PHÂN
TÍCH NỘI DUNG
Qua
khảo sát tình trạng văn bản ở trên, ta thấy Thủy nguyệt
tòng sao với trên 400 bài thơ và văn có nội dung cực kỳ
phong phú. Nếu xét về loại hình thể loại văn học (genre)
thì nội dung đã được diễn tả dưới nhiều dạng thể
loại khác nhau, từ văn xuôi cho đến thơ. Về văn xuôi thì
có nhiều dạng, từ văn xuôi biền ngẫu cho đến phú, ký,
chí v.v… Biền ngẫu như bài Truy tiến chí sĩ cập trận vong
chiến sĩ ý (số 11). Phú như Báo Quốc tự hộ giới đàn
phú (số 10). Ký như Mỗ đồng song hữu mộng nhập Đào nguyên
thi thập thủ tinh tự, chúc dư vi ký (số 24). Chí thì như
Thiên Thai Thiền Tôn tự chí lược (số 142).
Còn
về thơ cũng thế. Tác giả Thủy nguyệt tòng sao đã thử
ngòi bút mình trên tất cả các loại hình thể loại thơ tồn
tại trong văn học Trung Quốc như thơ hai câu, thơ 4 chữ, thơ
5 chữ, thơ thất ngôn tứ tuyệt, thơ thất ngôn bát cú, thơ
cổ phong. Thậm chí thiền sư còn sử dụng cả một loại
hình đặc trưng của thơ ca Việt Nam, không tồn tại trong
thơ ca Trung Quốc, là song thất lục bát, để sáng tác một
số bài thơ chữ Hán. Đây có thể nói là những tác phẩm
song thất lục bát duy nhất bằng chữ Hán tồn tại trong nền
văn học chữ Hán của Việt Nam.
Có
một số người trên thế giới chủ trương dùng loại hình
thể loại văn học để phân tích và tìm hiểu nội dung thơ
văn của một tác giả. Điều này xuất phát từ một hiện
tượng có tính quy luật là mỗi thời đại văn học thường
nổi bật một số thể loại văn học nào đó và chính thể
loại văn học này đến lượt nó sẽ quy định trở lại
nội dung của chính nền văn học. Ta thấy ở Trung Quốc người
ta thường nhắc tới thể loại chủ đạo của một thời
đại văn học. Chẳng hạn, thời Hán nổi bật thể loại
phú, thời Đường thể loại thơ, thời Tống thể loại từ,
thời Nguyên thể loại kịch và thời Minh thể loại tiểu
thuyết v.v… Ở nước ta, một số người cũng đã dùng thể
loại để phân tích văn học, chủ yếu là nền văn học thời
Lý Trần do vì số lượng thơ văn hạn chế của thời đại
văn học này.
Tất
nhiên, dùng thể loại để phân tích một nền văn học cũng
có một số ưu điểm, nhưng không phải là không có những
nhược điểm cơ bản, mà một trong số đó là không cho thấy
hết toàn cảnh văn học của một thời đại hay của một
tác giả, đặc biệt đối với những tác giả cổ điển
hay thuộc loại cổ điển như thiền sư Chân Đạo Chánh Thống
của chúng ta đây. Đối với những tác giả này, làm văn
làm thơ là để nói ra hay ghi lại chí hướng nguyện vọng
của mình đối với bản thân và thời thế. Chính bản thân
thiền sư Chân Đạo Chánh Thống cũng đã công bố một quan
điểm tương tự trong lời tựa viết cho Thủy nguyệt tòng
sao: “Rằng thơ là để thấy chí, văn là nhằm thấu tình.
Cho nên, những người ưu thời mẫn thế đều làm thơ sánh
với Đỗ Phủ, còn mượn vật để biểu lộ cảm xúc thân
phận mình, thì phần lớn đều thuộc về loại Khuất Nguyên”.
Rõ
ràng quan điểm “Thi dĩ kiến chí, văn dĩ đạt tình” này
là một quan điểm rất xưa của nền văn học Trung Quốc,
tối thiểu là từ thời Khổng Tử trở đi. Chính trong lời
tựa viết cho Kinh thi sau khi san định, Khổng Tử đã đề
ra nó. Như vậy, trong nền văn học cổ điển, thơ văn được
quan niệm là để thể hiện chí hướng và truyền đạt tình
cảm, một quan điểm, mà về sau thường được diễn tả
vắn tắt bằng cụm từ “văn dĩ tải đạo”, tức văn chương
là để chuyên chở đạo lý. Lời tựa vừa trích của Thủy
nguyệt tòng sao đã xác định một quan điểm văn nghệ như
thế của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống.
Chính
xuất phát từ một quan điểm văn nghệ như thế, ta mới thấy
tại sao cả hai truyền bản hai tập và ba tập đã được
chính thiền sư Chân Đạo Chánh Thống xếp đặt nội dung,
như đã được trình bày ở trên. Nói cụ thể, Thủy nguyệt
tòng sao được hình thành không dựa trên loại hình thể loại
văn học. Nghĩa là tác phẩm thơ văn được thu thập đã không
sắp xếp theo thể loại văn học mà chúng sử dụng để diễn
đạt. Cho nên khi nhìn vào ta có ấn tượng chúng xuất hiện
một cách tùy tiện, không theo tiêu chí nào. Chẳng hạn, ta
thấy những bài thơ và văn được chép lại xen lẫn vào nhau.
Rồi về thơ cũng vậy. Những thể loại thơ khác nhau vẫn
được chép xen lẫn vào nhau. Thơ 2 câu chép chung với thơ
4 câu. Thơ 5 chữ chép chung với thơ 7 chữ v.v…
I.
VỀ CHÍ HƯỚNG THI CA
Rõ
ràng, việc sắp xếp xen lẫn như thế thể hiện một ý đồ,
dù nó có tạo cho ta ấn tượng lộn xộn. Ý đồ đó là một
ý đồ thể hiện quan điểm văn nghệ “thi dĩ ngôn chí, văn
dĩ đạt tình” (thơ để nói lên chí hướng, văn để biểu
đạt tình cảm). Mà đúng thế, cả hai truyền bản đều bắt
đầu với bài Sám hối văn. Bài văn này không biết được
viết vào lúc nào. Tuy nhiên, với danh nghĩa là một bài văn
sám hối, nó đã thể hiện quan điểm văn nghệ vừa nêu tương
đối trọn vẹn. Đó là nói lên chí hướng và biểu đạt
tình cảm của chính người viết ra nó. Chí hướng ở đây
là chí hướng muốn “đem tấm thâm tâm dâng mọi cõi” (tương
thử thâm tâm phụng trần giới). Đây là chí hướng mà mọi
người con Phật tự nhắc nhở mình vào mỗi sáng sớm sau
khi thức dậy, một chí hướng muốn phục vụ mọi người
với một tấm lòng chân thành sâu sắc.
Nó
là một câu lấy từ bài kinh đầu tiên của thời kinh buổi
sáng tại các chùa Việt Nam, mà những câu tiếp theo nêu ra
rất rõ ràng cách thức phục vụ. Đó là “đời ác năm dơ
thề vào trước” (ngũ trược ác thế thệ tiên nhập). Không
chối cãi gì nữa, yêu cầu xông pha vào những nơi khó khăn
gian khổ, vào nơi “đời ác năm dơ” của giới Phật giáo
thời Chân Đạo Chánh Thống đã được đặt lên hàng đầu
đối với những hoạt động Phật giáo tại gia cũng như xuất
gia. Thiền sư Chân Đạo Chánh Thống, như chính lời thiền
sư ghi nhận, sinh ra trong một gia đình dòng dõi Phật giáo
(gia thế nghiệp thiền). Thời điểm ra đời của thiền sư
(1900) cũng chính là thời điểm quân xâm lược Pháp vừa hoàn
tất chiến dịch cưỡng chiếm nước ta và bắt đầu thực
hiện chính sách bóc lột khai thác thuộc địa cực kỳ dã
man của chúng (1897).
Một
loạt các biến cố đã xảy ra. Một trong số đó là việc
thủ tiêu dần nền giáo dục cổ truyền bằng chữ Hán và
đưa chữ Việt La Tinh hóa, tức chữ Quốc ngữ, vào hàng văn
tự chính thức của đất nước, gây nên một trào lưu đua
đòi văn hóa mới, mà lúc bấy giờ gọi là Tân trào. Mục
đích của công việc này là nhằm nô dịch lâu dài dân tộc
Việt Nam, như một giám mục Thiên Chúa giáo hoạt động ở
miền Bắc nước ta vào thời ấy đã viết: “Vấn đề này
có tầm quan trọng rất lớn, và sau việc thiết lập Gia Tô
giáo, tôi xem việc phế bỏ chữ Nho và việc thay thế nó dần
dần bằng tiếng An Nam trước rồi kế đến bằng tiếng Pháp,
là một phương cách rất chính trị, rất tiện lợi và rất
hiệu nghiệm để thiết lập lên ở Bắc kỳ một nước Pháp
nhỏ của Viễn Đông”[1].
Thủ
tiêu nền giáo dục cổ truyền là nhằm thủ tiêu tầng lớp
trí thức Việt Nam, tức các sĩ phu thời đó. Lý do vì sao
thì cũng chính Puginier đã nói với Toàn quyền De Lanessan vào
năm 1887: “Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn, một
uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm
quan, cho nên cần thiết phải thủ tiêu họ đi. Chừng nào
tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả,
bởi vì với lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào
chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn điều nữa là chẳng
một ai trong họ chịu theo đạo Ky Tô cả”[2].
Đây
chính là cơ sở cho tình trạng “trào lưu mới lúc ấy phát
triển rầm rộ, trường Nho hoang vu”, mà thiền sư đã ghi
lại. Mà Nho học vào giai đoạn đó của đất nước có một
gắn bó hữu cơ với Phật giáo, như chính lời thân phụ của
thiền sư đã phát biểu: “May mắn là nhà ta năm đời truyền
cho nhau, đều lấy Khổng học làm nền móng, lấy Phật pháp
làm lâu đài”. Quan điểm gắn bó hữu cơ Nho Phật này là
một chủ trương lớn của Phật giáo thời đại Nguyễn Phúc
Chu (1692-1715), thời đại chủ trương cư Nho mộ Thích chi phối
toàn bộ những phát triển về sau của lịch sử Phật giáo
Việt Nam.
Nhưng
Nho giáo vào thời điểm thiền sư ra đời, đã không còn tiền
đồ và đang bị trào lưu văn hóa nô dịch mới đè bẹp.
Những người Phật giáo với chủ trương cư Nho mộ Thích
như thân phụ thiền sư không thể không đau lòng, đòi hỏi
con cái mình phải cố gắng nghiên cứu, tìm cách đưa Nho giáo
trở lại cuộc sống của dân tộc, sau khi phân tích quá trình
hình thành của Nho giáo trong lịch sử và tình trạng hiện
tại của nó: “Bọn các con nếu không kịp sớm nghiên cứu,
thì ngày kia e khó thoát khỏi lời trách về xe vàng bạc, về
con hạc nước già. Điều đau xót đáng giận là bộ mặt
thật của Khổng giáo trước vào đời Tần Hán đã bị che
lấp, về sau bị bọn hủ Nho làm cho che lấp thêm với quy
mô lớn, rồi đến những ăn nói sai lầm của tư trào thời
hiện đại. Ai mà có lòng với đạo này há nỡ ngồi xem.
Thêm nữa, lũ học giả lén trộm thuyết tùy thời, thì cũng
không thiếu người. Nhớ lại ơn bú mớm, thật thẹn nhiều
với loài chim. Song đã bỏ thành ra đi, còn hy vọng vào tiền
đồ; chưa thể đi hết nước non, đâu mong thấy hoa sáng liễu
tối. Phải dứt khoát trách mình, đâu rảnh mà nhìn đến
kẻ khác”.
Trong
việc kiểm điểm quá trình phát triển của Nho giáo qua lịch
sử, thân phụ thiền sư đã chú ý đến tình trạng hiện
tại của thời mình với một đám nhà Nho dùng thuyết tùy
thời của chính Nho giáo, để đi theo trào lưu mới, mà bản
thân ông tỏ ra dứt khoát không tán thành, Cho nên, một đòi
hỏi bức thiết được đặt ra. Nếu nền tảng Nho giáo đang
bị tấn công, thì người Phật giáo của thời đại cư Nho
mộ Thích phải rút về lâu đài Phật giáo thực hiện công
tác phòng vệ chống đỡ. Đây là lý do giải thích một phần
nào tại sao Thủy nguyệt tòng sao ra đời lại viết bằng
chữ Hán, trong khi vào lúc ấy “cái học nhà Nho đã hỏng
rồi”, như Trần Tế Xương than thở.
Khi
rút về lâu đài Phật giáo thì yêu cầu là “cần phải chọn
bỏ những lời vu vơ, nắm lấy diệu chỉ để cho trời nghĩa
ngày sáng, biển giác sóng êm, nhằm không phụ lòng tha thiết
của cha ông ta”. Dẫu vậy, cùng với tình hình đen tối chung
của đất nước, tình trạng Phật giáo vào lúc ấy thật
không sáng sủa tý nào. Cuộc sống thiền môn sau cuộc khởi
nghĩa của Đoàn Trưng Nguyễn Văn Quý năm 1868 bị dìm trong
biển máu và đặc biệt sau cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ
ở Phú Yên với sự tham mưu của Trần Cao Vân vào năm 1896
đã bị giới hạn tối đa, và cùng với tình trạng đất
nước mất chủ quyền, càng bị sa sút hơn nữa.
Đến
khi thiền sư Chân Đạo Chánh Thống được phụ thân dắt
đến xuất gia với hòa thượng Ngộ Tính Phước Huệ vào
năm Giáp Dần (1914) tại chùa Kim Quang của kinh thành Huế,
thì theo thiền sư “chế độ của sơn môn xưa còn tệ hơn
cả chính sách hà khắc. Ngoài nuôi heo chăn bò, việc dạy
dỗ không nghe nói tới. Cười khóc khi đón tới đưa về đều
là tội cả. Sinh hoạt thiền gia thì tối bốn sớm ba. Biển
học thấm vào thì như sừng lân lông phụng. Men tường trông
ngóng, chỉ tăng thêm nỗi buồn của kẻ cùng tử. Lần lữa
mấy năm, luống nuôi giấc mộng Trang Sinh”.
Tình
trạng giáo dục Phật giáo vào những thập niên đầu của
thế kỷ XX là như thế, nên đòi hỏi một thay đổi cơ bản,
mà sau này thường được gọi là phong trào chấn hưng Phật
giáo, và thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã tham gia một
cách tích cực ngay từ buổi đầu. Thực vậy, sau khi thọ
giới cụ túc vào năm 1922, thì đến năm 1928 thiền sư đã
đến chùa Thập Tháp tại Bình Định học với hòa thượng
Phước Huệ (1869-1945), như chính lời chua trong bài thơ 276
Thập Tháp tự tây lâu ngọa bệnh viết vào năm Mậu Tuất
(1958) đã ghi nhận: “Nhớ ba mươi năm trước từng lưu học,
ốm bệnh ở đó”.
Vì
thế, tuy bảo nền giáo dục Phật giáo vào những thập niên
đầu của thế kỷ XX thì “ngoài nuôi heo chăn bò, việc dạy
dỗ không nghe nói tới”, nhưng đây không phải không có những
trung tâm dạy dỗ cho lớp hậu tấn. Ở miền Bắc có tổ
đình Vĩnh Nghiêm tại Bắc Giang với sự chăm sóc của tổ
Thanh Hanh (1840-1936). Ở miền Trung có tổ đình Báo Quốc dưới
sự dìu dắt của tổ Hải Thuận Diệu Giác (1801-1891) với
sự xuất hiện của 9 đệ tử bắt đầu với chữ Tâm, mà
nổi bật nhất là tổ Tâm Tịnh (1879-1929), người khai sáng
ra tổ đình Tây Thiên nơi sẽ mở ra trường đại học Phật
giáo đầu tiên trên cả nước vào năm Ất Hợi (1935), mà
thiền sư Chân Đạo Chánh Thống tham gia hình thành và giảng
dạy như lời ghi ở bài tựa: “Mùa thu năm Ất Hợi (1935)
lại trở về kinh đô dựng mở Phật học đường ở chùa
Tây Thiên. Bốn phương đến học ngày càng thêm đông. Ngoài
sách Phật ra còn tham khảo thêm cả Nho học, đối với học
giả cũng có điều bổ ích”. Còn ở miền Nam thì có tổ
đình Giác Lâm của tổ Hoằng Ân Minh Khiêm (1850-1914), nơi
đã đào tạo ra nhiều cao tăng và tác gia lớn của miền Nam
như tổ Từ Phong (1864-1938) dịch giả của bộ Quy nguyên trực
chỉ diễn nghĩa.
Và
đó là mới chỉ kể những trung tâm lớn. Ngoài ra còn phải
kể đến hàng chục trung tâm nhỏ khác, mà do tình trạng đất
nước đang tiến hành cuộc đấu tranh với lực lượng xâm
lược Pháp, chỉ được tiến hành với quy mô nhỏ, mang tính
gia giáo, nhưng cũng đào tạo ra một số nhân vật Phật giáo
kiệt xuất khác của nửa đầu thế kỷ XX như hòa thượng
Trung Thứ (1871-1942), thiền sư Tố Liên (1903-1977) ở miền
Bắc, thiền sư Viên Thành (1874-1929) ở miền Trung và thiền
sư Khánh Hòa (1877-1947) ở miền Nam ...
Như
vậy, nền giáo dục Phật giáo vào những thập niên đầu
của thế kỷ XX không phải không có những thành tựu đáng
kể. Nó không chỉ đóng góp cho Phật giáo những cán bộ kiệt
xuất, mà còn cho dân tộc những người con ưu tú trong cuộc
trường chinh giành lại độc lập cho tổ quốc. Dẫu thế,
đất nước ta vào những năm này vẫn là một đất nước
mất chủ quyền và truyền thống văn hóa dân tộc, mà chủ
đạo là Phật giáo đang bị tấn công dữ dội. Cho nên, chí
hướng đem tấm thâm tâm mà phụng sự cõi đời, mà thiền
sư Chân Đạo Chánh Thống đề cập tới, thực tế phản ảnh
chí hướng chung của một thế hệ người Phật giáo đối
với sinh mạng dân tộc và vận mệnh Phật giáo lúc bấy giờ.
Tất
nhiên, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống với tư cách là một
người Phật tử thì việc đem tấm thâm tâm để phụng sự
mọi cõi trước hết đồng nghĩa với việc phụng sự Phật
giáo, mà từ thời Định Không (730-808) trở đi đã công khai
đặt sự tồn tại của mình trong sự tồn tại của dân tộc.
Cho nên, phụng sự Phật giáo tại nước ta chính là một dạng
của phụng sự dân tộc. Một điều bình thường là để
phụng sự một đối tượng nào, ta phải biết tình hình thực
tế của đối tượng đó cùng những yêu cầu của nó. Thế
thì, tình hình thực tế cũng như yêu cầu thực tế của Phật
giáo Việt Nam vào thời Chân Đạo Chánh Thống là gì?
Tình
hình thực tế này ta đã thấy một phần nào ở trên qua việc
mô tả “chế độ của sơn môn xưa còn tệ hơn cả chính
sách hà khắc. Ngoài nuôi heo chăn bò, việc dạy dỗ không
nghe nói tới”. Do đó, yêu cầu đầu tiên là phải nâng cao
nền giáo dục Phật giáo, biến nền giáo dục ấy từ những
tổ đình và trung tâm lẻ tẻ trên thành những trường lớn
để cho những người Phật tử tại gia cũng như xuất gia
có thể nắm vững đạo lý của đức Phật và đưa vào cuộc
sống Phật giáo của mình, nhằm chặn đứng các tệ nạn
do sự thiếu giáo dục phát sinh.
Ta
đã thấy, ngay khi Phật học đường Tây Thiên được mở
ra, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống với tư cách là “cao
đẳng học sanh” của Phật học đường này, đã đứng ra
diễn giảng tại chùa Từ Quang vào năm 1934 về đạo đế,
rồi năm sau giảng về tứ niệm xứ. Bài giảng về đạo
đế thì không thấy đăng, nhưng bài về tứ niệm xứ thì
đã được đăng vào mục Diễn đàn của báo Viên Âm 18 (1935)
26-39 ra vào tháng 11 và tháng 12 của năm 1935. Đây là bài giảng
duy nhất bằng văn xuôi tiếng Việt của thiền sư hiện còn
và là một trong những bài văn xuôi Quốc ngữ Phật giáo đầu
tiên của thế kỷ XX. Yêu cầu diễn giảng để cho Phật tử
hiểu được giáo dục về giáo lý Phật giáo vào thời điểm
ấy đã trở thành bức thiết.
Về
sau này, việc giáo dục vẫn được thiền sư quan tâm cho đến
cuối đời. Trong năm Mậu Tuất (1958) Phật học đường Thập
Tháp tổ chức. Thiền sư được mời và trở lại nơi mình
đã học để giảng dạy. Trong Lời huấn thị nhân ngày khai
giảng (số 274), một lần nữa chí hướng phụng sự Phật
giáo lại được thiền sư tha thiết nêu lên. Thiền sư nhấn
mạnh đến tình hình Phật giáo lúc ấy đã bị chính quyền
Ngô Đình Diệm tìm mọi cách hạn chế o ép và kêu gọi những
người học trò của mình hãy dũng cảm lên để đối phó:
“Bậc trượng phu tự có chí lên trời, không nhắm chỗ Như
Lai đi mà đi. Chỉ hiềm lúc này pháp nhược ma cường, trùng
ăn mọt đục. Trông xa thấy rộng, ai chẳng bùi ngùi. Hãy
thẳng tới hàm rồng lấy ngọc, dứt khoát chớ gởi thân
chốn thảo am. Gặp chốn múa chơi, thấy việc nghĩa phải
dũng cảm mà làm thì mới có thể gọi là bậc đạo nhân
vô sự có sở dụng đại tự tại”.
Những
lời huấn thị tha thiết như thế này tất nhiên không phải
không có tác dụng của nó. Chúng được dùng để huấn thị
cho một lớp tăng sĩ trẻ, mà mấy năm sau một số trở thành
trụ cột của Phật giáo tại Bình Định. Cho nên, có thể
nói chúng đã gây nên trong lòng người Phật giáo lúc ấy
một ý thức về trách nhiệm của mình trước sự tồn vong
và hưng phế của đạo pháp. Vì thế không phải quá đáng
nếu chúng ta cho rằng chúng đã đóng góp một phần đáng
kể vào sự nghiệp gầy dựng tiền đề cho cuộc vận động
Phật giáo năm 1963 đi đến thành công rực rỡ.
Công
tác giáo dục đã được đeo đuổi một cách bền bỉ trong
thời gian dài như một nhiệm vụ mà thiền sư đã tự đặt
cho mình, tối thiểu cho đến những năm 1962, khi chúng tôi
rời những buổi học cuối cùng tại chùa Quy Thiện, nơi thiền
sư đã trụ trì gần 30 năm. Chính nhờ công tác giáo dục
bền bỉ này mà trình độ tri thức của những Phật tử xuất
gia đã được nâng lên và cơ bản là đã đẩy lùi được
các tệ nạn, mà một thời đã làm thanh danh Phật giáo bị
ảnh hưởng. Một trong các tệ nạn ấy là việc cúng quảy
tràn lan.
Thực
tế khi An Nam Phật học hội ra đời, yêu cầu chỉnh lý tăng
già trở thành nhiệm vụ số một gồm hai nội dung chính như
báo Viên Âm 14 (1935) của hội đã ghi lại. Một là, làm trong
sạch đời sống Phật giáo bằng cách đề cao kỷ cương sơn
môn thông qua việc giám sát giới hạnh của từng thành viên.
Hai là, hạn chế những hành vi làm hại đến thanh danh Phật
giáo mà việc lạm phát các thầy cúng là một biểu hiện
cần quan tâm và chấn chỉnh. Thủy nguyệt tòng sao đã cho
ta thấy thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã tham gia tích cực
vào việc thực hiện những nhiệm vụ này của hội với một
loạt các tác phẩm còn chép lại trong đó.
Chẳng
hạn, ta có văn kiện Đại nghĩ Thừa Thiên tỉnh Phật giáo
hội án từ đề cập đến việc lưu lại một thành viên
của hội vì “bụng không có một chút mực, mắt không có
một chữ đinh”, mà có những sinh hoạt “tà mạng”, đáng
phải tẩn xuất. Tà mạng đây rõ ràng là những hoạt động
kiếm sống không đúng với tiêu chuẩn Phật giáo. Bên cạnh
công tác giám sát này cần tổ chức lại đời sống Phật
giáo một cách có quy củ, đặc biệt đối với những người
xuất gia, thông qua việc thành lập các giới đàn truyền thống,
để “dắt dẫn kẻ đến sau, nhằm nối tuệ mạng Phật”,
mà chính thiền sư rất coi trọng và tham gia bằng các tác
phẩm của mình như Giới đàn tiết thứ bảng.
Ngoài
ra, cần phê phán những tranh chấp trong nội bộ tăng già,
vì nó sẽ làm cho đạo pháp yếu đi, chùa chiền thành “đất
gai bụi”, “chốn nóng buồn”, để từ đó những tà thuyết
mạnh lên. Bài thơ Cùng các thầy Mỗ ngầm tranh chủ chùa,
kích bác lẫn nhau (số 288) đã viết:
Sớm
hôm nhiếp niệm lễ Không vương
Thế
sự nhọc suông chớ tính lường
Yêu
ghét chưa quên, hay đạo yếu
Oán
thân khôn mở, giận ma cường
Vườn
Kỳ bỗng biến đất gai bụi
Cảnh
tịnh thoắt nên chốn nóng buồn
Cảnh
tỉnh sông yêu danh lợi khách
Thôi
say lợi buộc với danh ràng
(Thần
hôn nhiếp niệm lễ Không vương
Thế
sự đồ lao mạc giảo lường
Tăng
ái vị vong tri pháp nhược
Oan
thân nan giải hận ma cường
Kỳ
viên hóa tác kinh trăn địa
Tịnh
cảnh phiên thành nhiệt não trường
Cảnh
tỉnh ái hà danh lợi khách
Khước
hàm lợi tỏa dự danh cương)
Gốc
gác của những tranh chấp như thế chủ yếu xuất phát từ
những đeo đuổi theo danh lợi. Theo thiền sư, không chỉ người
đời đã dồn hết tâm trí cuộc đời mình vào việc tranh
chấp danh lợi, mà ngay cả những người Phật giáo đã nhiếp
niệm, thế mà đôi khi vẫn có những kẻ bộc lộ những ao
ước danh lợi tầm thường. Bài ca Danh dỗ lợi đã viết
thế này:
Anh
chẳng thấy Phật đồ giữ cao khiết
Tránh
tớ sợ anh như rắn rít
Biết
vội trong ngoài liên hệ đâu
Lòng
thích bọn ta như thánh triết
(Quân
bất kiến Thích đồ thủ cao khiết
Tỵ
ngã úy quân tợ xà yết
Hoàng
tri nội ngoại bất tương can
Tâm
mộ ngô tề như thánh triết)
Mặt
khác, yêu cầu giữ gìn chùa chiền là nơi tôn nghiêm, làm
chỗ dựa tinh thần cho quảng đại quần chúng Phật tử phải
được đề cao và phê phán mạnh mẽ những ai làm trái. Khi
viết về lai lịch chùa Thiền Tôn với nhan đề Thiên Thai
Thiền Tôn tự chí lược (số 142) , thiền sư Chân Đạo Chánh
Thống đã thể hiện quan điểm của mình một cách rõ ràng,
nêu tên tuổi những người đã để cho tổ đình thành hoang
phế qua lịch sử và ca ngợi những vị đã có công duy tu
bảo quản.
Từ
công tác chỉnh đốn tăng già như thế, nhiệm vụ thứ hai
là phải hạn chế tối đa một số sinh hoạt mang danh nghĩa
Phật giáo, nhưng gây ra nhiều tác hại lớn, nếu không được
kiểm soát, đó là việc đi cúng (ứng phó). Yêu cầu hạn
chế này một phần do các thầy cúng thời bấy giờ là những
người chưa được đào tạo đầy đủ và biến việc cúng
quảy thành một cơ hội để làm ăn, mà bài thơ Lạm chen
vào (số154), thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã xem họ như
những con nhặng:
Đáng
thương thất nghiệp về tu hành
Đuôi
ngoắt cầu xin nghe chẳng đành
Tán
tụng tập quen vài mấy tháng
Nhân
gian cúng quảy làm ruồi xanh
(Khả
lân thất nghiệp bán vi tăng
Diêu
vĩ ai cầu bất nhẫn văn
Bộ
tập khoa nghi tam sổ nguyệt
Nhân
gian ứng phó tác thanh thằng)
Tình
trạng này, thiền sư lo lắng không biết có chữa được không,
coi nó như một loại vi trùng lao có thể ăn nát lá phổi Phật
giáo, mà bài thơ Nan y (số 153) đã nói lên phần nào:
Cho
phép thiền môn văn tự li
Chồn
thành chuột xã thảy quy y
Đầu
tròn áo vạt như người vậy
Hại
phổi trùng lao dễ chữa gì
(Nhất
thính thiền môn văn tự li
Thành
hồ xã thử tổng quy y
Phương
bào viên đỉnh do nhân dã
Hại
phế lao trùng khởi dị y)
Đứng
trước một tệ trạng như thế, không chỉ phải dũng cảm
nhìn thẳng vào sự thật, người Phật tử của thời đại
thiền sư Chân Đạo Chánh Thống còn đề ra yêu cầu bức
bách, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải lành mạnh hoá đời
sống Phật giáo của thời mình.Ta đã thấy An Nam Phật học
hội nêu lên yêu cầu ấy trong chương trình hành động của
mình và phổ biến trên tạp chí Viên Âm, mà chúng ta đã đề
cập tới ở trên.
Sau
công cuộc chỉnh lý đời sống Phật giáo, yêu cầu tổ chức
lại lực lượng và hoạt động được đặt ra. Từ những
năm 1930, khi còn học tập và diễn giảng ở Phật học đường
Tây Thiên, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã thể hiện
chí hướng muốn thống nhất lực lượng Phật giáo như đã
được thể hiện trong một cuộc trao đổi với một nhân
vật kiệt xuất của Phật giáo miền Bắc là thiền sư Tố
Liên (1903-1977). Đến khi Phật giáo ba miền Trung Nam Bắc họp
tại chùa Từ Đàm của cố đô Huế, thiền sư đã viết bài
thơ mừng Tặng pháp lữ Tố Liên của Bắc Việt:
Ba
kỳ thống nhất nhớ lời mình
Biển
hội chập chùng hiện Tố Liên
Sắt
đá lòng ôm lên Thứu lĩnh
Biển
dâu giận mãi khóc Kỳ viên
Hòm
vàng ghi rõ dấu thời ấy
Trăng
báu treo cao trời dặm nghìn
Thống
nhất nay thành như ước cũ
Do
anh hiển thật, tớ khai quyền.
(Tam
kỳ hiệp triệt ức tiền nghiên
Hải
hội trùng trùng dũng Tố Liên
Thiết
thạch hữu hoài đăng Thứu lãnh
Tang
thương di hận khấp Kỳ viên
Kim
đằng tường ký đương thị tích
Bảo
nguyệt cao huyền vạn lý thiên
Nhất
thống hiện thành thù vãng ước
Do
quân hiển thật, ngã khai quyền)
Trong
bài thơ này, thiền sư đã ghi lại hai câu thơ mà thiền sư
Tố Liên đã tặng cho mình và coi như một lời sấm ngữ dự
kiến đúng đắn những gì sắp xảy ra đối với sự nghiệp
thống nhất Phật giáo Việt Nam: “Mười lăm năm trước,
thầy tặng ta một bài thơ luật, mà câu kết đọc:
Đạo
pháp tương lai anh đắc chí
Ba
kỳ thống nhất há bàn xằng?
(Pháp
quỷ tương lai quân đắc chí
Tam
kỳ hiệp triệt vọng đàm gia)
nó
đã trở thành sấm ngữ”. Thực tế, bài thơ mà thiền sư
trích hai câu vừa dẫn rõ ràng đề cập đến vấn đề thống
nhất Phật giáo trong cuộc nói chuyện giữa thiền sư và thiền
sư Tố Liên vào năm 1937 hay trước đó. Thời điểm này ta
có thể biết chắc chắn do việc thiền sư đã họa lại bài
thơ có hai câu vừa dẫn của thiền sư Tố Liên và cho đăng
trên báo Viên Âm 27 (1937) 51 dưới nhan đề Thứ vận kính
tặng du phương tăng Tố Liên thiền huynh. Bài thơ họa này
gồm hai bài, nhưng truyền bản ba tập chỉ chép được một
bài dưới nhan đề Ư Tây Thiên tự giảng học thời họa
đáp Bắc Việt Tố Liên pháp hữu chi tặng (số 110), còn bài
thứ hai thì không thấy chép, và chúng tôi đã cho bổ sung
ở trên.
Thông
qua chùm thơ này ta thấy hai nhân vật kiệt xuất của Phật
giáo lúc ấy đã có những toan tính gì cho tiền đồ của
Phật giáo thời đại mình. Những toan tính này chỉ nhằm
phục vụ cho sự nghiệp phát triển Phật giáo, mà không vì
mục tiêu nào khác ngay cả danh lợi:
Danh
hão, đã đành không bận bịu
Đạo
mầu, âu phải tính gần xa
(Phi
quan trần thế lưu hư tích
Vị
khế thời cơ tác viễn đồ)
Cho
nên, khi giấc mơ thống nhất Phật giáo ba miền biến thành
hiện thực vào năm Tân Mão (1951) tại chùa Từ Đàm, thiền
sư đã làm một loạt các bài thơ mừng như bài Toàn quốc
Phật giáo thống nhất đại hội sự hoàn tặng bắc nam nhị
pháp chủ (số 128) và bài Bắc Việt Tố Liên pháp lữ thừa
phi đỉnh lai kinh phú trình (số 107), ngoài bài Tặng Bắc Việt
Tố Liên pháp lữ đã nêu trước. Bài Toàn quốc Phật giáo
thống nhất đại hội . . . đặc biệt có một ý nghĩa đáng
quan tâm, vì lần đầu tiên lá cờ Phật giáo được thơ văn
nhắc tới, mà về sau đã trở thành biểu tượng cho cuộc
vận động Phật giáo năm 1963, nguyện vọng cũng như mục
tiêu cao nhất của bản thân thiền sư cùng chính đại hội
thống nhất Phật giáo này là nỗ lực làm cho mọi gia đình
Việt Nam trở thành gia đình Phật giáo:
Xem
nam thành bắc, bắc thành nam
Rốt
cuộc giữa nêu chẳng định tham[3]
Ba
một dung nhau, rành bát nhã[4]
Tự
tha gồm lợi, nở hoa đàm
Năm
màu lấp lánh cờ mây tỏ
Nghìn
cõi lặng êm biển dấu làm[5]
Lặng
chiếu tùy duyên nhờ diệu lực
Nhà
nhà cửa cửa thảy già lam
(Quan
nam thành bắc, bắc thành nam
Đáo
để trung tiêu vô định tham
Tam
nhất hổ dung minh bát nhã
Tự
tha kiêm lợi phóng ưu đàm
Quang
đằng ngũ sắc vân kỳ biểu
Giới
phổ thiên như hải ấn hàm
Tịch
chiếu tùy duyên bằng diệu lực
Gia
gia hộ hộ tổng già lam)
Năm
sau, năm Nhâm Thìn (1952) tham gia phái đoàn Phật giáo Huế ra
Hà Nội dự đại hội tăng già Việt Nam, thiền sư đã làm
một loạt bài thơ mừng đại hội thắng lợi. Chẳng hạn,
bài thơ số 132 tặng cho thượng thủ giáo hội lúc ấy vừa
mới được suy tôn là hòa thượng Tuệ Tạng (1889-1959), một
lần nữa ý chí thống nhất Phật giáo cả nước “không
nam bắc” đã được thể hiện và yêu cầu đề cao phẩm
hạnh và trí tuệ của tăng già được nhấn mạnh:
Niết
bàn trên hội nhận di âm
Giới
hạnh nghiêm trì hợp diệu tâm
Trí
tuyệt ánh thu trong biển ấn
Đức
như ngày ấm sưởi thiền lâm
Trời
người cùng mến không nam bắc
Văn
hóa đều thông, nhất cổ kim
Nguyện
mở từ bi thường trụ thế
Cứu
mê xin giữ chỉ nam châm
(Niết
bàn hội thượng phụng di âm
Giới
hạnh nghiêm trì khế diệu tâm
Trí
tuyệt thu quang trừng hải ấn
Đức
đồng xuân nhật hú thiền lâm
Nhân
thiên cọng ngưỡng vô nam bắc
Văn
quỹ hàm thông quán cổ câm (kim)
Nguyện
khải từ bi thường trụ thế
Chuyển
mê vị tác chỉ nam châm)
Tất
nhiên, Phật giáo tự bản thân là một hiện tượng văn hóa.
Cho nên, dù tổ chức đến đâu vấn đề cơ bản vẫn là
tổ chức để làm gì. Rõ ràng tổ chức để phổ biến đạo
lý sống của Phật giáo đến những người trong và ngoài
Phật giáo, làm cho “nhà nhà cửa cửa thảy già lam”, như
chính thiền sư đã từng nói. Muốn thực hiện công tác phổ
biến ấy, mà từ chuyên môn thường gọi là sự nghiệp hoằng
pháp, thì điều kiện cơ bản phải là giáo dục. Ở trên
ta đã nói tới yêu cầu bức thiết của việc nâng cao và
mở rộng nền giáo dục Phật giáo thời đại thiền sư Chân
Đạo Chánh Thống. Nhưng chúng ta chưa có dịp đề cập đến
nội dung nền giáo dục đó như thế nào theo quan điểm của
thiền sư.
Chỉ
đọc qua Thủy nguyệt tòng sao, ấn tượng đầu tiên là tác
giả của tác phẩm này có một nền giáo dục cổ điển tương
đối hoàn chỉnh không chỉ về Phật giáo, mà bản thân tác
giả với tư cách là một thiền sư tất nhiên phải có, mà
còn về những ngành học ngoại điển khác, bao gồm cả Nho
và Lão và một số các ngành phương kỷ khác. Đây có thể
nói đại biểu cho nền giáo dục của một truyền thống Việt
Nam. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì đối với thiền sư
“Phật tại thế gian, không tách rời thế gian mà giác ngộ
được. Cho nên, người tu hạnh bồ tát phải nên thiệp thế
lợi sanh, tùy cơ phó cảm, ở địa ngục mà như chơi lầu
thượng uyển, cởi áo quí mà mặc áo rách. Nếu không có
bản lĩnh đó, động tới thì nói như huyễn, hay nói vô vi,
mà coi chuộng hình hài, chạy tìm thế lợi, thì chưa thoát
khỏi nỗi khổ của ba đường, rảnh gội ao sen tám đức
ư ?”
Với
quan niệm “Phật tại thế gian, không thể tách rời thế
gian mà giác ngộ được” tất nhiên, nền giáo dục Phật
giáo không bao giờ tách ra khỏi nền giáo dục phổ thông thế
tục. Thậm chí, nền giáo dục thế tục là cơ sở cho nền
giáo dục Phật giáo. Trong gần hai ngàn năm tồn tại của
nền giáo dục Phật giáo nước ta, đây là một nguyên tắc
nền tảng, mà vào những thời nào nếu chấp hành tốt thì
đã đóng góp cho dân tộc và Phật giáo những người con ưu
tú. Ngược lại, nếu vi phạm nguyên tắc ấy, thì không chỉ
Phật giáo mà cả dân tộc bị tác hại một cách nghiêm trọng.
Qua lịch sử từ Mâu Tử, Khương Tăng Hội (200?-280) cho tới
ngày nay, ta có nhiều ví dụ để chứng minh sự đúng đắn
của nguyên tắc vừa nêu.
Qua
gần 19 bài trong chùm thơ Phiếm ngâm của Tập trung từ số
143.1 đến 143.19, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã thử
tưởng tượng mình làm thân phận của một anh thợ săn, một
người thợ dệt, một lão làng chài, một bác tiều phu, một
người cày ruộng, một kẻ chăn trâu, một tay đánh đàn,
một kỳ thủ, một nhà thơ, một bợm nhậu, một họa sĩ,
một kẻ sĩ, một nhà nông, một anh thợ, một tay buôn, thậm
chí làm Phật, làm vua, làm chúa v.v… Rõ ràng, trong xã hội
những hạng người này đều có thể là những người Phật
giáo. Và những người Phật giáo đều có thể có những thân
phận như thế, không chỉ ở mọi miền của đất nước ta,
mà còn trên tất cả mọi miền của thế giới.
Vấn
đề cốt lõi là khi sống những thân phận đó, người Phật
giáo sẽ làm gì để thể hiện tư cách Phật tử của mình,
để đưa đạo lý Phật giáo của mình vào cuộc sống. Tất
nhiên, những nghề như dệt, cày, làm thợ, đi buôn, dạy học
v.v… là cần thiết cho xã hội văn minh, phục vụ cái ăn,
cái mặc, cái ở và học hành cho mọi người. Từ xưa tới
nay, bất cứ một xã hội nào cũng đều cần những nghề
như vậy. Mọi cuộc đấu tranh cũng từ đó mà ra. Đấu tranh
để chống lại cái đói, cái rét, cái dốt nát dưới nhiều
hình dạng khác nhau, từ việc lật đổ một chế độ, một
chính quyền cho đến phát hiện ra một nguyên lý mới, một
cấu trúc vật chất mới. Cho nên, nếu nghề dệt là để
“giúp dân đang rét” (trợ dân hàn), thì nghề nông là nhằm(bài
số 143.13):
Ngàn
kho trăm lẫm đầy dư dật
Chày
giã vui nghe dân hát xang
(Thiên
thương bách lập giai doanh dật
Lạc
thính dân ca tương chữ thung)
Không
chỉ những nghề cần thiết cho xã hội vừa kể, mà ngay cả
những hoạt động tưởng không liên hệ gì nhiều đến sản
xuất, đấu tranh như làm thơ, đánh cờ v.v… cũng được
nhìn dưới một góc độ mới. Từ xa xưa, ở Trung Quốc cũng
như Việt Nam, thơ văn được coi như một thứ vũ khí sắc
bén có thể tiêu diệt quân thù. Vua Trần Thái Tông (1218-1277)
đã từng nói: “Bút văn quét trận nghìn quân”[6] (văn bút
tảo thiên quân chi trận). Chính trong xu hướng coi văn nghệ
là một thứ vũ khí, mà thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã
viết về những người làm thơ thế này:
Đèn
xanh song cửa học làm thi
Lui
giặc khiếp người hẹn dễ gì
Đông
trét tây bôi tùy chỗ thích
Mượn
người lỗ mũi để làm chi
(Thanh
đăng song hạ học tài thi
Thối
lộ kinh nhân vị dị kỳ
Đông
mạc tây đồ tùng sở hiếu
Tá
tha tỵ khổng cánh hà chi)
Chức
năng “đẩy lùi quân giặc làm khiếp sợ người khác” (thối
lộ kinh nhân) của văn nghệ như thế là một chức năng có
thật, dù không dễ gì thực hiện. Tuy nhiên, văn nghệ không
phải lúc nào cũng thể hiện được chức năng này, thậm
chí đôi khi sa sút tới mức trở thành một thứ bồi bút,
chỉ làm cái việc “đông trét tây bôi tùy chỗ thích” và
mượn lỗ mũi người khác để thở để sống. Từ đó, người
Phật giáo không từ chối bất cứ một nghề nghiệp đúng
đắn nào. Mà nghề nào cũng đều có thầy, có tổ, nghĩa
là đòi hỏi phải được giáo dục. Một khi đã thế, nền
giáo dục Phật giáo phải là nền giáo dục đa ngành và tổng
hợp.
Thủy
nguyệt tòng sao cho ta một thí dụ cụ thể. Trong chùm thơ
Vịnh cổ với 54 bài, nó cho chúng ta thấy kiến thức cổ
sử Trung Quốc của một thiền sư Phật giáo Việt Nam như
thế nào. Bình thường người ta quan niệm nếu là một người
đang đeo đuổi hành trình tu niệm giác ngộ thì việc gì anh
phải đọc cổ sử. Và không chỉ đọc mà còn nghiền ngẫm
và viết ra những bài thơ vịnh các nhân vật đã làm nên
lịch sử Trung Quốc trong một thời kỳ nào đó, một việc
thường dành cho những người làm chính trị, thế thì thiền
sư làm việc đó để làm gì? Câu trả lời đã có sẵn trong
lời dẫn trên. Ấy là “người thực hành hạnh bồ tát đòi
hỏi phải thiệp thế để lợi sanh”.
Trong
vấn đề này, cần nói rằng thơ văn liên hệ đến thời
cuộc chính trị khi sáng tác ra, đã bị thiền sư vứt bỏ
đi, như phần viết thêm trong lời tựa cho truyền bản ba tập
đã xác nhận: “Thơ ta cũng như văn, mỗi khi soạn ra mà không
hợp lòng, hoặc có điều liên quan tới thời cuộc thì liền
bị vứt đi”. Tuy nhiên, không chỉ thơ vịnh cổ sử là liên
hệ đến chính trị và thời cuộc xưa, mà một số bài thơ
văn khác trực tiếp đề cập tới lĩnh vực ấy. Chẳng hạn,
trong một câu đối tặng cho huyện doãn Trạch Chi Ngô Đình
Nhuận, thiền sư đã viết:
Vi
chính tại khoan, cảm vật tằng truyền thuần dã trỉ
Khiết
kỷ dĩ tấn, siêu nhân thiên mộ chước tham tuyền
(Làm
quan phải khoan, cảm vật tằng nghe thuần dẽ nội
Sạch
mình để tiến, hơn người riêng mến rót suối tham)
Đọc
câu đối này, có thể thấy rõ quan điểm chính trị của
thiền sư Chân Đạo Chánh Thống. Và quan điểm chính trị
này cũng chỉ là một quan điểm chính trị truyền thống mà
từ thời Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo trở đi đã
trở thành nguyên tắc chỉ đạo của hệ thống công quyền
Đại Việt. Đó là “bên trong thì sáng suốt khoan hòa, bên
ngoài thì nhân từ giản dị” (Lý Thường Kiệt) và “khoan
thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ” (Trần Hưng
Đạo).
Nói
chung, nền giáo dục Phật giáo theo Chân Đạo Chánh Thống
không chỉ giới hạn trong kinh điển của Phật giáo, mà phải
vươn lên trở thành một nền giáo dục toàn diện đúng như
truyền thống giáo dục Việt Nam đã được thể hiện. Mà
bản thân thiền sư là một điển hình tiêu biểu. Chính xuất
phát từ một nền giáo dục như thế cùng với chí hướng
muốn đem “thâm tâm phụng sự mọi cõi”, thiền sư Chân
Đạo Chánh Thống đã không chỉ giới hạn những quan hệ
Phật giáo của mình trong giới xuất gia, mà còn mở rộng
tới những thành phần Phật giáo tại gia khác nhau, thậm chí
cả tín đồ của những tôn giáo khác ngoài Phật giáo.