THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
Tình trạng văn bản
Phân tích nội dung
Mấy nhận xét
.
Lê Mạnh Thát 
TOÀN TẬP CHÂN ĐẠO CHÁNH THỐNG
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
II. VỀ TRUYỀN BẢN BA TẬP

Truyền bản này viết trên giấy trơn, cỡ 17,5x30cm, chia làm 3 tập thượng, trung và hạ. Tập thượng có 69 tờ, mỗi tờ 2 trang a và b, mỗi trang có 7 dòng, mỗi dòng trung bình từ 16 đến 18 chữ, trừ những dòng viết nhan đề bài hoặc chấm dứt bài văn hay thơ. Tập trung có 66 tờ, mỗi tờ gồm có 2 trang a và b, mỗi trang có 7 dòng và mỗi dòng có khoảng 18 chữ. Tập hạ có 57 tờ, mỗi tờ 2 trang a và b, mỗi trang cũng có 7 dòng, mỗi dòng có khoảng từ 15 đến 17 chữ. Cả ba tập đều không đánh số trang, và nội dung cũng không được sắp xếp theo đề mục tổng quát và theo thứ tự thời gian. 

Đây có lẽ là một bản sơ cảo, thu thập các tác phẩm viết theo những thể loại văn học khác nhau, mà tác giả có được, khi tiến hành sưu tập. Tuy thế, có khả năng truyền bản ba tập này đã dựa trên truyền bản hai tập làm mẫu. Cho nên, Tập thượng tuy có thêm bớt, nhưng cơ bản rất giống với Tập I của truyền bản hai tập, mà một liệt kê nội dung dưới đây sẽ cho ta thấy.

1.      Trúc biếc

2.      Thử học

3.      Tựa của Bích Phong Thạch Sơn thị

4.      Tựa của Mặc Si Nguyễn Huy Nhu 

5.      Bốn bài thơ của Mặc Si tặng 

6.      Bài thơ Trần Mai Xuyên tặng

7.      Tự vịnh

8.      Sám hối văn 

9.      (Giới đàn văn)

9.      1 Giới đàn tiết thứ bảng

9.      2 Thập sư bảng

9.      3 Kiến đàn chức sự bảng

9.      4 Giới đàn trợ sự bảng

9.      5 Giới đàn ngoại hộ bảng

10.  Báo Quốc tự hộ giới đàn phú

11.  Truy tiến chí sĩ cập trận vong chiến sĩ ý

12.  Quý Tỵ bát nguyệt đại lạo hậu tứ tiến nạn vong ý

13.  Cổ nhạc ban đản nhật tế tổ văn

14.  Đại nghĩ Thừa Thiên tỉnh Phật giáo hội án từ

15.  Đại nghĩ phụng Tường Vân pháp chủ Tịnh Khiết hòa thượng châm

16.  Đại Phước Điền tự môn đồ hạ bổn sư lục thập thọ

17.  Siêu tiến Thái tướng công ý

18.  Vãn Từ Hiếu tự Huệ Minh hòa thượng

19.  Hoa Nghiêm pháp giới tán 

20.  Xuân nhật cuồng ngâm

21.  Trúc Lâm tự Giác Tiên hòa thượng tiếu tượng tán

22.  Vãn Thiên Mụ tự Huệ Giác hòa thượng

23.  Xuân nhật túy ngâm

24.  Mỗ đồng song hữu mộng nhập Đào nguyên thi thập thủ tinh tự, chúc dư vi ký 

25.  Xuân tiêu viễn cảm

26.  Duy Ma đại sĩ

27.  Lăng nghiêm kinh tán

28.  A Nan thị đọa

29.  Nặc vương quán hà

30.  Cuồng ngâm

31.  Phó pháp trình kệ

32.  Tứ pháp điệt Tâm Trí tự Viên Giác, hiệu Chiêu Nhiên đại sư kệ

33.  Thu dạ độc Chinh phụ ngâm cảm tác Ai bình nhị khúc

34.  Bính Tuất hạ phỏng Đôn Hậu pháp lữ tân nhậm Thiên Mụ tự chủ 

35.  Tân nhậm Diệu Đế tự chủ chi tán

36.  Hài chư pháp lữ yết Thúy Vân sơn tự phú trình

37.  Yết Từ Hiếu tự

38.  Hương giang chu thứ họa Bích Không pháp đệ vận

39.  Đồng Ngô Trạch Chi huyện doãn giang lâu thính cầm cảm phú

40.  Tặng Bích Không pháp đệ quải quán quy thiền

41.  Trí Thủ pháp khế tân nhậm Ba La tự chủ chi tặng họa vận

42.  Thứ Thúc Giạ thị tướng công tỵ binh hỏa vận

43.   Bắc Việt Mỗ tiên sinh sưu tập Đường Tống thi gia giai cú chuyết thành tân thi . . .

44.   Họa Thúc Giạ tướng công thuật hoài vận

45.   Vô đề

46.   Họa Thúc Giạ tướng công thất nguyệt bát nhật tảo khởi vận

47.   Vô đề

48.   Họa Thúc Giạ tướng công vịnh Tô Tần vận

49.   Đại môn đệ đáp tích phân âm thi

50.   Sơn cư bát cảnh

51.   Vịnh hoa

52.   Xu thương tân triều

53.   Lão kỷ hý tình lang

54.   Khất miêu

55.   Đinh Hợi lạp nguyệt trấp ngũ ký Giác Bổn thượng nhân

56.   Đương đầu nhất bổng

57.   Chư thi hữu yêu thưởng Trung thu bất ứng họa đáp

58.   Thứ Thảo Trì tiên sinh Trùng dương đăng cao bất quả vận

59.   Tứ thời tứ hữu tứ sắc ngâm 

60.   Lục phủ thi

61.   Trưng thu an mễ 

62.   Sổ mục thi

63.   Mậu Tý nhân nhật yết Quốc Ân tự

64.   Thứ phỏng Trúc Lâm tự chủ bất ngộ

65.   Thứ phỏng Giác Lâm tự

66.   Thứ phỏng Giác Thiên tự

67.   Thứ phỏng Kim Tiên tọa chủ

68.   Dự Đà Nẵng phiếm Mỗ pháp khế

69.   Xuân nhật du sơn

70.   Viễn hoài 

71.   Thất tịch hữu cảm

72.   Thứ Thúc Giạ tướng công thử nhật vận 

73.   Khấp tiên từ

74.   Tặng môn đệ Quang Diệp

75.   Mậu Tý bát nguyệt hạ hoản họa Thảo Trì tiên sinh Trung thu vận

76.   Bạch yến thi 

77.   Thù lão nữ sử tặng bạch dương bút

78.   Tịch thượng thất túy bị tiếu tức đáp

79.   Lân cẩu nhập trù dư ái ty chi ...

80.   Thứ Bạch Mai cư sĩ bộ Mặc Si đại nhân thu dạ độc chước vận

81.   Thứ Mặc Si đại nhân Trùng dương hội chước sai thi vận

82.   Thứ Bạch Mai cư sĩ bộ Thảo Trì tiên sinh tiền đề vận

83.   Giáp Ngọ dĩ hậu, Thừa Thiên sơn môn Mỗ Mỗ tự tăng, hạ nhật an cư chi kỷ

84.   Biển đầu tử 

85.   Tu lợi tử

86.   Đề dã sơn thạch tiên nữ

87.   Thứ Mỗ tiên sinh thất thập tự thọ vận

88.   Thứ Thúc Giạ tướng công Trùng dương vận

89.   Thù Thúc Giạ tướng công đông dạ vận

90.   Quy phỏng cố lý, tặng sơ giao Mỗ tiên sinh

91.   Thuyền hạ Tư Hiền hải khẩu

92.   Đông nhật vịnh mai

93.   Xuân nhật truy điệu Giác Bổn thượng nhân

94.   Hý tiễn Quảng Nhuận pháp hữu phó nhậm Đa Lạt tỉnh Linh Quang tự chủ

95.    Kỷ Sửu thất tịch điệp khứ niên Thúc Giạ tướng công vận

96.      Phùng nhân

97.      Tặng Phi Long họa sĩ tân thiết nhiếp ảnh cục

98.      Bàng thực thi

99.      Hoàn tự do xa sách thuật sở lịch tạ đáp

100.  Dư súc miêu khuyển các nhất . . .

101.  Vịnh liên thi

102.  Đăng cao

103.  Thất tịch chư văn nhân nữ sử cưỡng yêu 

104.  Vấn thiên

105.  Ngũ thập ngũ sơ lạc nhất xỉ, hý tác

106.  Tặng Phật học đường giám đốc sung giới đàn hóa chủ Trí Thủ đại sư

107.  Bắc Việt Tố Liên pháp lữ thừa phi đỉnh lai kinh phú trình

108.  Ấp biệt

109.  Khách trung tống Trí Thủ đại sư thừa phi cơ tiên hồi 

110.  Ư Tây Thiên tự giảng học thời, họa đáp Bắc Việt Tố Liên pháp hữu chi tặng

111.  Quý Tỵ thu hài chư pháp lữ trùng phỏng Ngũ Hành Sơn tự cảm tác 

112.  Dự Đà thành thanh tín sĩ nữ phú biệt

113.  Vịnh cúc

114.  Dự Quảng Huệ pháp hữu thọai cựu

115.  Vô đề

116.  Thị pháp đồ 

117.  Trần Thị Trúc Kiến tịnh muội Tục Điển chú đại chung cúng vu mỗ tự chi Tiên nữ cung khất thi dĩ minh

118.  Trí Thủ đại sư biệt kiến tịnh thất hạ nguyệt an cư chí hỷ 

119.  Thị Diệu Đức tự ni học chúng

120.   Tặng Diệu Không tỷ kheo ni

121.   Vãn Giao Tiều Lâm tiên sinh

122.   Tặng Mỗ đạo sĩ kiêm y thuật hậu nhập thiền

123.   Hý vấn đạo sĩ 

124.   Tặng Vân Đàm y sĩ

125.   Đáp cư sĩ điệu Mỗ thiền sư vận

126.   Đáp tặng Mỗ nữ sử huệ tứ ngân tệ

127.   Xuân nhật phỏng Viên Thông tọa chủ

128.   Toàn quốc Phật giáo đại hội sự hoàn tặng Bắc Nam nhị pháp chủ

129.   Tặng nhạc sỹ học Phật

130.   Tặng Tố Liên pháp lữ

131.   Tặng thằng miến gia mộ Phật

132.   Nhâm Thìn bát nguyệt toàn quốc Phật giáo tăng già đại hội vu Bắc Việt Quán Sứ tự sự hoàn lưu tặng thượng thủ Tuệ Tạng hòa thượng

133.   Lưu tặng tổ chức ban chư pháp lữ

134.   Lưu tặng Thanh Tùng pháp hữu

135.   Vãn Quảng Nhuận pháp hữu dĩ minh nhục tháp hậu bình

136.   Thặng ngữ

137.   Quái ngã

138.   Phụng họa Mặc Si đại nhân thứ Trung Hoa quốc Kiếp Dư Sanh tiên sinh Lạc mai thi tứ thủ nguyên vận

139.   Kệ vịnh

140.   Định thứ ngẫu đắc

141.   Lạc hoa ca

Qua liệt kê vừa nêu về đề mục của nội dung Tập thượng thuộc truyền bản ba tập, nếu đem so sánh với nội dung Tập I của truyền bản hai tập, ta thấy ngay về cơ bản chúng thống nhất với nhau, trừ 25 đề mục không thấy có trong Tập I. Ở đây, chúng tôi nói đến đề mục, mà không kể đến số bài thơ hay văn, bởi vì một đề mục đôi khi có đến vài ba bài thơ. Số thiếu như vậy tương đối lớn, khoảng 20%. Và điều này cũng dễ hiểu thôi, vì truyền bản ba tập chắc chắn xuất hiện sau truyền bản hai tập phải từ 10 năm trở lên, tức từ những năm Quý Mão (1963) cho đến trước ngày 22 tháng chạp năm Đinh Mùi, tức ngày 21 tháng giêng năm 1968, ngày thiền sư viên tịch. Thời điểm năm Quý Mão được sử dụng vì nó đã xuất hiện trong bài thơ có ghi thời điểm sáng tác vào năm ấy ở Tập trung, số 233 trong Toàn tập này. 

Ngoài ra, nếu đem bài tựa của truyền bản hai tập mà so sánh với bài tựa trong truyền bản ba tập, tuy về cơ bản thống nhất với nhau, nhưng cũng có những đoạn trong lời tựa của truyền bản hai tập đã được viết lại và mở rộng ra trong lời tựa của truyền bản ba tập, để phản ảnh đầy đủ hơn ý tưởng và quan điểm của tác giả về một vấn đề nào đó. Chẳng hạn, khi viết về tiền đồ của Khổng giáo và Phật giáo, lời tựa của truyền bản hai tập chỉ nói: “Vả lại tiền đồ của Khổng giáo sắp rơi ngàn trượng, lòng trời như vậy, biết sao bây giờ. Phải nên rũ bỏ căn trần, tuân giữ giới pháp, thẳng xuống đường ngắt trời người, cửa thanh tịnh mở ra, hầu không phụ lòng chăm chăm tha thiết của ông cha mình”.

Đoạn này trong lời tựa của truyền bản ba tập được mở rộng hơn: “Điều đau xót đáng giận là bộ mặt thật của Khổng giáo trước vào đời Tần Hán đã bị che lấp, về sau bị bọn hủ Nho làm cho che lấp thêm với quy mô lớn, rồi đến những ăn nói sai lầm của tư trào thời hiện đại. Ai mà có lòng với đạo này há nỡ ngồi xem. Thêm nữa, lũ học giả lén trộm thuyết tùy thời, thì cũng không thiếu người. Nhớ lại ơn bú mớm, thật thẹn nhiều với loài chim. Song đã bỏ thành ra đi, còn hy vọng vào tiền đồ; chưa thể đi hết nước non, đâu mong thấy hoa sáng liễu tối. Phải dứt khoát trách mình, đâu rảnh mà nhìn đến kẻ khác. Còn đối với Phật giáo, cần phải chọn bỏ những lời vu vơ, nắm lấy diệu chỉ để cho trời nghĩa ngày sáng, biển giác sóng êm, nhằm không phụ lòng chăm chăm tha thiết của cha ông ta”.

Đến câu cuối của lời tựa, truyền bản hai tập chỉ viết: “Nếu ai duỗi mắt xanh, xin lượng thứ cho, may mắn lắm” (Nhược thùy thanh nhãn, kỳ lượng thứ chi, hạnh hạnh). Câu này trong lời tựa của truyền bản ba tập đã viết thành: “Thơ ta cũng như văn, mỗi khi soạn ra mà không hợp lòng, hoặc có điều liên quan tới thời cuộc thì liền bị vứt đi. Những gì đã được sao tập nhưng bị thất lạc lại cũng không phải ít. Hai tập đây sở dĩ chưa nỡ quăng vào lửa nến, chính muốn để xem sự tiến thoái của trình độ ngày sau. Đâu biết rằng sau này khi cầm đọc mà không khiến người muốn nôn ư? Kinh nói: ‘Không rời văn tự, cũng không là văn tự’. Điều đó thật đáng tin vậy”.

Đấy là chưa kể có một số xuất nhập về chữ nghĩa. Chẳng hạn, khi nói về việc thiền sư trở lại Huế để mở Phật học đường tại chùa Tây Thiên, truyền bản hai tập ghi “vào mùa thu năm Kỷ Tỵ”, còn truyền bản ba tập đã chữa lại: “vào mùa thu năm Ất Hợi”. Năm Kỷ Tỵ là năm 1929 Dương lịch. Như thế thiền sư vào chùa Thập Tháp để học với thiền sư Phước Huệ chỉ trong vòng hai năm, rồi trở về Huế cùng với thiền sư Giác Tiên thành lập trường Phật học Tây Thiên.

Ghi như thế có vẻ đúng hơn là năm Ất Hợi, mà truyền bản ba tập đã chữa lại. Bởi vì năm Ất Hợi đúng là năm 1935, và năm này thiền sư đã có bài giảng Tứ niệm xứ đăng ở báo Viên Âm. Trong bài giảng đó thiền sư đã nhắc: “Năm trước giảng về Đạo đế đã nói có 37 phẩm trợ Bồ-đề phần”. Điều đó có nghĩa năm 1934 thiền sư đã là giảng sư của An Nam Phật học hội. Một khi đã thế, không thể có việc năm 1935 thiền sư mới trở về Huế như truyền bản ba tập đã ghi.       

 Trường hợp lời giới thiệu của cụ Nguyễn Huy Nhu cũng thế. Khi chép lại từ truyền bản hai tập qua truyền bản ba tập, nó cũng có một số những xuất nhập. Đọc qua chúng, ta thấy có thể thiền sư muốn nhuận sắc lại chính lời văn của lời giới thiệu. Chẳng hạn, trong truyền bản hai tập, câu đầu tiên qua chính bút tích của người viết Nguyễn Huy Nhu đọc thế này: “Ngô hữu Mai Xuyên Trần quân cận dĩ Thủy nguyệt am chủ nhân thi văn nhị tập kiến thị, thả mạng chi bình duyệt”. Trong khi đó, truyền bản ba tập lại viết: “Dư hữu Mai Xuyên Trần quân cận dĩ Thủy nguyệt am thi văn nhị tập kiến thị, thả mệnh dĩ bình duyệt”. Những xuất nhập trong lời giới thiệu của Nguyễn Huy Nhu ở hai truyền bản này đại loại là như thế. Chúng cơ bản không khác nhau là mấy. Cho nên, chúng tôi đơn cử ra đây một thí dụ để cho thấy mà thôi.

Thêm vào đó, trong số thơ văn sưu tập ở tập thượng của truyền bản này, tuy đã vượt xa về đề mục và số lượng của Tập I trong truyền bản hai tập, nhưng vẫn chưa đầy đủ và có xuất nhập. Thí dụ, trong chùm thơ trao đổi với thiền sư Tố Liên (1903-1977) ở miền Bắc, ta thấy đăng trên báo Viên Âm 28 (1937) 51-52 hai bài thơ chữ Hán họa lại một bài thơ tặng của thiền sư Tố Liên và được chính tác giả dịch ra chữ Quốc ngữ dưới nhan đề Thứ vận kính tặng du phương tăng Tố Liên thiền huynh quy Bắc. 

Thế mà, khi sưu tập lại, hai bài này đã không thấy xuất hiện trong truyền bản hai tập. Còn trong truyền bản ba tập, thì Tập thượng chỉ chép lại bài đầu của hai bài ấy dưới nhan đề Ư Tây Thiên tự giảng học thời họa đáp Bắc Việt Tố Liên pháp hữu chi tặng (số 110) và không thấy bài thứ hai. Bài này căn cứ vào văn bản của báo Viên Âm:

心 臺 身 樹 本 来 無

悲  願 何 妨 試 夢 遊

千 里 多 君 飛 寶 錫

半 生 笑 我 撥 寒 爐

非 關 塵 世 畱 虚 跡 

為  契 時 機 作 遠 圖 

正 喜 相 逢 又 相 别 

数 辭 珍 重 莫 嫌 粗 

Tâm đài thân thọ bản lai vô

Bi nguyện hà phường thí mộng du

Thiên lý đa quân phi bảo tích

Bán sinh tiếu ngã bát hàn lô

Phi quan trần thế lưu hư tích

Vị khế thời cơ tác viễn đồ

Chính hỷ tương phùng hựu tương biệt 

Sổ từ trân trọng mạc hiềm thô

(Vẫn biết thân tâm cũng huyễn mà

Tùy duyên chẳng ngại lúc vào ra

Thênh thang tích báu khen tài bạn

Bươi móc tro tàn hổ phận ta

Danh hão, đã đành không bận bịu

Đạo mầu, âu phải tính gần xa

Chưa vui sum hiệp đà chia cách

Quê kịch vài câu để gọi là) 

Nhân đây cũng nên chép bài thơ Kính tống du học tăng Chánh Tín thiền huynh quy bắc đăng ở báo Viên Âm 26 (1937) 62, mà bản phiên âm đã đăng ở Viên Âm 25 (1937) 58, để bổ sung cho một trong hai bài thơ thiếu trong Thủy nguyệt tòng sao :

敬送遊學僧正信禪兄歸北

百 城 煙水 上 峨 眉

權 攝 無 為 作 有 為

塵 剎 毛 端 君 早 契

身 雲 心 月 我 猶 疑

淚 從 識 海 麻 衣 濕

霧 鎖 長 天 鴈 影 希

歸 去 幸 蒙 無 見 棄

山 溪 重 訪 舊 相 知

Bách thành yên thủy thượng Nga Mi

Quyền nhiếp vô vi tác hữu vi

Trần sát mao đoan quân tảo khế

Thân vân tâm nguyệt ngã do nghi

Lệ tùng thức hải ma y thấp

Vụ tỏa trường thiên nhạn ảnh hy

Quy khứ hạnh mông vô kiến khí

Sơn khê trùng phỏng cựu tương tri

(Quyết tìm cho đặng núi Nga My

Phàm, thánh tùy duyên có ngại chi

Cảnh hiện đầu lông ai đã rõ

Trăng lồng đáy nước tớ còn nghi

Trời đông lạnh lẽo chim lìa bạn

Biển ái vơi đầy lệ thấm y

Đất cũ tạm đưa người trở lại

Cùng nhau gặp gỡ hãy nhiều khi)

Việc sai khác nhan đề và thiếu sót như thế chứng tỏ lúc tiến hành sưu tập thơ văn cho Thủy nguyệt tòng sao, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã không có tạp chí Viên Âm trong tay, mà chỉ có bản nháp với những tờ rời còn giữ. Từ đó, tờ rời có chép bài thứ hai mất đi, nên đã không được chép lại. Còn bài thứ nhất được chép, thì hai câu cuối trong truyền bản ba tập đọc: 

Phủ hoài tự quý tài sơ thậm

Giới ngoại phi đằng hữu nhật gia 

Trong khi bài đăng ở Viên Âm lại có:

Cùng tưu tự quý tài sơ thậm

Thử hậu tương phùng hữu nhật gia

Sự xuất nhập văn cú thế này có thể biểu thị cho một nỗ lực chỉnh lý và nhuận sắc khi sưu tập.

Bên cạnh những thiếu sót và xuất nhập này, Tập thượng của truyền bản ba tập có một số ưu điểm, trong đó nổi bật nhất là những chú thích ghi bằng chữ nhỏ sau một số câu thơ. Việc này cũng có thực hiện trong truyền bản hai tập nhưng không được phong phú cho lắm. Thí dụ, bài Toàn quốc Phật giáo thống nhất đại hội sự hoàn tặng bắc nam nhị pháp chủ (số 128). Truyền bản hai tập không có chú thích nào, trong khi đó truyền bản ba tập có đến ba chú thích. Đặc biệt chú thích thứ ba cho hai câu luận đã ghi: “Lúc đại hội có nghị quyết ra lệnh khắc khuôn dấu cho thiền gia cả nước và treo cờ Phật giáo mới được sáng tạo”. Chú thích này rất thú vị đối với chúng ta khi nghiên cứu sự ra đời của khuôn dấu trong các tổ chức Phật giáo cũng như sự xuất hiện đầu tiên của lá cờ Phật giáo tại Việt Nam. 

Về nội dung Tập trung, nó có các đề mục chính sau gồm cả văn lẫn thơ.

142.                       Thiên Thai Thiền Tôn tự chí lược

143.                       Phiếm ngâm

143.         1 Lạp

143.         2 Chức

143.         3 Ngư

143.         4 Tiều

143.         5 Canh

143.         6 Mục

143.         7 Cầm

143.         8 Kỳ

143.         9 Thi

143.         10 Tửu

143.         11 Họa

143.         12 Sĩ

143.         13 Nông

143.         14 Công

143.         15 Cổ

143.         16 Mộng tác Phật

143.         17 Thiên đế

143.         18 Đế vương

143.         19 Diêm vương

143.         20 Nam Kha vịnh

143.         21 Hoàng Lương vịnh

143.         22 Trang Chu vịnh

144.                       Vịnh cổ (Bắc sử)

144.         1 Khổng Phu tử

144.         2 Quản Trọng

144.         3 Bào Thúc

144.         4 Phạm Lãi

144.         5 Văn Chủng

144.         6 Ngũ Viên

144.         7 Thân Bao Tư

144.         8 Nhiếp Chính

144.         9 Kinh Kha

144.         10 Tô Tần

144.         11 Trương Nghi 

144.         12 Lữ Bất Vi

144.         13 Tiên Chẩn

144.         14 Tiêu Hạ

144.         15 Trương Lương

144.         16 Hàn Tín

144.         17 Trần Bình

144.         18 Phàn Khoái

144.         19 Hạng Tịch

144.         20 Phạm Tăng

144.         21 Tô Vũ 

144.         22 Phùng Dị

144.         23 Mã Viện

144.         24 Mã Dung

144.         25 Lưu Bị

144.         26 Thanh mai chữ tử

144.         27 Gia Cát Lượng

144.         28 Bàng Thống

144.         29 Từ Thứ

144.         30 Quan tráng mậu quá quan

144.         31 Trương Phi

144.         32 Triệu Vân

144.         33 Nhiễu thọ truy Tào

144.         34 Tạ Anh đáp nghĩa

144.         35 Tào Tháo

144.         36 Khổng Dung

144.         37 Nguy tọa ma chuyên

144.         38 Kích cổ mạn Tào

144.         39 Bàng Uẩn

144.         40 Họa sinh kê cân

144.         41 Không hạp hàm oan

144.         42 Tào Thực

144.         43 Tôn phu nhân

144.         44 Thái Diệm

144.         45 Chân hậu

144.         46 Lữ Bố

144.         47 Tôn Quyền

144.         48 Chu Du

144.         49 Cam Ninh

144.         50 Ấu Dư chiết xỉ 

144.         51 Phụ Phúc tướng quân

144.         52 Vị sắc vong xu

144.         53 Bao Chửng

144.         54 Nhạc Phi

145.  Trào Trạch Chi Ngô huyện doãn họa vận 

146.  Trào Mỗ ni cô thị dưỡng tiểu hài

147.  Họa đáp lão nữ sử

148.  Hý ủy sơn đồng tương thử phiếu nhận trai tăng      ngân

149.  Tặng bạch nghị khuẩn hý hệ dĩ thi

150.  Hựu tặng Linh Quang tự chủ

151.  Hiệu vưu

152.  Phụ nhiệt

153.  Nan y

154.                      Lạm xí

155.                      Tranh tiên khủng hậu

156.                      Náo thiền

157.                      Chuế vưu

158.                      Hý tác giới đàn chi tuần canh kệ

158.       1 Tuần chiếu đáo Phật điện đình xướng điện  nội thị sự kệ

158.   2 Tổ đường xướng chúng kệ

158.   3 Trượng thất kệ

158.   4 Kiến đàn chức sự phòng kệ

158.   5 Trù phòng kệ

158.   6 Đông đường xướng

158.   7 Tây đường xướng

158.   8 Nam giới tử phòng xướng

158.   9 Nữ giới tử phòng xướng

158.   10 Ứng phó trợ hành nghi lễ phòng xướng

158.   11 Ngoại hộ phòng xướng

159.  Sai mê

160.  Binh hỏa hậu vãng Bình Định tỉnh thuận thám Mỗ hòa thượng

161.  Khán bộ kịch ư Bình Định tỉnh chi huyện thị trường

162.  Đại Quốc Ân tự chủ hợp phái nội nhân thuận định từ

163.  Đại thành lập Thắng Duyên phổ từ

164.  Liên Hoa nguyệt san Phật tổ đản nhật cung kỷ 

165.  Canh Tý tự tứ nhật cung kỷ

166.  Để Ngũ Hành sơn

167.  Ngũ Hành sơn ca

168.  Đại Từ Hiếu tự môn phái phụng tổ đình châm biển

169.  Ứng thỉnh Quảng Trị Bích Khê xã mỗ phái trai đàn sự hoàn họa đáp

170.  Xuân thiên xã Phạm tộc trai đàn thỉnh dư vi chứng minh sự hoàn lưu giản

171.  Trung Quốc Thái Hư pháp sư viên tịch nhật cung điệu

172.  Họa lão nữ sử du Ngũ Hành sơn vận

173.  Hựu hòa nữ sử tán thưởng tặng liên hoàn cách tam thủ

174.  Điệp tả Kỷ Hợi Trung thu nguyệt dạ lục thập tự vịnh

175.  Xuân nhật đề Liên Hoa nguyệt san

176.  Lục thập tự vịnh

177.  Khấp tiếu thi

178.  Tặng Tịnh Diệu nhân giả

179.  Tứ quả phụ kỳ phu chiến tử phát tâm đầu Phật

180.  Từ Phong viện liễn

181.  Bình Định Phù Mỹ niệm Phật đường

182.  Nam Phổ niệm Phật đường môn

183.  Thành nội Thiên Huệ tự môn

184.  Bảo Vân tự chủ nhục tháp

185.  Thanh Thủy xã Thanh Chánh Niệm Phật đường

186.  Vãn lân ông

187.  Hạ Trương biểu huynh khánh thành

188.  Phật tổ đản nhật thái bằng liễn

189.  Trần y sĩ thân mẫu vật hóa chi vãn

190.  Kế Võ niệm Phật đường

191.  Quái dã

192.  Tự chú

193.  Tiểu ảnh đề tặng chư pháp hữu

193. 1 Trí Thủ

193. 2 Mật Nguỵên

193. 3 Trí Đức

193. 4 Trí Quang

193. 5 Bắc Việt Thanh Tùng 

193. 6 Trọng Ân

193. 7 Hoằng Thơ

193. 8 Nam Việt Khánh Nghiêm

193. 9 Tứ thị giả

194.  Chú Di Đà Phật tượng sớ

195. Cảnh thế

196. Xuân triêu cảm tác

197. Tặng Thể Quán tỳ kheo ni

198. Tặng Nha Trang Phật học đường môn đệ

199. Đại nghĩ Thiền Tôn tự Giác Nhiên hòa thượng tháp hậu bình châm

200. Tây Thiên tự Giác Nguyên hòa thượng tháp hậu bình minh

201. Liễu huyễn tức chơn

202. Truy niệm ngã Thế Tôn

203. Tăng Hy Đình Nguyễn tiên sinh thọ sơn minh kỷ 

204. Nha Trang Phật học giám viện Trí Thủ đại đức chi thám

205. Đại nghĩ khấp nội tướng thi

206. Đại nghĩ phụng tiên đối liễn

207. Lão cư sĩ chi vãn

208. Tứ Vạn Phú niệm Phật đường liễn

209. Tứ Thiên Hương niệm Phật đường 

210. Đại Thiên chúa giáo đồ lạc thành chi hỷ

211. Đại Bình Định tỉnh Sơn Long tự nội ngọai liễn

212. Cố hữu Mỗ cư sĩ chi vãn

213.  Pháp hữu chi vãn

214.  Đại Câu Hoan niệm Phật đường liễn

215.  Đại Vạn Phước tự tam quan liễn

216.  Đại Báo Quốc tự phụng tổ liễn

217.  Đại Hộ lăng ban hạ bỉ Mỗ viên thăng chức liễn

218.  Đại Mỗ tộc từ tiên liễn

219.  Phóng khẩu

220.  Đại Mỗ tăng gia nội phụng Phật

221.  Đại Thúy Vân niệm Phật đường nội ngọai liễn

222.  Thủy lâm cục trú sở

223.  Hiền Lương niệm Phật đường liễn

224.  Đại Quảng Trị Long An tự liễn

225.  Quy Lai niệm Phật đường

226.  Phật đản tụng

Với số tác phẩm liệt kê vừa thấy của Tập trung, khi so với Tập II của truyền bản hai tập, ta nhận ra số lượng cực kỳ phong phú. Có hàng chục tác phẩm đã không thấy xuất hiện trong Tập II. Còn số thấy có trong Tập II thì cũng không đủ lắm và có một số xuất nhập. Chẳng hạn, về đề mục Vịnh cổ, Tập trung có tới 54 nhân vật được vịnh, thì Tập II chỉ có 53 người, thiếu bài vịnh về Tào Thực. Ngoài ra, nhan đề một số bài vịnh đã bị thay đổi như bài Đảng Tiến của Tập II thì đây gọi là Phụ Phúc tướng quân, bài Tạ Côn chiết xỉ thì đây thành Ấu Di chiết xỉ, bài Tuân Úc thì đây gọi là Không hạp hàm oan v.v... Thứ tự cũng không hoàn toàn giống nhau như bài Hạ Cơ thì bị đưa gần cuối và có đề là Vị sắc vong xu. Không những thay đổi nhan đề và thứ tự, ngay cả văn cú cũng bị thay đổi. Ví dụ, cùng vịnh về Trương Phi, nếu Tập II của truyền bản hai tập đọc:

Hoàn hoàn nhất nộ dục thôn Tào

Trường bản hoành mâu đảm khí hào 

Nhất thích Nghiêm Nhan minh đại nghĩa

Lực truy Mạnh Khởi vọng phong đào

桓 桓 一 怒 煜 吞 曹 

镸 板 橫 矛 胆 氣 豪 

一 釋 嚴 颜 明 大 義 

力 追 孟 起 望 風 逃 

thì Tập trung của truyền bản ba tập lại có:

Viên tinh báo thủ chấn lôi thanh

Trường bản hoành mâu thối Ngụy binh

Oan báo ân thù đô thị trực

Thiên thu lẫm lẫm khí như sinh

圓 睛 豹 首 振 雷 青 

長 扳 橫 矛 退 魏 兵 

怨 報 恩 酬 都 是 直 

千 秋 凜 凜 氣 如 生 

Và đó là chưa kể trong từng bài thơ lại có một số xuất nhập về văn cú nữa. Tất nhiên những xuất nhập vừa nêu của truyền bản ba tập so với truyền bản hai tập biểu thị một phần nào ý đồ nhuận sắc của chính tác giả Thủy nguyệt tòng sao, sau một thời gian dài sưu tầm và chỉnh lý. 

Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận đôi khi những xuất nhập đó lại do chép sai mà ra. Chẳng hạn, trong bài Lạm xí, câu cuối của truyền bản hai tập (số 117) chép: “Nhân gian ứng phó tác thanh thằng”, trong khi truyền bản ba tập (số 154) lại có: “Nhân gian ứng cúng tác thanh thằng”. Ứng cúng rõ ràng là một chép sai của ứng phó mà ta thấy trong truyền bản hai tập, vì ứng phó là một thuật ngữ Phật giáo có nghĩa đi cúng, chứ không có nghĩa bình thường là đối phó. Trường hợp chữ thùy 誰trong danh thùy của câu cuối ở bài vịnh Gia Cát Lượng (số 143) cũng thế. Thùy ở đây được viết sai thành誰 với nghĩa là ai, trong khi đó truyền bản hai tập lại viết đúng chữ thùy với nghĩa là rủ xuống. Trong những trường hợp chép sai như thế này, chúng tôi dựa vào truyền bản hai tập để hiệu chỉnh và dịch. 

Những tác phẩm từ số 144 đến 192, thì trừ những bài không có trong Tập II với các sớ 152, 154-156, 159-191, số còn lại Tập II xếp vào trong tiểu đề Khoái hoạt vựng biên. Thứ tự một số bài cũng bị đảo lộn. Chẳng hạn, số 192 đề Tiểu ảnh đề tặng ở đây đưa vào phần cuối, thì Khoái hoạt vựng biên của Tập II lại đưa lên đầu. Ngay số 158 Sai mê thì đây chỉ có một câu đố, trong khi Khoái hoạt vựng biên có đến hai câu. Một là Sai từ đọc :

Bỉ lộ ngã tàng 

Bỉ húy ngã trương

Dạ thâm nhân tịnh

Kỳ thanh tiệm trường

Hai là Hựu sai đọc:

Diệc nữ diệc nam

Lưỡng đầu bát túc

Nhất nhập kỳ đồ

Tấn thối duy cốc

Mà ta không thấy ở trong Tập trung của truyền bản ba tập. Đây có thể do hai câu đố này dễ gợi cho người ta ý tục. Cho nên, đến cuối đời, để nghiêm túc hơn, thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã loại bỏ chúng và thế vào một câu đố có nhiều điển tích với Quan Vũ, Phàn Khoái, Lưu Biểu v.v... Hai câu đố vừa nêu cùng với dị bản bài thơ về Trương Phi mà chúng tôi dẫn trên, chúng tôi cho chép ở đây nhằm cung cấp thêm tư liệu, để cho việc nghiên cứu về thiền sư Chân Đạo Chánh Thống được trọn vẹn hơn. 

Tập hạ chủ yếu dành để chép lại các đối liễn mà thiền sư Chân Đạo Chánh Thống đã sáng tác cùng với một số thơ văn có lẽ viết sau năm Quý Tỵ (1953). Nó gồm các đề mục sau:

227.                       Quy Thiện tự 

227.       1 Đại hùng điện liễn

227.       2 Tam bảo án

227.       3 Quan Âm án

227.       4 Tiền đường

227.       5 Tả hữu thiền đường

227.       6 Tam quan chánh môn

227.       7 Tự tiền biểu trụ

227.       8 Phật liễn

227.       9 Tăng xá 

228.  Đà Lạt tỉnh sơn tự môn

229.  Tặng Quảng Nhuận pháp hữu quy Lâm Viên tỉnh 

230.  Diệu Đức ni tự thiền đường

231.  Hồng Ân ni tự liễn

232.  Hạ cư sĩ lạc thành

233.  Giác Lâm tự tiền điện tịnh trụ môn

234.  Quốc Ân tự Đắc Quang hòa thượng nhục tháp

235.  Tứ ca kỷ kiêm cô tửu giao

236.  Đại nghĩ thướng Thiền Tôn tự Giác Nhiên hòa thượng liễn

237.  Quan thánh từ môn

238.  Phổ Quang tự

239.  Tặng Mỗ cư sĩ 

240.  Thiền Tôn tự

241.  Đạo ty quán khánh thành

242.  Diệu Đế tự

243.  Phật lão hiệp tự

244.  Việt Nam Nam châu Phật Quang tự

245.  Cao Đôi Lương Điền xã niệm Phật đường

246.  Chư niệm Phật đường

247.  Quốc Ân tự tam quan

248.  Thừa Thiên Đại y viện niệm Phật đường</