nhiên, Tịnh Khiết, mà đối với những người
đồng thời với mình như Bích Không, Giác Bổn, Tố Liên,
Mật Khế, Đôn Hậu v.v… và đặc biệt đối với những
người sau nhỏ hơn từ mười đến hai mươi tuổi, thiền
sư vẫn có một niềm ưu ái, một kỳ vọng và tin tưởng
lớn vào thế hệ tương lai, khi viết về họ. Ta đã đọc
qua trường hợp thiền sư Tố Liên. Đối với thiền sư Bích
Không, với tư cách là một pháp huynh, cùng đắc pháp với
thiền sư Ngộ Tánh Phước Huệ, thiền sư Chân Đạo Chánh
Thống đã có những vần thơ thăm hỏi dạt dào tình cảm
ngay khi thiền sư Bích Không mới treo ấn từ quan để xuất
gia, thiền sư đã làm bài Tặng Bích Không pháp đệ quải
quán quy thiền: (Tặng pháp đệ Bích Không treo mũ về thiền,
số 40)
Hán
học thương thay đã xế rồi
Đêm
tàn gác sách ngọn đèn côi
Nửa
đời mưa gió mơ trần khiếp
Nghìn
tuổi y quan hoạn lộ rời
Thiệp
thế đâu ngăn lui tới mệt
Hiểu
lòng mới biết chẳng ta ngươi
Tạm
dùng văn tự rời văn tự
Phật
Ấn như nay Tô lão thôi
(Hán
học kham lân nhật dĩ phô
Dạ
lan văn các nhất đăng cô
Bán
sinh phong vũ kinh trần mộng
Thiên
tải y quan yếm hoạn đồ
Thiệp
thế hà phường lai khứ quyện
Tri
tâm thỉ giác ngã nhân vô
Quyền
thi văn tự ly văn tự
Phật
Ấn như kim tích lão Tô)
Để
hiểu bài thơ này, cần biết rõ đôi chút về thân thế của
thiền sư Bích Không. Thiền sư xuất thân từ một gia đình,
mà Quốc triều hương khoa lục đã nhận xét: “Cha con anh
em cùng thi đậu”. Cha là Hoàng Hữu Xứng đậu cử nhân năm
1852, sau làm quan đến Tham tri, được gia hàm Thượng thư,
đổng lý biên tập bộ Đại Nam cương giới vựng biên. Anh
là Hoàng Hữu Bính đậu cử nhân năm 1879 rồi đậu hoàng
giáp năm 1889, tác giả văn bia chùa Sắc Tứ Tịnh Quang tại
Quảng Trị, mà bản rập hiện còn lưu giữ tại viện Hán
Nôm. Thiền sư đỗ tú tài khoa thi Hán học cuối cùng của
triều Nguyễn vào năm Mậu Ngọ (1918), rồi làm việc một
thời gian và cuối cùng xuất gia vào khoảng năm 1930. Năm 1935
thọ cụ túc giới tại giới đàn chùa Sắc Tứ Tịnh Quang
Quảng Trị. Những năm tiếp theo thiền sư đã tham gia vào
các hoạt động tổ chức các hội Phật giáo ở Nam Trung bộ
như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Phan Thiết, Lâm Đồng, và các tỉnh
Bắc Trung bộ như Nghệ An, Thanh Hóa. Chính trong thời gian hoạt
động thành lập trường sơ cấp và trung cấp Phật học Phổ
Đà, mà thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã gửi bài thơ
Dự Đà Nẵng phiếm Mỗ pháp khế (số 68), mà truyền bản
hai tập ghi là Ký thám Đà thành Mỗ pháp khế
Gió
bấc đêm đêm rét thấu xương
Nhớ
người chỉ cậy mộng mơ trông
Mây
cây bao xiết vô cùng hận
Vời
vợi non Trà tới sông Hương
(Dạ
dạ kim phong triệt cốt hàn
Hoài
nhân chỉ tác mộng trung khan
Kỷ
đa vân thọ vô cùng hận
Hương
thủy Trà sơ lộ diễu mang)
Bài
thơ nhắc đến những kỷ niệm về sông Hương, mà họ đã
từng có từng cùng nhau đi thuyền, làm thơ xướng họa, như
bài Họa vần pháp đệ Bích Không lúc đi thuyền trên sông
Hương (số 38)
Khói
ráng bơi rồi rộng khoảng trông
Chiều
về neo đậu để ăn cùng
Từ
đâu gió nhẹ theo đùa sóng
Vô
cớ trăng cao lạnh xuống sông
Bờ
cách lâu đài kinh mộng cũ
Ngang
trời cò trắng thích bay ngông
Lòng
thiền Hương nguyệt hay gì giống
Nửa
có tương quan nửa chửa từng
(Nhất
trạo yên hà nhãn giới khoan
Vãn
lai hệ lãm thả gia xan
Vi
phong hà xứ tùy ba động
Hạo
phách vô ngân nhập thủy hàn
Cách
ngạn lâu đài kinh tạc mộng
Hoành
thiên âu lộ ái dư nhàn
Thiền
tâm Hương nguyệt tri hà tợ
Bán
thị tương quan bán vị quan)
Về
sau, khi mặt trận Huế vỡ vào năm 1947, thiền sư Bích Không
đã ra Nghệ An, ở chùa Linh Vân, tức chùa Diệc. Ngôi chùa
này là nơi, mà gần 150 năm trước Nguyễn Du đã làm bài Văn
tế thập loại chúng sinh và cũng là nơi thiền sư Bích Không
đã gầy dựng một phong trào Phật giáo mạnh mẽ vào những
năm 30. Ngày rằm tháng 9 năm Giáp Ngọ (1954), thiền sư mất
ở đó, không bao giờ gặp lại người pháp huynh thân yêu
của mình nữa. Người đệ tử của thiền sư là thiền sư
Tâm Trí Viên Giác Chiêu Nhân (1911-1976), do không theo thầy mình
ra Nghệ An, đã thờ thiền sư Chân Đạo Chánh Thống làm thầy
y chỉ và được ban kệ đắc pháp qua bài Tứ pháp điệt
Tâm Trí tự Viên Giác hiệu Chiêu Nhiên đại sư kệ (số 32)
Y bát
gia phong nửa tối truyền
Dung
thông Tâm Trí hiểu chân thuyên
Không
rời thấy đạo lên Viên Giác
Pháp
pháp Chiêu Nhiên ấy thật quyền
(Y
bát gia phong bán dạ truyền
Dung
thông Tâm Trí hội chân thuyên
Bất
ly kiến đạo đăng Viên Giác
Pháp
pháp Chiêu Nhiên tức thật quyền)
Ngoài
thiền sư Bích Không, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã
có những quan hệ chặt chẽ với các thiền sư Đôn Hậu và
Trí Thủ. Bài thơ sớm nhất còn giữ được của thiền sư
viết về thiền sư Đôn Hậu là khi vị thiền sư này về
làm trụ trì chùa Linh Mụ vào năm 1946. Đó là bài Bính Tuất
hạ phỏng Đôn Hậu pháp lữ tân nhậm Thiên Mụ tự chủ
(số 38)
Sông
cong trong lắng bọc Kỳ viên
Tháp
báu tầng tầng tỏ Phước Duyên
Mây
ráng xa vây cây cối núi
Xóm
thôn trông xuống khói nhà lên
Rực
vàng sáng ngọc ơn vua nặng
Trao
kệ bàn kinh biết đạo viên
Bạn
cũ hai mươi nay hóa chủ
Trời
Nam lại gặp sáng trăng thêm
(Trừng
thanh giang khúc ủng Kỳ viên
Bảo
tháp tầng tầng biểu Phước Duyên
Viễn
đái vân hà trùng lãnh thọ
Phủ
lâm thôn lạc vạn gia yên
Huy
kim hoán bích thần ân trọng
Phó
kệ đàm kinh giác đạo viên
Tráp
tải cố nhân tân hóa chủ
Huống
phùng dạ nguyệt đảng viêm thiên)
Quan
hệ giữa hai vị thiền sư này cho đến thời điểm 1946 đã
trải qua 20 năm. Chính nhờ thời gian quan hệ lâu dài như thế,
mà ta tìm thấy một bài thơ mang tính hài hước khá vui nhộn,
lại đầy ý vị thiền, một bài thơ chỉ có thể viết giữa
những người bạn có quan hệ thân thiết với nhau. Đó là
bài Trào Đôn Hậu pháp lữ (số 290):
Rộng
tung mưa pháp bắc nam ta
Cận
trạng thế nào chửa rõ ra
Nghe
nói thiền huynh hay cơm ép
Trưa
thì ba chén, trước trưa ba
(Hoằng
triêm pháp vũ bắc nhi nam
Cận
trạng như hà ngã vị am
Văn
đạo thiền huynh năng cưỡng phạn
Ngọ
trung tam trản, ngọ tiền tam)
Nếu
hai vị thiền sư Bích Không và Đôn Hậu chỉ giữ lại một
số những bài thơ như vừa trích trong Thủy nguyệt tòng sao,
thì thiền sư Trí Thủ đã giành được một chỗ đứng tương
đối đặc biệt dưới ngòi bút của thiền sư Chân Đạo
Chánh Thống. Cả chục bài thơ hiện còn giữ được trong
truyền bản ba tập. Từ bài sớm nhất viết lúc thiền sư
Trí Thủ về làm trú trì chùa Ba La vào năm Mậu Dần (1938)
dưới nhan đề Mậu dần Trí Thủ pháp khế nhậm Ba La tự
chủ chi tặng họa vận, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã
nhắc tới sự kiện thiền sư Trí Thủ đỗ thủ sa di trong
giới đàn Từ Vân ở Đà Nẵng vào năm 1929, rồi trở thành
giảng sư nổi tiếng vào những năm sau tại trường Phật
học Tây Thiên, để từ đó đảm nhận chức vị trú trì
tổ đình Ba La do thiền sư Viên Giác Nguyễn Khoa Luận sáng
lập:
Bạn
hoa ưu bát giữa bao người
Chẳng
thẹn giao y gánh vác rồi
Sân
tuyết pháp truyền nơi Tổ đó
Tay
hoa đạo hợp tự Phật thôi
Như
nay cự phách trên trường giảng
Nhớ
trước giới đàn đạt cao ngôi
Thử
đem thuyền đạo chèo Nam Phổ
Sóng
sáng sắc trăng muôn khoảnh dồi
(Quân
thị nhân trung ưu bát la
Truyền
y bất quý tác đương gia
Pháp
thừa sơ tổ đình tiền tuyết
Đạo
khế năng nhân thủ lý hoa
Giảng
tịch nhi kim xưng cự phách
Phật
trường ức tự chíêm cao khoa
Thí
tương pháp trạo hoành Nam Phố
Nguyệt
sắc quang hà vạn khoảnh ba)
Đến
những bài thơ làm khi thiền sư Trí Thủ đã trở thành giám
viện của Phật học viện Hải Đức ở Nha Trang vào năm 1957
trở đi, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống vẫn giữ một thái
độ ưu ái đối với vị giám viện này, như bài Nha Trang
Phật học giám viện Trí Thủ chi thám (số 204) đã cho thấy:
Cửa
thiền khỏe mạnh giống bồi vun
Chẳng
kém ba sinh đá ấy hồn
Kia
cõi chưa từng quên cõi đó
Có
lời chính muốn rõ lời không
Người
bên quàng gọi non sông cách
Tớ
tự sâu hay đạo nghĩa còn
Nếu
hỏi năm kia gì được đó
Già
gồm nghèo bệnh chúng trung tôn
(Tài
bồi pháp chủng tráng thiền môn
Bất
á tam sinh thạch thượng hồn
Tha
đồ vị tằng vong thử độ
Hữu
ngôn chính dục hiển vô ngôn
Bàng
nhân mạn vị sơn hà cách
Tự
ngã thâm tri đạo nghĩa tồn
Nhược
vần niên lai hà sở đắc
Lão
khiêm bần bệnh chúng trung tôn)
Niềm
ưu ái và kỳ vọng ở lớp hậu tấn không chỉ dành riêng
cho những thiền sư như Trí Thủ, mà còn dành cho những người
đã từng theo học với thiền sư qua một thời gian nào đó
trong quá trình học tập của mình. Trong chùm thơ đề tặng
trên các bức ảnh nhỏ, mà ta thấy chép ở cả hai truyền
bản dưới nhan đề Tiểu ảnh đề tặng (số 108 và số 193),
ngoài thiền sư Trí Thủ ta thấy có cả những thiền sư lúc
ấy còn rất trẻ, mới trên dưới 30 tuổi, nhưng đã bắt
đầu đứng ra đảm trách những công tác lãnh đạo Phật
giáo như Mật Nguyện, Trí Đức, Trí Quang v.v…
Thực
vậy, chùm thơ này đã thấy xuất hiện trong truyền bản hai
tập, như thế nó phải có mặt trước năm Quý Tỵ (1953),
khi truyền bản này ra đời vào tháng giêng năm ấy. Từ đó
chúng phải được viết ra trong khoảng trước năm 1953 và
sau năm 1949, khi đại giới đàn Báo Quốc được tổ chức
và những thiền sư như Trí Đức lần đầu tiên thọ đại
giới. Chỉ cần đọc qua những bài thơ ấy, ta có thể thấy
niềm ưu ái và kỳ vọng vừa nêu đã thể hiện như thế
nào. Nếu thiền sư Trí Thủ đã được đề tặng với những
câu:
Chẳng
không chẳng có
Tức
giả tức chân
Coi
đó là ai
Trí
Thủ thượng nhân
(Phi
không phi hữu
Tức
tục tức chân
Giám
thử y thùy
Trí
Thủ thượng nhân)
thì
đối với thiền sư Trí Đức, ta đọc thấy những dòng:
Chẳng
mình chẳng người
Chẳng
rời chẳng tức
Chứng
đó là ai
Nhân
giả Trí Đức
(Phi
tự phi tha
Bất
ly bất tức
Chứng
thử thùy hà
Nhân
giả Trí Đức)
còn
về thiền sư Trí Quang, lời đề như một câu đối mang nhiều
thiền vị:
Thủy
Nguyệt tùy duyên
Diệu
hữu thành phi hữu
Trí
Quang chiếu khắp
Chân
không chẳng phải không
(Thủy
Nguyệt tùy duyên
Diệu
hữu hoàn phi hữu
Trí
Quang phổ chiếu
Chân
không bất thị không)
Riêng
đối với thiền sư Mật Nguyện, không chỉ đề trên ảnh:
Bích
Phong pháp vậy vượt tình vị
Mật
Nguyện làm sao định giả chân
(Bích
Phong pháp dĩ siêu tịnh vị
Mật
Nguyện vân hà định giả chân)
mà
trong cuộc sống, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã bộc
lộ những ưu ái. Trong một mùa mưa thu vào khoảng năm 1954-1955,
trước chùa Quy Thiện một vạt nấm mối mọc lên. Thiền
sư đã cho hái gửi biếu cho thiền sư Mật Nguyện trong bài
thơ Hựu tặng Linh Quang tự chủ (số 150)
Tàn
lọng đầy sân, mối hiến thành
Đúng
hay đức lớn cảm quần sanh
Mà
nay chia tới Linh Quang điện
Chùa
bếp canh chay hầu đủ làm
(Tán
cái doanh đình nghị hiến thành
Tín
tri đức đại cảm quần sanh
Nhi
kim phân chuyển Linh Quang điện
Già
bị thiên trù tác tố canh)
Những
lời đề ảnh trên, hơn chục năm sau trở thành như những
lời dự báo chính xác. Thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã
trông thấy tương lai của Phật giáo và đất nước ở trên
các khuôn mặt còn non trẻ của những vị thiền sư vừa dẫn
trên các bức ảnh, mà mình đang đưa bút viết lên.
Không
chỉ bên tăng, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống còn viết về
các vị xuất gia của nữ giới với một niềm ưu ái và kỳ
vọng không kém. Hiện tại, Thủy nguyệt tòng sao còn giữ
hai bài thơ viết về hai ni sư nổi danh không kém, đó là ni
sư Diệu Không (1905-1997) và ni sư Thể Quán (1920-1986). Hai vị
ni sư này đều xuất thân từ những danh gia vọng tộc của
vùng đất miền Trung và đã có những cống hiến to lớn cho
sự nghiệp phát triển Phật giáo từ những năm 1930 trở về
sau. Bản thân họ cũng là những cây bút có tên tuổi. Về
ni sư Diệu Không, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã viết:
Cửa
son buông muộn cành hoa đi
Mặt
đẹp lòng thơm nhớ thiếu thì
Sớm
chán gốc trần quên thế lợi
Những
vun cây đạo mặc điền y
Lại
đâu vất vưởng hay người giỏi
Há
lấy tầm thường xem nữ nhi
Trăm
thước đầu sào thêm bước nữa
Chờ
hiềm thay đổi để trì nghi
(Hầu
môn vãn phóng nhất hoa chi
Diễm
chất phương tâm ức thiếu thì
Tảo
yếm trần căn vong thế lợi
Vị
tài đạo thọ trước điền y
Hoàng
năng lạc phách tri nhân kiệt
Ninh
bả tầm thường khán nữ nhi
Bách
xích can đầu trùng tiến bộ
Mạc
hiềm biến dịch tiện trì trì)
Bài
thơ này chắc chắn phải được viết ra sau năm 1944 khi vị
ni sư này đã thọ đại giới tại giới đàn Thuyền Tôn tổ
chức vào năm ấy, sau 12 năm thọ giới sa di ni. Chính trong
thời gian này ni sư Thể Quán đi xuất gia sau khi nhờ sự giúp
đỡ của Thái hậu Đoan Huy mà lánh mình ở gác Khương Ninh,
nơi thờ Phật dành cho các Thái hậu và Hoàng hậu của triều
Nguyễn trong đại nội. Điểm đặc biệt là ni sư ấy là
con của Thượng thư Thái Văn Toản (1885-1952), người đã dựng
nên chùa Quy Thiện vào năm Đinh Sửu (1937) và mời thiền sư
Chân Đạo Chánh Thống làm trú trì. Hẳn sau việc ra đi từ
gác Khương Ninh và chính thức xuất gia, mà thiền sư đã làm
bài thơ Tặng Thể Quán tỳ kheo ni (số 197) với những câu:
Miệng
cọp ra rồi việc đáng bi
Duyên
lành duyên ác hẹn đúng kỳ
Cơ
thiền đã vậy suông tam thế
Trần
mộng phiền sao luận bốn tri
Bút
viết ánh châu nên tự gắng
Mắt
trông kim tướng hãy còn nghi
Mới
sinh thấy nói ao sen tắm
Sau
đó khó chi chứng Bảo trì
(Hổ
khẩu trung lai sự khả bi
Ác
duyên tín hỷ thiện duyên kỳ
Thiền
cơ chí dĩ không tam thế
Trần
mộng hà phiền luận tứ tri
Bút
hạ châu quang ưng tự lệ
Nhãn
tiền kim chứa thả tồn nghi
Sinh
sơ kiến thuyết liên trì dục
Hậu
thử vô nan chứng Bảo trì)
Bên
cạnh giới Phật tử xuất gia vừa dẫn, ta đã thấy thiền
sư Chân Đạo Chánh Thống còn có những quan hệ rộng rãi
với những nhân sĩ và trí thức Phật giáo khác của thời
mình. Ta có Sào Nam Phan Bội Châu (1869-1942), Thúc Giạ Thị
Ưng Bình (1877-1961), Trạch Chi Ngô Đình Nhuận, Bạch Mai Phan
Ngọc Hoàn (1893 - 1977), Minh Trai Trần Tiễn Hy (1909 - 1994) v.v…
Thiền
sư đã từng gặp nhà chí sĩ Phan Bội Châu, lúc ông bị an
trí tại Huế từ năm 1925 cho đến khi mất vào năm 1940. Thiền
sư đã nhắc lại cuộc nói chuyện của mình với nhà chí
sĩ ấy về vấn đề tâm, mà bài thơ Nguyệt hạ đàm tâm
(số 301) ghi lại như sau:
Dưới
nguyệt đàm tâm nhớ chí ngôn
Tiên
sinh đâu chỗ khóc trung hồn
Anh
hùng khí phách rốt khôn mất
Quốc
sĩ tinh thần quý tự tôn
Tuổi
trẻ tớ từng xuông lưới tục
Lúc
già ai liệu đến thiền môn
Chưa
bình biển hận chịu đâu hại
Ngựa
ký nên hay chí vẫn còn
(Nguyệt
hạ đàm tâm ức chí ngôn
Tiên
sinh hà xứ điếu trung hồn
Anh
hùng khí phách chung nan tử
Quốc
sĩ tinh thần quý tự tôn
Tráng
tuế ngã tằng anh thế võng
Mộ
niên thùy liệu đáo thiền môn
Vị
bình hận hải dung hà hại
Lão
ký ưng tri chí thượng tồn)
Bài
thơ này rõ ràng không đề cập gì đến vấn đề chữ tâm.
Nó chủ yếu ghi lại những cảm hoài về phía nhà chí sĩ,
bộc lộ chính những xúc cảm của thiền sư trước những
gì mà nhà chí sĩ đã nói. Ngoài cụ Phan Sào Nam, còn một
người Phật tử tại gia, mà thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
dành nhiều tình cảm và thời gian để xướng hoạ, đó là
cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Một loạt bài viết về nhà thơ
này, mà số lượng lên tới 18 bài, trong đó chủ yếu là
các bài xướng hoạ, đã được tập hợp lại trong Thủy
nguyệt tòng sao. Điều đáng ngạc nhiên là một số bài xướng
họa có ghi ngày tháng đã không tìm thấy trong Lộc minh đình
thi thảo. Chẳng hạn, bài Hoạ Thúc Giạ tướng công thất
nguyệt bát nhật tảo khởi vận (số 46). Bài này của Ưng
Bình phải có tên Thất nguyệt bát nhật tảo khởi, nhưng
không còn tìm thấy được nữa. Cũng thế, những bài hoạ
khác không có ghi ngày tháng, nhưng có trích một câu thơ của
chính Thúc Giạ, ta hiện không tìm thấy trong Lộc minh đình
thi thảo. Ví dụ, bài Thứ Thúc Gịa tướng công trùng dương
vận (số 88)
Mậu
Tý (1948) gặp năm, nay lại thu
Cười
ta mỗi tuổi mãi mộng du
Bánh
đề yên ủi lòng mong những
Biển
lấp chưa đền ý chẳng như
Buồn
nhạn cuối trời sương mất lớp
Hải
âu vô cớ bãi thêm ưa
Thần
non lời gởi thôi đừng nhạo
Ngày
khác ta rồi đầu bạc phơ
(Tuế phùng Mậu Tý hựu kim thu
Tiếu ngã niên niên lữ mộng du
Giả dục đề canh liêu tự ký
Vô như điện hải vị năng thù
Thiên niên thất trừ bi sương nhạt
Sa tế vong cơ tiện hải âu
Chí ngự sơn linh hưu tiến tiếu
Tha thời ngã diệc tuyết đôi đầu)
Câu
cuối của bài thơ vừa dẫn thiền sư có lời chua: “Tướng
công có câu: “Chỉ khủng sơn linh tiếu bạch đầu” (Chỉ
sợ thần non cười đầu bạc)”, nhưng ta cũng không tìm thấy
bài thơ của Thúc Gịa Thị trong Lộc minh đình thi thảo. Bài
duy nhất có trong số thơ xướng họa còn tìm thấy ở Lộc
minh đình thi thảo là bài Vịnh Bắc sử Tô Tần, mà nguyên
bản đọc:
Thập
thướng Tần thơ dĩ yếm trì
Quy
lai hành sắc chính kham bi
Toàn
gia nhược cố nan trung nhật
Lục
quốc chung vô ấn bội thì
Trắc
nhĩ bồng môn thê tự hối
Khuynh
thân liễu lộ tẫu hà si
Viêm
lương thế thái đô như thị
Sử
tại duy quân sự cánh kỳ
Bài
họa của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống với nhan đề Hoạ
Thúc Giạ tướng công vịnh Tô Tần vận đọc:
Bất
cập Điền Văn hối dĩ trì
Đương
niên thích cổ nhất hà bi
Âm
phù tụng biến ninh vô sách
Tung
ước danh cao tự hữu thì
Lưu
Triệu thù ân hoàn vị báo
Khứ
Yên để sự tổng do si
Phiên
giao lục quốc quy Tần bính
Kiến
địa như quân giả tối ty
(Chẳng
kịp Điền Văn hối chậm rồi
Đâm
đùi năm ấy thật buồn thôi
Âm
phù đọc khắp sao không chước
Tung
ước tên cao tự có thời
Ở
Triệu ơn nhiều còn chưa đáp
Bỏ
Yên việc ấy bởi ngu ơi
Về
Tần sáu nước người đà khiến
Chỗ
thấy như ông cũng thấp thôi)
Sự
tình này chứng tỏ Lộc minh đình thi thảo đã không thu thập
hết các bài thơ chữ Hán của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị.
Dẫu thế, giữa hai người chắc chắn đã có những quan hệ
thơ văn khá thắm thiết, mà ta có thể thấy qua số lượng
bài thơ do thiền sư Chân Đạo Chánh Thống viết ra và được
chép lại trong Thủy nguyệt tòng sao, một số lượng không
nhỏ.
Ngoài
hai nhân vật vừa nêu, những người có tên tuổi khác xuất
hiện trong Thủy nguyệt tòng sao, ta ngày nay chưa có điều
kiện tìm hiểu rõ về thân thế và sự nghiệp của họ. Đặc
biệt người đã đọc và bình điểm tác phẩm ấy là cụ
Mặc Si Nguyễn Huy Nhu. Chúng ta chỉ biết một cách chung chung
là cụ gốc người Nghệ Tĩnh, từng đậu tiến sĩ và làm
quan với nhà Nguyễn, về sau làm hội trưởng Hội cổ học
Việt Nam trong khoảng những năm 1956-1964 và tham gia giảng dạy
ở viện Đại học Huế. Dẫu thế, qua bốn bài tứ tuyệt,
mà cụ đã làm để tặng cho tác giả Thủy nguyệt tòng sao,
cũng cho thấy một phần nào tình cảm của cụ đối với
thiền sư, mà cụ cho là danh sĩ và cao tăng:
Chùa
đẹp vây quanh ở bốn bên
Sớm
chuông tối trống cạnh tai rền
Đọc
sư khắp quyển toàn câu đẹp
Danh
sĩ cao tăng ấy kẻ tên
(Phạm
vũ trang nghiêm nhiễu tứ lân
Thần
chung mộ cỗ nhĩ biên tần
Độc
sư mãn quyển lâm lang cú
Danh
sĩ cao tăng thử nhất nhân)
Một
người khác có quan hệ rất thân thiết với thiền sư Chân
Đạo Chánh Thống là Huyện doãn Ngô Đình Nhuận. Cụ Ngô
Đình Nhuận, có tên tự là Trạch Chi, người Lệ Thủy, Quảng
Bình, từng đậu cử nhân và làm quan với triều Nguyễn tới
chức tri huyện. Dòng họ Ngô Đình này cũng là dòng họ của
Ngô Đình Diệm, nhưng hầu hết họ đều là những Phật tử
thuần thành. Trong số các tác phẩm tặng cho vị Huyện doãn
này, ta đã bàn đến ở trên câu đối liên quan đến quan
điểm chính trị của thiền sư. Ở đây chúng tôi xin trích
bài Đêm trung thu năm Tân Tỵ (1941) cùng Huyện doãn Ngô Trạch
Chi nghe đàn trên lầu bên sông (số 39: Tân Tỵ trung thu dạ
đồng Ngô Trạch Chi huyện doãn giang lâu thính cầm cảm phú)
để cho thấy quan hệ thân thiết ấy đã diễn ra như thế
nào. Họ đã dìu nhau lên lầu cạnh sông Hương để nghe đàn,
nhưng những khắc khoải về tiền đồ đất nước, về nỗi
đau dân tộc cũng không rời lòng họ:
Tay
nắm dìu nhau bước tới lầu
Nghe
đàn vô cớ nỗi buồn đau
Trong
như tiếng quốc mong quê cũ
Nhỏ
tựa thuyền cô góa phụ sầu
Suông
ngóng thanh xuân còn mắt biếc
Luống
lo tuổi xế oán phau đầu
Bao
nhiêu thanh sắc theo dòng cũ
Mây
đứng nhạn sa thảy bọt xao
(Tương
tương ác thủ thướng giang lâu
Thính
khúc vô đoan vị để sầu
Thanh
tợ đề quyên hoài cố quốc
Tế
như ly phụ khấp cô châu
Phương
niên đồ vọng lưu thanh nhã
Vãn
tiết không lao oán bạch đầu
Thanh
sắc kỷ đa truy vãng sự
Đình
vân lạc nhạn tổng phù âu)
Ngoài
cụ Trạch Chi Ngô Đình Nhuận, thiền sư cũng có quan hệ lâu
dài với một gia đình Phật tử khác khá nổi tiếng ở Huế
là cụ Minh Trai Trần Tiển Hy. Cụ Hy là cháu nội của Phụ
chính đại thần Trần Tiển Thành (1830-1884) và là con của
Tổng đốc Trần Tiển Hối. Hai người có lẽ đã chơi thân
với nhau từ nhỏ, mà về sau người thì là học sĩ kiêm thầy
thuốc, còn người thì là thiền sư và nhà thơ, như bài thơ
thiền sư viết tặng cho cụ Hy vào tháng 7 năm Kỷ Hợi (1959)
đã ghi nhận:
Quay
đầu biết bạn thuở còn thơ
Học
sĩ anh từng, tớ kẻ tu
Bèo
dạt chim bay nên định khó