III.
KHÁC BIỆT GIỮA HAI TRUYỀN BẢN
Bây
giờ, nếu đem thống kê vừa nêu của nội dung truyền bản
ba tập so với nội dung của truyền bản hai tập liệt ở
trên, rõ ràng truyền bản ba tập tỏ ra phong phú không chỉ
về đề mục, mà còn cả về số lượng. Thực vậy, truyền
bản hai tập chỉ có 120 đề mục, trong khi con số đó ở
truyền bản ba tập là 348, nghĩa là nhiều gấp ba lần. Một
khi đề mục đã nhiều như thế, tất nhiên số lượng thơ
văn chắc chắn sẽ dồi dào hơn, mà ta có thể thấy qua biểu
so sánh sau:
|
Truyền
bản hai tập
|
Truyền
bản ba tập
|
|
Thơ
|
221
|
338
|
|
Đối
|
62
|
265
|
|
Chú
Thích
|
0
|
27
|
|
Văn
|
5
|
21
|
|
Ca
|
2
|
7
|
|
Châm
|
1
|
3
|
|
Phú
|
1
|
1
|
|
Tụng
|
0
|
1
|
Qua
biểu so sánh, ta thấy hai truyền bản có một khác biệt rất
lớn về số lượng thơ và câu đối. Sự khác biệt số lượng
về câu đối, rồi sẽ thấy, biểu thị một ý nghĩa xã hội
tôn giáo đáng chú ý, điểm chỉ cho ta biết Phật giáo đã
xâm nhập vào đời sống xã hội như thế nào. Còn về thơ,
vì được viết dưới nhiều thể loại khác nhau, từ hai câu
cho đến ngũ ngôn tứ tuyệt (NNTT), thất ngôn tứ tuyệt (TNTT),
thất ngôn bát cú (TNBC) và đặc biệt dùng cả thể thơ thuần
túy Việt Nam là song thất lục bát (STLB), nên để dễ thấy,
chúng tôi cho kê ra ở biểu sau:
|
Truyền
bản hai tập
|
Truyền
bản ba tập
|
|
Thơ
hai câu
|
6
|
6
|
|
Cổ
phong
|
0
|
3
|
|
Thơ
4 chữ
|
6
|
7
|
|
Thơ
5 chữ
|
4
|
12
|
|
NNTT
|
5
|
6
|
|
TNTT
|
129
|
166
|
|
TNBC
|
68
|
137
|
|
STLB
|
1
|
1
|
Sự
dồi dào thơ văn của truyền bản ba tập, khi so với truyền
bản hai tập cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì như đã nói, truyền
bản hai tập hoàn thành vào tháng giêng năm Quý Tỵ (1953),
trong khi truyền bản ba tập, dù vẫn giữ lời tựa năm Quý
Tỵ, đã thu thập một số lớn các tác phẩm viết sau năm
ấy khoảng 10 năm. Ta thấy một loạt các thơ văn có ghi thời
điểm ra đời sau năm Quý Tỵ như bài Được cho gạo vào
tháng chạp năm Bính Thân (1956), bài Ngắm buổi chiều ở chùa
Từ Ân năm Đinh Dậu (1957), Huấn thị tại Phật học đường
Thập Tháp năm Mậu Tuất (1958), bài Sáu mươi tuổi tự vịnh
năm Kỷ Hợi (1959), bài thơ Mừng Phật đản năm Canh Tý (1960),
năm Tân Sửu (1961) và năm Nhâm Dần (1962). Thời điểm cuối
cùng có ghi trong truyền bản ba tập là năm Quý Mão (1963) trong
bài số 226 với nhan đề Phật đản tụng. Chính vì thời
điểm cuối cùng là trước ngày Phật đản năm Quý Mão (1963),
nên một số thơ văn viết ra sau thời điểm ấy, đặc biệt
liên hệ với cuộc vận động Phật giáo năm đó đã không
được thu thập lại. Cụ thể là câu liễn đi điếu cho thiền
sư Tiêu Diêu vị pháp vong thân tự thiêu vào mồng 10 tháng
5 năm Quý Mão:
Hộ
Phật pháp, diệc vị quần sanh,
nhất
hoả thiêu tàn chung cổ hận.
Đáp
hồng ân, thả thù đại nguyện,
thử
thân hưu luận bách niên khan.
(Hộ
Phật pháp cũng vì quần sanh,
một
lửa thiêu tan muôn thuở hận.
Đáp
hồng ân vừa thoả nguyện lớn,
thân
này thôi luận trăm năm xem)
đã
không thấy xuất hiện trong Thủy nguyệt tòng sao của truyền
bản ba tập hiện nay. Phong trào vận động Phật giáo năm
1963 chắc chắn đã gợi lên trong lòng thiền sư bao cảm xúc
và tự bản thân thiền sư đã tham gia. Thế nhưng, trừ câu
liễn đi điếu vừa dẫn mà chúng tôi thu thập được vào
cuối năm 1974 khi mới trở về nước, còn bao nhiêu thì không
biết tán thất từ bao giờ. Một số có thể đã bị mất
khi thư phòng của thiền sư, tức Thủy nguyệt hiên, bị cháy
trong cuộc tổng tấn công năm Mậu Thân (1968).
Với
những khác biệt rất lớn về đề mục và số lượng vừa
thấy, tất nhiên để tìm hiểu đầy đủ sự nghiệp trước
tác của thiền sư Chân Đạo Chánh Thống, chúng ta buộc phải
chọn truyền bản ba tập làm bản đáy cho công tác phiên dịch
ra tiếng Việt tác phẩm Thủy nguyệt tòng sao cũng như công
bố nguyên bản chữ Hán. Ta cũng biết giữa hai truyền bản
có một số xuất nhập về văn cú, thậm chí cả một bài
thơ, mà chúng tôi đã chỉ ra ở trên. Cho nên, khi phiên dịch,
chúng tôi vẫn coi truyền bản ba tập là bản chính thức,
còn truyền bản hai tập chỉ được sử dụng để tham khảo
và bổ sung những gì mà văn cú của truyền bản ba tập còn
thiếu, đặc biệt các chi tiết liên hệ đến thời điểm
ra đời của các tác phẩm thơ văn.
Chẳng
hạn, bài thơ số 92 của truyền bản ba tập chỉ có nhan đề
Đông nhật vịnh mai là đồng nhất với bài thơ số 73 của
truyền bản hai tập. Còn có một sai khác đó là về nhan đề
thì bài số 73 có thêm hai chữ Mậu Tý, tức Mậu Tý đông
nhật vịnh mai, chỉ cho biết năm viết bài thơ ấy, năm 1948.
Trường hợp bài 93 cũng tương tự. Bài này trong truyền bản
ba tập có nhan đề chỉ ghi Xuân nhật truy điệu Giác Bổn
thượng nhân, trong khi bài tương đương của nó trong truyền
bản hai tập là số 72 lại ghi thêm năm Kỷ Sửu (1949): Kỷ
Sửu sơ xuân truy điệu Giác Bổn đại đức.
Không
những truyền bản ba tập có những bài thơ không ghi năm ra
đời, mà còn có những bài có ghi thì có một trường hợp
lại không chính xác. Ví dụ, trong chùm thơ viết về Phật
đản đăng ở nguyệt san Liên Hoa trong những năm Canh Tý (1960),
Tân Sửu (1961) và Nhâm Dần (1962) dưới nhan đề Liên Hoa nguyệt
san Phật tổ đản nhật cung kỷ, thì bài số 1 chép lại trong
Thủy nguyệt tòng sao ghi là năm Kỷ Hợi, còn bài số 3 đăng
ở Liên Hoa nguyệt san 4 (1962) 24-25 dưới nhan đề Thích Tôn
đản nhật cung kỷ ghi rõ ràng là viết vào ngày rằm tháng
tư năm Nhâm Dần. Thế nhưng, tập Trung của truyền bản ba
tập lại ghi là năm Bính Dần. Rõ ràng Bính Dần là một chép
sai của Nhâm Dần.
Bên
cạnh đó, nếu đọc kỹ truyền bản hai tập, ta không phát
hiện ra bất cứ một lỗi chính tả nào. Trong khi đó, truyền
bản ba tập lại có một số lỗi. Chẳng hạn, bài thứ hai
trong chùm thơ Hoạ đáp Hy Đình cư sĩ (số 297) của Tập hạ,
hai câu luận đọc thế này:
Phù
bình đại hải thành nan định
Liên
phát hồng lô khởi dị tầm
Chữ
khởi trong câu thứ hai được viết 起 , như thế có nghĩa
là dậy, đứng lên, nổi lên, mà đáng lẽ ra phải viết là
豈 với nghĩa há, sao (Thiều Chửu). Việc chép chữ khởi này
qua chữ khởi kia có lẽ xảy ra vì truyền bản ba tập này
ra đời sau năm 1963, lúc thiền sư tuổi đã lớn, sức khỏe
nói chung không còn tốt nữa, dù rằng nó vẫn được thiền
sư đọc nhiều lần và phê điểm bằng mực son. Ta có thể
nói thiền sư đã đọc đi đọc lại để chỉnh sửa một
số chữ viết sai vì hiện còn một số dấu vết. Ví dụ
trong bài thơ thứ hai của chùm thơ Đáp tặng Mỗ nữ sử
huệ tứ ngân tệ (số 126) của Tập thượng, hai câu thực
đọc:
Thí
thuyết vị chu ưu mộ tuế
Bộc
thành tương quỹ cảm giao tình
thì
chữ cảm trong câu thứ hai nguyên viết bằng mực đen với
nghĩa là dám, đã được sửa lại bằng mực son với nghĩa
là cảm kích, cảm xúc … Tuy có chỉnh sửa như thế , nhưng
vẫn còn một số lỗi như đã nói.
Qua
những ví dụ này, truyền bản hai tập do vậy cũng tỏ ra
có một số ưu điểm đối với những tác phẩm thơ văn của
thiền sư Chân Đạo Chánh Thống xuất hiện trước năm Quý
Tỵ (1953), tức năm ra đời của truyền bản ấy. Với các
trường hợp đó, rõ ràng chúng ta không thể bỏ qua những
thông tin mà nó đã cung cấp. Do thế, khi dịch, chúng tôi sẽ
đưa thêm chúng vào nhằm giúp hiểu rõ hơn nội dung hoặc
thời điểm ra đời của các tác phẩm ấy, đặc biệt lúc
truyền bản hai tập chưa có dịp đưa ra in trong đợt này
và người đọc từ đó không thể nào có cơ hội tiếp cận
nó được, bởi vì đây là truyền bản duy nhất hiện còn
lại.