CHƯƠNG
HAI
ÐIỆU
MÚA CỦA ONG
ÐỪNG
GIAO PHÓ THÂN MẠNG CHO KẺ KHÁC
Có
một buổi chiều lộng gió đi núi về, tôi thấy các cửa
sổ và cửa ra vào của am Phương Vân bị gió thổi bật tung.
Hồi trưa ra đi, tôi chỉ khép hờ các cửa. Gió lộng vào
nhà, lạnh lẽo. Giấy tờ trên bàn viết của tôi bay tứ tán.
Tôi lập tức đi đóng hết các cửa, đốt cây đèn lớn giữa
nhà rồi đi nhặt giấy tờ và sắp lại trên bàn. Xong xuôi,
tôi đi đốt lửa ở lò sưởi. Một lúc sau, củi nổ lép
bép và căn nhà ấm áp trở lại.
Có
nhiều khi ở chốn đông người náo nhiệt, bạn cảm thấy
mệt mỏi, lạnh lẽo và trống trải. Bạn rút lui về một
mình, sống với nội tâm và cảm thấy ấm áp như tôi đang
ngồi trong một căn nhà có mái, có tường che gió che sương
và bên một bếp lửa hồng. Giác quan của chúng ta là những
cửa sổ mở ra bên ngoài và nhiều khi gió lộng vào, thổi
bay tứ tán mọi vật trong nhà. Nhiều người trong chúng ta
đã quen mở rộng tất cả các cửa sổ giác quan, mặc tình
cho hình sắc và âm thanh bên ngoài xâm chiếm. Nhiều khi những
luồng gió bên ngoài lộng vào tận những ngõ ngách sâu kín
của tâm hồn và tạo nên một khung cảnh trống lạnh xác
xơ trong nội tâm ta. Có khi nào bạn lỡ xem một cái phim rất
tồi trên máy truyền hình mà cứ dành tiếp tục để
cho máy mở đến khi chuyện phim chấm dứt ? Tiếng la, tiếng
hét, tiếng rên rỉ và tiếng súng nổ làm cho bạn khó chịu
lắm phải không ? Tại sao bạn không đứng dậy tắt máy đi
mà cứ để cho cái phim kia nó hành hạ bạn như thế ? À,
tôi biết rồi. Cái máy truyền hình của bạn là cái máy rẻ
tiền chỉ nghe được độc nhất có một đài. Bạn không
thể chuyển sang đài khác. Bạn không muốn tắt. Bạn không
muốn đóng cái cửa sổ của bạn. Bạn sợ cô độc, trống
lạnh khi phải đối diện với chính bạn.
Bạn
cũng biết rằng tâm tư ta là gì thì ta là cái ấy. Nếu ta
giận thì ta là cái giận, nếu ta yêu thì ta là cái yêu, nếu
ta ngắm một đỉnh núi phủ tuyết thì ta là đỉnh núi phủ
tuyết, nếu ta theo dỏi một chuyện phim thì ta là truyện phim,
nếu ta nằm mơ thì ta là giấc mơ. Ta có một phép lạ vô
song là có thể trở thành bất cứ thứ gì mà ta ước muốn,
mà không cần đến cuốn sách ước hay là chiếc đũa phép
của một nàng tiên. Vậy thì tại sao ta lại mở cửa sổ
của ta để đón nhận một cái truyện phim ồn ào, vô duyên
và đầy tính cách bức hại như thế ? Tôi không muốn động
tới những phim hay. Tôi chỉ muốn nói tới những nhà làm
phim rẻ tiền, chuyên thao túng cảm giác của khán giả. Họ
kích thích cái sợ, cái lo và cái hồi hộp của bạn và họ
tàn phá khán giả của họ, kể cả những khán giả rất trẻ.
Ai cho phép họ làm như vậy ? Chính là khán giả của họ.
Chúng ta dễ dãi quá, chúng ta xem bất cứ phim ảnh nào.Và
cũng tại gì chúng ta vừa có cảm giác cô dơn vừa có cảm
giác lười biếng. Chúng ta không muốn tạo ra sự sống của
chúng ta. Chúng ta mở máy truyền hình ra và giao phó chúng ta
cho kẻ khác dắt dẫn, uốn nắn, tạo tác và phá phách. Theo
dõi một truyện phim, bị cuốn hút theo nó là chúng ta phó
thác thân mạng chúng ta cho kẻ khác rồi. Ta nên biết rằng
có thể là sau một truyện phim như thế, thần kinh và tâm
tư ta bị tàn hại và đầu độc không ít.
Bạn,
tôi chỉ mới nói về một chuyện phim. Xung quanh chúng ta còn
có bao nhiêu cậm bẫy khác do chính đồng loại chúng ta và
do cả bản thân chúng ta tạo dựng ra và gài sẵn đó. Trong
một ngày ta có thể tán thân thất mạng nhiều lần vì chúng.
Ta phải cẩn thận, và phải bảo trọng thân mạng và sự
an ổn của ta. Nói như vậy không phải là lúc nào ta cũng
đóng im ỉm tất cả những cửa sổ giác quan của ta.
Thực
ra, trong thế giới mà ta gọi là “bên ngoài”, có biết bao
điều mầu nhiệm. Cửa sổ của ta hãy mở trên những mầu
nhiệm đó. Bạn phải chọn lựa và bạn phải thắp lên ngọn
đèn quán niệm. Ngồi bên một dòng nước trong, nghe một bản
nhạc hay hoặc theo dõi một truyện phim đẹp, ta cũng
đừng
phó thác ta hoàn toàn cho dòng nước, khúc nhạc hoặc truyện
phim. Mặt trời ý thức mà được thắp lên là hầu hết mọi
tai nạn ta đều tránh thoát được và dòng nước sẽ trong
hơn, tiếng nhạc và truyện phim sẽ làm ta thấy rõ tâm tư
của người nghệ sĩ hơn. Người hành giả sơ tâm thường
bỏ chợ búa xã hội vào ngồi trong rừng xanh là để đóng
lại những cái cửa sổ thường làm cho người ấy loạn tâm,
và suốt ngày thấy núi rừng yên tĩnh, do đó, có thể khôi
phục lại được chính mình mà không để tự mình trôi lăn
theo dòng thác lũ của “thế giới bên ngoài “. Rừng cây
im mát thanh tịnh giúp cho hành giả nhiếp tâm vào chánh niệm.
Một khi chánh niệm đã vững chãi rồi thì dù ngồi giữa
chốn chợ búa hành giả cũng không còn bị xáo động. Nhưng
cho đến khi ấy, hành giả phải thận trọng, phải nuôi dưỡng
chánh niệm hàng giờ, hàng ngày, phải chọn lựa những khung
cảnh và những thực phẩm thích hợp cho bản thân mình.
NGƯỜI
BỊ CẢM CHƯA ÐƯỢC TẮM NƯỚC LẠNH
Nếu
là một nhà phê bình văn nghệ, bạn sẽ đọc một cuốn truyện
hoặc xem một cuốn phim bằng con mắt biết nhận xét của
bạn. Ít nhiều trong khi đọc hoặc trong khi xem bạn cũng ý
thức được trách vụ của nhà phê bình nơi bạn cho nên bạn
không là “nạn nhân” của cốt truyện đó hoặc chuyện
phim đó. Bạn có khả năng tự chủ. Người sống trong chánh
niệm là một người có tự chủ: tuy cửa sổ giác quan của
họ mở ra trên thế giới, nhưng căn nhà tâm ý của họ không
hề bị cướp đoạt. Nói như vậy để chúng ta nhớ rằng
thế giới hình sắc và âm thanh “bên ngoài” không phải
là kẻ thù độc hại của chúng ta. Nếu chúng ta giữ gìn
những cửa sổ giác quan của chúng ta là tại gì chúng ta chưa
đủ sức mạnh để đương đầu với thế giới ấy, cũng
như ta bị cảm cúm thì ta chưa thể đi tắm nước lạnh. Tôi
nhớ ngày xưa trong một bửa cơm chay tại nhà Lá Bối, tôi
được mời phát biểu ý kiến về văn nghệ. Tôi nói theo
tôi văn nghệ phải có tính cách khai thị và tri liệu. Khai
thị
là mở bày cho người ta thấy tình trạng thật của con người
và của xã hội, và tri liệu là đề ra đường lối chữa
trị thích hợp. Hôm ấy có nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có
ông Hồ Hữu Tường. Ông Tường đứng lên nói nửa đùa nửa
thật: “Ðó là ý nghĩa của quốc hiệu Văn Lang thuở xưa.
Văn nghệ trị liệu là Văn nghệ cứu người và cứu nước.
Lang tức là lương y”. Tôi nhớ trong Ðạo Phật có nhiều
khi người ta gọi Phật là y vương, tức là vua thầy thuốc,
bởi vì sự giáo hóa của Phật được thực hiện trên sự
chẩn định căn cơ tâm lý của từng chúng sanh. Tất Ðạt
Da cũng đã vào ngồi trong rừng và bên dòng Ni Liên Thuyền
nhiều năm trước khi trở về với xã hội. Con người hôm
nay sống trong một xã hội đầy tiếng ồn, bụi
bặm
và sự chèn ép lẫn nhau, chỉ có thể thỉnh thoảng trốn
vào công viên dược một chút mà thôi . Trong thời đại ta,
âm nhạc, tiểu thuyết, quán rượu và những chương trình
truyền hình có quá ít tính chất trị liệu. Trái lại những
thứ đó có thể là cho con người chán chường hơn, rách nát
hơn, mệt mỏi hơn. Vậy con người phải tìm cách tự vệ.
Phải biết xử dụng cách đóng mở những cửa sổ giác quan.
Ðối với sự thiền tập, đó là bước đầu rất quan trọng.
Tôi cần những khung cảnh và những phẩm vật thích hợp với
tôi, có thể làm cho tôi an lạc, thanh tịnh, vui tươi, khỏe
mạnh. Tôi biết trong “thế giới bên ngoài”, có những khung
cảnh và những phẩm vật như thế. Ví dụ một cảnh suối
rừng, một đứa trẻ thơ, một người bạn thân, một cuốn
sách hay, một khúc hòa tấu, một bữa cơm ngon và lành... Tôi
biết tôi có thể tìm đến hoặc với tới những thứ
ấỵ Nhưng tôi cũng biết rằng thiếu chánh niệm tôi cũng
không thể thưởng thức và bảo vệ cho những thứ đó.
HÃY
CHĂM BÓN CÂY LỰU TRƯỚC SÂN NHÀ
Khi
ta mới tới ngồi bên một dòng suối, ta thấy sung sướng
được nhìn dòng nước chảy, được nghe tiếng suối reo và
được ngắm những tảng đá bui cây hạt sỏi bên suối. Ta
với suối là một, và ta có được sự êm mát, thanh tịnh
và trong sáng của suối. Nhưng có thể ta sẽ chán dòng suối
sau đó vì tâm ta không an. Tâm ta nghĩ dến những việc khác
và ta dồng nhất ta với những việc khác ấy, do đó ta không
còn là dòng suối nửa. Người thiền giả thân ở rừng mà
tâm ở chợ thì rừng có cũng như không. Khi ta sống bên một
đứa trẻ thơ hoặc bên một người bạn hiền, ta thấy được
sự tươi mát của đứa bé hoặc sự ấm áp của người bạn.
Ta dược hưởng sự tươi mát đó hoặc sự ấm áp đó.
Ta là dứa bé, ta là người bạn. Nhưng nếu tâm ta không an,
thì đứa bé có đó cũng như không, người bạn có đó cũng
như không. Ta phải có ý thức về sự quý giá của đứa bé
hay của người bạn và như thế ta mới thưởng thức được
sự có mặt của họ, và mới bồi đắp và nuôi dưỡng được
họ để họ mãi mãi còn là niềm hạnh phúc của ta. Nếu
ta vô tâm và dại dột, ta có thể sinh ra bất mãn, trách cứ,
cãi cọ với họ, hoặc đòi hỏi quá đáng nơi họ, để cuối
cùng ta mất họ. Mà một khi mất họ rồi thì ta mới
thấy họ quý giá, ta mới tiếc thương họ. Khi còn họ thì
ta không trân quý, khi mất họ rồi thì ta có tiếc thương
cũng vô ích. Quanh ta đầy dẫy những mầu nhiệm: một cốc
nước, một tia nắng, một tờ lá, một con sâu, một bông
hoa, một tiếng cười, một trận mưa. Nếu ta có chánh niệm,
ta sẽ dễ dàng thấy được sự mầu nhiệm của vạn vật.
Trong ta cũng đầy dẫy những mầu nhiệm: mắt ta thấy được
bao nhiêu hình dáng và mầu sắc, tai ta nghe được bao nhiêu
âm thanh, óc ta suy tưởng được từ một hạt bụi cho đến
một thiên hà, tim ta thổn thức theo được nhịp tim của bao
nhiêu loài sinh vật khác... Những lúc mệt mỏi và chán nản
vì cuộc sống vật lộn và ồn ào, ta thường không thấy
được sự mầu nhiệm trong ta và trong vạn vật.
Cây
lựu ở sân trước nhà bạn, bạn hãy nhìn nó trong chánh niệm:
nó là một thực tại mầu nhiệm. Bạn để ý lân mẫn và
săn sóc nó thì bạn chia sẽ dược sự mầu nhiệm của nó.
Mới có một tuần lễ đợc chăm bón mà nó tốt tươi hẳn
lên. Những người thân của bạn cũng vậy. Dưới ảnh hưởng
của chánh niệm, bạn trở thành cẩn trọng, hiểu biết ưu
ái; phong thái của bạn không những nuôi dưỡng và làm dẹp
cho bạn mà còn nuôi dưỡng và làm đẹp cho những người
sống bên cạnh bạn. Một người sống trong chánh niệm thì
không những cả nhà được nhờ cậy mà xã hội cũng nhờ
thế mà thay đổi. Vì lý do vừa nêu ra đó, ta thấy tâm ta
quyết dịnh mọi đường. Ðỉnh núi tuyết sáng rỡ và hùng
vĩ kia ta ngắm nó thì ta với nó là một. Muốn cho đỉnh núi
đó còn thì tâm ta phải có mặt. Tâm ta có mặt thì dù ta
có nhắm mắt lại đỉnh tuyết ấy cũng còn đó. Khi người
thiền giả ngồi trong tư thế kiết già, tuy y có đóng bớt
lại một vài cánh của sổ giác quan, y vẫn cảm thấy sự
có mặt của tất cả vũ trụ bỏi vì tâm y có mặt. Nhiều
khi y nhắm mắt chỉ là để nhìn thấy cho rõ, như tôi đã
nói một lần. Vậy hình sắc và âm thanh của “thế giới
bên ngoài” không phải là giặc. Giặc chính là thất niệm,
nghĩa là sự vắng mặt của tâm.
ÐỪNG
TRỞ THÀNH MỘT THUỘC ÐỊA
Thợ
thuyền Pháp, và cả đảng Xã Hội đang cầm quyền nũa,
hiện đang tranh đấu để rút thời giờ làm việc hàng tuần
từ bốn mươi giờ xuống ba nươi lăm giờ. Cuộc tranh đấu
thật cam go. Nhưng năm giờ dồng hồ đạt được dó, chúng
ta sẽ xử dụng như thế nào ? Nếu chúng ta cũng xử dụng
nó như buổi chiều thứ bảy, nghĩa là để ngồi hết buổi
trước máy truyền hình hoặc trong một quán rượu thì oan
uổng biết mấy. Cố nhiên là ta cần thời giờ để nghỉ
ngơi, để sống. Nhưng sống như thế nào ? Ta có thói quen:
hễ rảnh tay là ta mở máy truyền hình mà theo dõi một truyện
phim trinh thám hay gì cũng dược, để khỏi phải “ở
không “, nghĩa là để khỏi phải đối diện với chính ta.
Nhiều khi máy truyền hình làm ta mệt thêm, cáu thêm nhức
đầu thêm.. Thì giờ tự do mà ta tranh đấu được có thể
bị các công ty phim ảnh, quảng cáo và tuyên truyền chính
trị cướp đoạt, rồi cuối cùng ta sẽ bị biến thành những
thuộc địa của kẻ khác. Ta phải tìm cách xử dụng thì
giờ nghỉ ngơi quý báu của ta cho hợp lý, để ta thực sự
được nghỉ ngơi và có được sự an lạc. Bạn chọn những
chương trình hay trên các đài truyền hình và chỉ mở máy
để nghe những chương trình ấy mà thôi. Và bạn chọn những
khung cảnh đẹp đẽ và êm mát, những buổi sum họp thân
mật với những người bạn yêu mến, những cuốn sách và
những và những dĩa hát bạn ưa thích v.v... Tất cả những
gì bạn đã chọn, bạn hãy sống thật thoải mái và có ý
thức với chúng. Bạn nhớ rằng: mình chọn những cái gì
thì mình sẽ là cái ấy. Có khi nào ở trước bãi biển lúc
mặt trời mọc hoặc trên núi cao lúc giữa trưa, bạn vươn
vai thở một hơi dài hít vào dầy phổi không khí trong sạch
của bầu trời lồng lộng nơi ấy ? Có phải là bạn thấy
mình là một với trời biển và núi sông không ? Nếu bạn
nghĩ rằng bạn ở xa biển, xa núi quá thì bạn hãy ngồi lại
trong tư thế hoa sen, và là như người hành giả kia, thở một
hơi thở vừa nhẹ vừa dài, và đưa biển, núi và thái hư
về trong bạn. Hoặc bạn ra bờ sông hoặc ra công viên gần
nơi bạn cư trú.
ÐỐI
TƯỢNG NHẬN THỨC
KHÔNG
THỂ TÁCH RỜI
KHỎI
CHỦ THỂ NHẬN THỨC
Ý
thức là ý thức về một cái gì, vì vậy đối tượng quán
chiếu của tâm cũng là tâm. Khi quán chiếu núi thì tâm là
núi, khi quán chiếu biển thì tâm là biển. Duy thức học nhấn
mạnh dến diểm dó: nhận thức bao hàm cả chủ thể nhận
thức lẫn dối tượng nhận thức. Khi ta quán chiếu thân thể
ta thì ta giới hạn nhận thức của ta trong phạm vi thân
thể ta, và ta là thân thể ta, dù rằng thân thể ta không phải
là một thực thể riêng biệt, độc lập, có thể tồn tại
độc lập với vũ trụ. Cũng như thế, khi quán niệm về không
gian vô biên, ta đồng nhất với không gian vô biên, và ta đi
vào một trạng thái thiền dịnh gọi là không vô biên xứ
định. Dó là một trong bốn cảnh giới thiền dịnh gọi là
tứ không định ( ãkas’ãnantyãyatana ). Nếu ta quán niệm
về tâm thức bao hàm cả không thời gian và an trú trong trạng
thái quán niệm ấy, thì ta di vào thức vô biên xứ dịnh (
vijnànanãntyãyatana ). Nếu ta quán niệm về đặc tính vô tướng
của tất cả các pháp trong vũ trụ thì ta di vào vô sở hữu
xứ định ( ãkincanyàyatana ). Khi ta quán niệm về nhận thức
trong đó không còn sự phân biệt chủ thể và đối tượng
thì ta đi vào phi tưởng phi phi tưởng dịnh ( naivasan~jnãnãsanjnãyatana
). Bốn trạng thái thiền định này không phải là khó thực
hiện như nhiều người thường nghĩ, miển là ta biết thường
trực quan sát đường đi nước bước của tâm tạ Bạn có
muốn thực tập thì cứ thử, nhưng nếu không thực tập cũng
không sao. Ðiều cần nhắc ở đây là đừng gạt tất cả
những gì mà bạn cho là đối tượng của nhận thức ra khỏi
nhận thức. Thân thể của bạn, cũng như đỉnh núi và dòng
sông kia một khi dược bạn nhận thức, đều là tâm của
bạn.
BUÔNG
BỎ Ý NIỆM TRONG VÀ NGOÀI
Có
lẽ bạn đã để ý rằng mỗi khi dùng mệnh đề “thế giới
bên ngoài “ tôi đều đặt no’ trong vòng kép. Tôi làm như
thế là vì tôi không thực sự thấy rằng thế giới ấy là
thế giới “bên ngoài” . Bạn thử quán sát xem: bên
ngoài là bên ngoài của thân hay của tâm ? Thân thể ta , máu
thịt và gân cốt ta đều thuộc về thế giới “bên ngoài
“ ấy. Cho đến hệ thần kinh và óc tủy của chúng ta cũng
đều thuộc về cùng một thế giới. Cái dung tích mấy trăm
phân khối chứa não bộ của ta, nó có phải là cái “ thế
giới bên trong “để đối với cái “thế giới bên ngoài
“ hay không ? Bạn nói là không, bởi vì nó là một phần
của không gian, tức là một phần của thế giới bên ngoài.
Vậy thì thế giới bên trong là tâm, bạn nói. Nhưng tâm ở
đâu ? Bạn có thể xác dịnh được vị trí của tâm không
? Bạn hãy dùng tâm mà quan sát tâm như quan sát mọi hiện
tượng khác mà ta gọi là vật lý. Tâm liên hệ tới thần
kinh và não bộ : tâm là ký ức và cảm giác, là tư tưởng,
là nhận thức, những hiện tượng ấy có liên hệ tới gốc
rễ sinh lý của chúng, có sinh diệt, có cường độ. Bạn
nói ta có thể xác dịnh vị trí không gian và thời gian của
chúng. Về không gian thì căn cứ của chúng là thần kinh và
não bộ. Về thời gian thì chúng có thể phát hiện hôm qua,
ngày nay hoặc ngày mai. Như vậy dưới nhận thức của tâm,
tâm trở thành một phần của cái thế giới mà ta gọi là
thế giới bên ngoài. Cứ theo đà ấy mà suy xét thì tất cả
đều thuộc về thế giới bên ngoài ấy. Nhưng bên ngoài là
bên ngoài của cái gì ? Làm gì có bên ngoài nếu không có
bên trong? Những quan sát ấy không phải để đưa tới kết
luận rằng thế giới bên ngoài nằm gọn trong tâm và tâm
bao hàm tất cả pháp giới. Bởi vì một kết luận như thế
vẫn còn được đặt trên sự phân biệt trong và ngoài. “Tất
cả dều trong tâm, ngoài tâm không còn gì nữa”. Câu nói
này cũng vô lý như câu nói: “Tâm ta nhận thức dược thế
giới bên ngoài”.
Lý
do của sự lúng túng nằm ở thói phân biệ.t trong và ngoài
của chúng ta. Trong đời sống thực dụng hằng ngày, sự phân
biệt ấy rất cần thiết. Ta phải phân biệt trong và ngoài,
bởi vì vào mùa đông ở trong nhà ta có thể mặt ít áo, nhưng
ra ngoài đường ( tức là ngoài nhà! ) thì phải mặc cho thật
ấm, nếu không muốn bị xưng phổi. Các ý niệm như cao/thấp,
một/nhiều, tới/di, sinh/diệt v.v... cũng vậy, rất cần cho
nhận thức và hành dộng thực dụng cu?a sự sống hằng ngày.
Nhưng đến khi ta thoát ra khỏi phạm vi sự sống thực dụng
đó mà đi vào sự quán sát thực tướng của vũ trụ thì
ta phải rời bỏ các ý niệm kia. Ví dụ khi ta ngửng dầu
lên nhìn trăng sao, ta thường cho phía ấy là phía trên, nhưng
cùng một lúc ấy những người đang đứng ở bán cầu bên
kia trái dất của ta lại cho phía ấy là phía dưới. Trên
chỉ là trên đối với ta mà thôi. Trên là trên trong cuộc
sống thực dụng chứ không phải là trên của chân lý vũ
trụ. Muốn quán sát vũ trụ phải biết buông bỏ ý niệm
trên dưới ấỵ
THỰC
TẠI KHÔNG CHỊU ÐỰNG ÐƯỢC KHUÔN KHỔ
Vậy
sự buông bỏ ý niệm về khuôn khổ rất cần thiết cho người
thực tập thiền quán. Khi ta quán sát thân thể, cảm giác,
tư tưởng và nhận thức của ta, ta cũng đặt chúng vào khuôn
khổ không gian và thời gian như khi ta quán sát các hiện tượng
vật lý, và như thế là ta đặt chúng vào cùng trong một thế
giới, sắp đối tượng tâm lý bên cạnh các đối tượng
sinh lý và vật lý. Bạn đặt câu hỏi: tâm như là đối tượng
quán sát có còn là tâm nữa hay chăng, hay chỉ là bóng dáng
rơi rớt của tâm? Câu hỏi đó thông minh. Bạn có thể hỏi
tiếp: các đối tượng quán sát của tâm mà ta xếp vào hai
phạm trù sinh lý và vật lý có còn nằm trong thể tính và
tự thân của chúng hay không , hay chỉ còn là bóng dáng rơi
rớt của một thực tại bị đối tượng hoá ? Tâm của ta
đã tạo dựng ra những khuôn khổ như không gian và thời gian,
trên và dưới, trong và ngoài, mình và người, nhân và quả,
sinh và diệt, một và nhiều v.v... và đặt mọi hiện tượng
sinh lý, vật lý và tâm lý vào trong những khuôn khổ đó để
quan sát, mong tìm ra dược chân tướng của chúng. Thái độ
đó là thái dộ của người đem nước lã rót dầy vào các
ve chai có hình thù lớn nhỏ tròn dài khác nhau để tìm hiểu
tình trạng và dung tích của nước. Thực tại trong tự thân
nó không bao giờ chịu dựng được bất cứ khuôn khổ nào,
và vì vậy người muốn thể nhập nó phải quăng bỏ những
khuôn khổ ý niệm sử dụng trong đời sống thực dụng hằng
ngày.ỵ Các nhà khoa học vật lý hiện giờ cũng thấy được
điều đó. Thuyết Tương Ðối chủ trương rằng nếu không
buông bỏ ý niệm thời gian và không gian độc lập và tuyệt
đối thì không thể nào đi xa trên con dường hiểu biết vũ
trụ . Thuyết Lượng Tử nói rằng đi vào thế giới vật
thể cực vi thì phải bỏ lại các ý niệm sự vật, có không,
nhân quả, trước sau v.v...thường được áp dụng trong thế
giới sinh hoạt thực dụng hằng ngàỵ
TUỆ
LÀ CÔNG TRÌNH CỦA QUÁN CHIẾU
KHÔNG
PHẢI CỦA SUY TƯ
Các
khoa học gia thuyết Lượng Tử bây giờ cũng biết rằng tâm
quán sát của ta có liên hệ mật thiết tới vật ta quán sát,
và đã bắt dầu nói nhiều tới tâm. Năm 1979, đài France Culture
có tổ chức một tuần lể tọa đàm tại Cordoue, Y Pha Nho,
về vị trí của tâm trong khoa học, và nhiều học giả nổi
tiếng các nước đã được mời tới tham dự. Ðề tài tọa
đàm là Khoa Học và Tâm Thức ( Science et Conscienne ). Nhiều
khoa học gia tham dự đã tỏ ý tin tưởng rằng tâm và thế
giới cùng có chung một thể tính. Các khoa học gia thấy được
tính cách then chốt của tâm, nhưng đa số cũng còn nghiên
cứu tâm như những đối tượng khác trong phòng thí nghiệm
của họ : tâm ở đây không còn là tâm mà là những hình
bóng rơi rụng của tâm gắn trong những khuôn khổ ý niệm.
Chắc bạn còn nói đến câu này trong Kinh Niệm Xứ : quán
niệm thân thể trong thân thể, quán niệm cảm giác trong cảm
giác, quán niệm tâm thức nơi tâm thức, quán niệm đối tượng
tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Câu này có nghĩa là:
sống chánh niệm với thân thể chứ không phải là khảo cứu
về thân thể như một đối tượng, sống chánh niệm với
cảm giác, tâm thức và đối tượng tâm thức chứ không phải
là khảo cứu về cảm giác, tâm thức và đối tượng tâm
thức như những đối tượng. Khi ta quán niệm về thân thể
ta, ta sống với thân thể ta như một thực tại với tất
cả sự chăm chú và tỉnh táo của ta, ta là một với thân
thể ta, cũng như khi ánh sáng chiếu vào một nụ hoa nó thâm
nhập vào nụ hoa, làm một với nụ hoa và làm cho nụ hoa hé
nở. Công phu quán niệm làm phát hiện không phải là một
ý niệm về thực tại mà là một cái thấy về thực tại.
Cái thấy đó là tuệ, do niệm và định đưa đẩy tới. Suy
tư là xây dựng nên những kiến trúc tư tưởng bằng những
viên gạch ý niệm rút từ kho tàng ký ức. Tự thân của suy
tư không có giá trị sáng tạo. Chỉ khi nào Tuệ được phát
hiện thì suy tư mới có thực chất mới. Tuệ không phải
là do suy tư đưa tới: nó là công trình của sự quán chiếu.
Tuệ có thể nhờ tư tưởng chuyên chở, nhưng tư tưởng nhiều
khi khó chuyên chở được Tuệ, bởi vì tư tưởng thường
hay bị các phạm trù ý niệm của chúng điều khiển và gò
bó. Tư tưởng và ngôn ngữ nhiều khi không diễn tả được
Tuệ hay bằng một cái nhìn hay một tiếng cười, chính là
gì thế.
ÐIỆU
MÚA CỦA LOÀI ONG
Bạn
đã từng dọc sách hoặc xem phim về sinh hoạt loài ong chưa.
Khi con ong thợ phát kiến dược một địa điểm nhiều hoa,
nó bay về tổ báo cho đồng loại biết phương hướng và
vị trí của địa điểm này bằng cách đi vài đường múa.
Có nhiều điểm xa cách tổ ong đến hàng cây số. Học giả
K. Von Frisch từng nghiên cứu về ngôn ngữ “múa” ấy
của loài ong. Loài người cũng biết múa và có nhiều nghệ
sĩ từng diễn tả nội tâm bằng những điệu múa.. Có người
diễn tả nội tâm bằng âm nhạc hoặc hội họa. Lời
nói của chúng ta cũng chỉ là những đường múa, những tiếng
hát, những nét họa. Nó có thể vụng về hoặc khéo léo.
Nó có thể chuyên chở dược nhiều hay ít cái thấy của
chúng ta. Nhưng sự khéo léo không phải chỉ cần thiết ở
người sử dụng ngôn ngữ. Chính người nghe cũng phải khéo
léo và tinh ý. Bởi ngôn ngữ thường không thoát được những
phạm trù ý niệm. Dầu người nói có khéo léo lách thoát
khỏi một mớ phạm trù này thì người nghe cũng có thể rơi
vào cạm bẩy của những phạm trù ấy . Bởi vì những chai
và bình của ta đem ra để đựng nước đều có sẵn những
hình thái và dung lượng của chúng. Thiền giả hay nói đến
tính cách “bất lập văn tự” không phải nhất thiết là
để phủ nhận khả năng diễn đạt của văn tự mà chỉ
là để đề phòng sự chấp chặt vào văn tự của người
sử dụng cũng như của người tiếp nhận. Những tác phẩm
như Trung Quán Luận của luận sư Long Thọ ( sáng tác vào thế
kỷ thứ hai dương lịch ) biểu trưng cho ý thức muốn sử
dụng ý niệm để đập vỡ ý niệm. Trung quán Luận không
nhắm tới sự thành lập một ý niệm hay một luận thuyết
nào hết mà chỉ nhằm tới sự phá bỏ tất cả mọi ý niệm,
đập vỡ hết cả tất cả mọi chai lọ, ống và bình để
cho ta thấy nước là một cái gì không cần hình tướng mà
vẫn hiện thực. Trung Quán Luận là những điệu múa nhằm
giúp ta bỏ lại các khuôn khổ ý niệm trước khi đi vào sự
thể nghiệm thực tại. Ðiệu múa ấy chỉ là phương tiện
phá bỏ chướng ngại trên con dường thể nghiệm thực tại
mà không phải là một hình ảnh thực tại được mô tả.
KIẾN
THỨC LÀ CHƯỚNG NGẠI CỦA TUỆ GIÁC
Những
phát minh lớn của khoa học không phải là hoa trái của suy
tư mà là của tuệ giác. Công cụ của nhà khoa học không
phải chỉ là trí năng và phòng thí nghiệm mà là cả con người
của ông ta, trong dó có phần vô thức thâm sâu. Trí năng dóng
vai trò ươm hạt và vun xén. Nó gieo hạt nghi án vào vào mảnh
đất tâm. Chừng nào hạt chưa mọc mầm thành cây thì trí
năng vẫn còn chưa làm được trò trống gì, chỉ suốt ngày
đánh võ trong hư không. Hạt nghi án nở thành mầm tuệ giác
vào những lúc bất ngờ nhất, nghiã là những lúc mà trí
năng không hoạt động, không “đánh võ trong hư không
“. Tuệ giác đó là một cống hiến của công trình ấp ủ
của nhà khoa học, trong lúc thức cũng như trong giấc ngủ,
trong khi ăn cũng như lúc đi bách bộ. Ðối với nhà khoa học,
nghi án vùi chôn trong tâm thức ông, nếu ấp ủ suốt ngày
đêm bằng niệm lực thì sẽ có cơ phá giảị Sự phát kiến
mới làm rạn nứt những sở tri (kiến thức) cũ và buộc
trí năng phải phá bỏ những kiến trúc hiện thời của nó
để xây dựng một kiến trúc mới. Kiến thức cũ là chướng
ngại cho tuệ giác mới, vì vậy trong Phật học chúng ffược
gọi là sở tri chướng. Cũng như các nhà đạt đạo, các
nhà khoa học lớn đều có đi qua, những giai đoạn biến đổi
lớn trong bản thân. Sở dĩ họ đạt được những cái thấy
sâu sắc là vì nơi họ niệm lực và định lực dã khá dồi
dàọ Trí tuệ không phải là sự chất dống của tri thức.
Trái lại, nó vùng vẫy để thoát khỏi các tri thức ấy.
Nó đập vỡ các tri thức cũ để làm phát sinh những tri thức
mới phù hợp hơn với thực tại. Khi Copernic phát minh ra rằng
trái dất xoay quanh mặt trời thì có biết bao ý niệm về
thiên văn học cũ bị sụp đổ, trong đó có ý niệm trên
và dưới. Thuyết Lương Tử hiện thời đang phấn dấu mãnh
liệt để vượt thoát các ý niệm đồng nhất và nhân quả
vốn là những ý niệm căn bản xưa nay của khoa học. Khoa
học cũng đang dấn thân trên con đường rũ bỏ ý niệm như
đạo học. Khi Phật Thích Ca đưa ra ý niệm vô ngã, ông đã
làm dảo lộn không biết bao nhiêu quan niệm về vũ trụ và
nhân sinh. Phật đã giáng một đòn lớn trên ý niệm phổ
thông và kiên cố nhất của loài người: ý niệm về sự
tồn tại của ngã. Những người thấu hiểu được vô ngã
thì biết rằng vô ngã là một ý niệm được dưa ra để
đánh đổ ý niệm ngã chứ không là một đồ án mới của
thực tại. Vô ngã là phương tiện chứ không phải là cứu
cánh. Nếu vô ngã chỉ là ý niệm thì nó cũng cần phải phá
vỡ như một
ý
niệm khác.
KHÔNG
NÓI NÊN LỜI
Nơi
con người, cái biết được diễn dịch thành khái niệm, tư
tưởng và ngôn ngữ. Cái biết ở dây không phải là tri thức
thu lượm được bằng cách chất chứa. Nó là một cái thấy
trực tiếp và mau lẹ ; nghiêng về tình cảm thì ta gọi là
cảm xúc, nghiêng về trí tuệ thì ta gọi là tri giác. Nó là
trực giác chứ không phải là kết quả của suy luận. Có
khi nó hiện hữu tràn dầy trong ta nhưng ta không diển dịch
nó thành khái niệm được, không dùng hình thức tư duy dể
chuyên chở nó dược và do dó không diễn tả nó được thành
lời. Nói không nên lời là tâm trạng ta lúc đó. Có những
tri giác dược mô tả trong Phật học là bất khả tư, bất
khả nghị, bất khả thuyết nghĩa là không thể suy tư, nghị
luận và thành lập học thuyết.
AI
BIẾT
Cái
biết của ta, ta tự hào là do ta đạt dược; kỳ thực, đó
là cái biết của chủng loại ta, diễn biến và tiến hóa
từ những kiếp nào xa lắc khi ta còn bơ vơ giữa ranh giới
vô cơ và hữu cơ. Nói đến cái biết ta cứ nghĩ ngay đến
con người với não bộ hơi lớn của nó mà không nhớ rằng
cái biết đang hiện hữu nơi mọi loài vật, ở cả những
vật mà ta gọi là “vô tri “. Các loài ong, nhện và tò vò
có mặt trong những loài vật “ khéo tay “ nhất. Chúng có
thể tạo dựng những kiến trúc thật dẹp. Khi ta quán sát
tổ ong, tổ vò vò và lưới nhện, ta thấy chúng có khả năng
“biết làm “ ( le savoir-faire ). Ta nói: “Các loài này không
biết tư duy, không biết toán học, không làm được đồ án
và dự tính. Chúng không có trí tuệ mà chỉ có bản năng”.
Tuy vậy, không phải là loài người làm ra tổ ong, tổ tò
vò và màng nhện cho các loài nàỵ Chính những con vật bé
nhỏ không có “khối óc” đó đã tự xây dựng nên những
thứ mà ta phải tấm tắc khen dẹp. Nếu không phải chúng
biết thì ai biết ? Chính là chúng, chính là chũng loại
của chúng trong lịch trình tiến hóa. Nhìn vào loài thực vật,
ta cũng thấy dầy dẫy những sự mầu nhiệm của cái
biết. Cây chanh “biết” đâm rễ, làm cành, làm lá, làm
hoa, làm tráị Bạn nói rằng cây chanh không có nhận thức
thì làm gì biết “làm” có phải không ? Xương sườn, xương
sống và các hạch tiết tuyến trong bạn có phải là do bạn
vận dụng trí thức của bạn mà làm ra chăng ? Ðó là công
trình của cái Biết, một cái biết bao trùm tất cả những
cái biết khác trong đó có cái suy tư của bạn.
BIẾT
TRONG TRỜI XANH
Bây
giờ bạn thử gạt bỏ khái niệm về ngã, thử dùng một
thứ ngôn ngữ không có chủ từ dể xem chúng ta thấy được
gì. Ví dụ: mưa. Thường thường ta hay nói “trời mưa”,
trời là chủ từ còn mưa là động từ. Nhưng chủ từ không
thật sự là một chủ từ. Người Tây Phương nói : it rains,
il pleut. Chủ từ it hay il cũng không thực sự chỉ một cái
gì hết. Có khi ta nói mưa rơi, mưa được xem là chủ từ
còn rơi là dộng từ. Xét lại nói mưa rơi là vô nghĩa. Mưa
thì có nước rơi, nếu không có rơi thì không phải là mưa.
Vậy ta có thể nói mưa ở Saigon, mưa ở ÐàLat., không dùng
chủ từ mà vẫn diễn đạt được thực tạị Ta hãy dùng
động từ biết theo kiểu đó, và nói; biết trong con người,
biết trong loài ong, biết nơi cây chanh. Nghe lạ tai thật, nhưng
chỉ là do thói quen của chúng ta, khi nói là phải có chủ
từ. Tiếng biết ở đa^y có thể là một động từ hay một
danh từ, như trường hợp “mưa ở Saigon, mưa ở Hà nội”.
Nếu mưa Saigon có nghĩa là có mưa ở Saigon thì biết trong
con người có nghĩa là có sự biết trong con người, có gì
mà không hiểu được. Theo như tôi thấy, cái biết có mặt
khắp chốn và biển hiện khắp chốn. Biết trong anh Hai, biết
nơi cô Ba, biết nơi con ong, biết nơi cây đào, biết trên
thái hư, biết giữa tinh hà. Nếu ngôn ngữ Tây Phương nói
il pleut sur Paris được thì cũng có thể nói il pense dans l’azur
được chứ sao không. Một thiền sư nào dó, trong một tuần
lễ hướng dẫn thực tập quán niệm về vô ngã, có thể
đề nghị thiền sinh của mình sữ dụng lối ngôn ngữ không
có chủ từ này, và chỉ sử dụng lối ngôn ngữ ấy mà thôi.
Tôi tin rằng phương pháp đó có thể đưa tới những kết
quả rất tốt.
TRONG
GIÓ CÓ CÁI BIẾT
Chúng
ta hãy thử đuà một tí với diệu múa sau đây để “biết”
thêm về cái biết. Giả sử tôi nói: tôi biết gió đang thổi.
Chữ tôi ở đây, bạn nghĩ, có nghĩa là tâm hơn là thân,
và vì vậy nó có nghĩa tâm ( tôi ) biết gió đang thổi. Tâm
tức là cái biết. Vậy thì ta đang thực sự nói : cái biết
biết gió đang thổi. Sự vô lý nằm ở chổ cái biết biết
( la connaissance connait ). Ta tưởng tượng cái biết là một
thực thể tồn tại độc lập với đối tượng biết của
nó, cư trú trong đầu ta và vươn ra ngoài cái biết sự vật,
giống như là cái thước đo có sẵn, đem ra để do chiều
dài sự vật. Ta đã lồng cái biết của ta vào khuôn khổ
do chính cái biết của ta tạo tác ra, do đó cái biết mà ta
ngỡ là cái biết không còn là cái biết trong tự thân nó
nữạ Khi ta nói gió dang thổi ( le vent souffle ) ta thực sự
không nghĩ rằng có một cái gì đang thổi một cái gì. Gió
tức là thổi, không thổi tức là không gió. Cái biết cũng
vậy: tâm tức là cái biết, cái biết tức là tâm. Cái biết
mà ta đang nói tới đây là cái biết về gió. “Biết là
biết một cái gì”, vậy gió và cái biết không rời nhau,
gió và cái biết là một. Ta chỉ nói đến “gió” là đủ.
Sự có mặt của gió bao hàm sự có mặt của cái biết và
của động tác thổi. Dồn mệnh dề tôi biết gió đang thổi
thành một tiếng “gió” có thể vừa tránh cho ta nhiều lỗi
văn phạm vừa giúp cho ta tới gần sự thực hơn. Trong cuộc
sống thực dụng hằng ngày, ta đã tập thói quen suy nghĩ và
diễn tả theo nhận thức về sự tồn tại của những chủ
thể độc lập cho nên ta sẽ gặp một ít khó khăn khi đi
vào thế giới phân biệt ( 7 ) của thực tạị
ÐỘNG
TÁC LÀ BẢN THÂN
CỦA
CHỦ THỂ ÐỘNG TÁC
Trong
các mệnh đề như gió thổi, mưa rơi và sông trôi, ta thấy
rõ chủ từ và động từ là một: không thổi là không phải
gió, không rơi là không phải mưa và không trôi là không phải
sông. Xét cho tinh tế, ta thấy chủ thể nằm trong hành dộng
và hành dộng tức là chủ thể. Chủ thể với hành dộng
là một, cũng như vật chất và năng lượng là một. Ðộng
từ phổ cập nhất là động từ hiện hữu ( être ): tôi hiện
hữu, anh hiện hữu, núi sông hiện hữu. Nhưng vì dộng từ
này không diễn tả được trạng thái sinh động của vạn
vật cho nên người ta hay thay thế nó bằng động từ trở
thành ( devenir ). Hai dộng từ này cũng được người Tây Phương
dùng như những danh từ: l’être và le devenir ( tiếng Pháp
) hoặc being và becoming ( tiếng Anh ). Nhưng trở thành cái gì
mới được chứ ? Tiếng trở thành ở đây thực ra chỉ có
nghĩa là chuyển biến không ngừng, và do đó nó cũng có
tính cách phổ biến như tiếng hiện hữu. Nó không diễn tả
được cái phong cách hiện hữu và trở thành của từng hiện
tượng xét riêng. Ví dụ trong trường hợp gió thì hiện hữu
hoặc trở thành là thổi, trong trường hợp mưa là rơi, trong
trường hợp sông là trôi. Ta thấy ngay rằng nếu dộng từ
hiện hữu là hoàn toàn phổ biến thì các động từ
thổi, rơi và trôi cũng còn rất phổ biến: ( không những
mưa rơi mà tuyết, lá, phóng xạ v.v... cũng rơi ). Trong khi
đó, động từ mưa là đầy đủ nhất cho chủ thể mưa. Ta
có thể nói “mưa mưa” cho đủ chủ từ và động từ, hoặc
chỉ cần nói mưa như một động từ ( hoặc như một chủ
từ, tùy ý thích của ta ). Cứ như thế, bạn có thể nói:
người họa sĩ vẽ, thiền giả ngồi thiền, người đọc
sách dọc sách, ông vua làm vua, Tuệ Trung làm Tuệ Trung, núi
làm núi, mây làm mâỵ Lý do tồn tại của vua là để
làm vua, lý do tồn tại của núi là dể làm núi. Làm vua tức
là làm tất cả những gì mà một ông vua làm: trị nước,
an dân, thiết triều, và một vạn truyện khác. Như trong trường
hợp “mưa mưa”, ta không nói “vua làm vua” nữa mà chỉ
nói “vua vua” tiếng vua thứ hai là động từ, một động
từ không có tính cách phổ biến, chỉ để dành cho nhà vua
mà thôi. Mỗi chủ từ trở thành một động từ, và động
từ ấy là “lý do tồn tại” ( la raison d’être ! ) của
chủ từ ấy. Ví dụ trái núi núi, đám mây mây, Tuệ Trung
tuệ trung. Khi ta nói người họa sỉ vẽ, ta nghe như xuôi tai
hơn, kỳ thực mệnh đề đó không khác gì mệnh đề nhà
vua vua. Mấy ngàn năm về trước đức thánh Khổng đã từng
dùng loại ngôn từ này rồị Ngài nói
“quân
quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” nghĩa là “vua ( làm
) vua, tôi ( làm ) tôi, cha ( làm ) cha, con ( làm ) con”. Ta có
thể tuỳ ý riêng mà giải thích : “vua phải làm trọn bổn
phận vua” hoặc “vua phải cho ra vuạ..” nhưng tựu trung
lối giải thích ấy không có thêm gì mớị Thấy dược động
tác là chính bản thân của chủ thể động tác rồi ta mới
hé thấy dược cái dung lượng bao la của một tiếng biết.
OBJETS
INANIMÉS, AVEZ VOUS DONC UNE AME ?
Ðã
quen nhận thức cái Biết qua hình thức cảm giác và tri giác
của mình, chúng ta thường gọi những vật vô cơ là vô tri
vô giác, những vật chỉ hiện hữu một cách “trơ trơ bất
dộng”. Thực ra các vật này chỉ vô tri vô giác theo nhận
định của ta mà thôi. Tảng đá kia là sự tập họp của
nhiều nguyên tử do những lực từ điện kết hợp. Nguyên
tử không phải là những hạt vật chất đông dặc bất động
mà là những khoảng không gian khá đồ sộ trong dó các chất
điểm li ti như chất tử ( proton ), trung hòa tử ( neutron ),
và điện tử ( electron ) không ngớt di chuyển với tốc dộ
kinh khiếp, suýt soát tốc dộ của ánh sáng, nghĩa là 300,000
cây số mỗi giây. Cái gì dã khiến cho các trường từ điện
và các chất điểm hành dộng như thế ? Ta có còn mô tả
tảng dá là một vật thể “trơ trơ, vô tri vô giác” nữa
hay không ? Những vật vô tri vô giác, Tây Phương gọi là les
objets inanimés. Thi sỉ Lamartine có lần hỏi: “Những vật
vô tri vô giác kia, chúng bây có linh hồn không vậỷ” ( objets
inanimés, avez vous donc une âmẻ ). Linh hồn theo kiểu tư duy
và tưởng tượng của con người thì chắc là không có, hoặc
không thấy biểu hiện, nhưng linh hồn theo nghĩa một thực
thể sống động thì chắc chắn là có.
TÁC
DỤNG MUÔN MẶT CỦA CÁI BIẾT
Cái
biết có thể được biểu hiện ra muôn ngàn mặt. Tác dụng
của biết, như ta thường thấy, là thấy, là nghe, là cảm,
là so sánh, là hồi tưởng, là tưởng tượng, là suy tư, là
lo sợ, là hy vọng v.v... Trong Duy Thức học, một môn học
chuyên chú về nhận thức trong Phật Giáo, ta tìm thấy nhiều
tác dụng của cái biết nữa. Trong trường hợp thức A lại
gia, biết có nghĩa là hàm chứa, duy trì, biểu hiện ( 8 ).
Trong trường hợp thức Mạt na, biết có tác dụng bám chặt
không chịu buông thả. Trong trường hợp ý thức, biết còn
có tác dụng sáng tạo, vẽ vời, mơ mộng, cắt xén. Trong
trường hợp thức Yêm Ma La, biết có tác dụng chiếu rọi
(9). Ta nhận thấy ở bất cứ hiện tượng nào dù là tâm
lý, sinh lý hay vật lý cũng có sự có mặt của sự vận chuyển
sinh động. Ta có thể nói sự sinh động vận chuyển là tác
dụng phổ biến của cái biết. Ta chớ cho cái biết là một
vật bên ngoài đến để làm cho vạn vật sinh dộng: nó chính
là sự sinh động, nó chính là vạn vật sinh động. Vũ
khúc với vũ là một.
BẠN
HÃY RA NGỒI GẦN MỘT CÂY CHANH
Những
điều tôi vừa nói với bạn trên đây không phải là những
trò biểu diễn của văn tự và tri thức có mục dích giải
trí người dọc. Ðó là những dụng cụ mà ta có thể xử
dụng để làm rạn nứt và bật tung cái nề nếp suy tư khái
niệm dã được un đúc lâu ngày trong cuộc sống thực dụng,
cũng như những cái chốt sắt và những chiếc xà beng mà ta
thường dùng để tháo gỡ những cái thùng hoặc để tách
chẻ một thân cây ra làm nhiều mảnh. Như khi ta luồn một
con rựa vào giữa thân tre dể chẻ cây tre ra làm hai, bạn
có thể vừa đọc tới đâu vừa vỡ lẽ ra tới đó, và điều
này chứng tỏ bạn có công phu quán niệm. Nhưng nếu bạn
không thấy như vậy, hoặc chưa thấy như vậy, thì đó có
thể là do bạn mới quan sát thực tại lần đầu bằng ý
thức không phân biệt và chưa quen với cách nhìn đảo lộn
này. Cũng có thể vì những đường múa trên đây của tôi
còn vụng. Không sao, thua keo nầy ta sẽ bày keo khác. Không
vào được bằng cánh cửa này, ta sẽ vào bằng một cánh
cửa khác. Ðiều quan trọng không phải là “hiểu” những
lời tôi nói, mà là “thấy” đợc thực tại. Lời tôi nói
chỉ là những điệu múa gợi ý, hoặc một ngón tay chỉ trỏ.
Bạn phải nhìn bằng con mắt của chính bạn, và con mắt đó
chỉ có thể mở ra trong chính niệm.
Tôi
ao ước bạn không đem những lời tôi nói để chế tạo thành
những ý niệm rồi cất giữ chúng trong bạn. Tôi không muốn
trao cho bạn cái gì hết. Tôi chỉ muốn “múa” cho bạn xem
mà thôi. Tôi không muốn làm hơn một con ong. Bạn thấy được
gì thì đó là bạn thấy trong tâm bạn, chứ không phải thấy
trong những đường múa của tôi. Bây giờ bạn hãy tới ngồi
xem một đứa bé ngủ. Hoặc ra ngoài vườn ngồi cạnh cây
chanh. Hoặc vào bếp nấu nước pha một bình trà, làm một
trong những việc đó một cách thật tỉnh táo, thắp mặt
trời chánh niệm lên đễ đừng đi lạc vào quên lãng. Bạn
không cần suy tư về sự đồng nhất hoặc sai biệt của bạn
với đứa bé, với cây chanh hay bình trà. Bạn không cần suy
tư. Ngồi với đứa bé, ngồi với cây chanh hoặc ngồi uống
trà cho tới khi môi bạn nở một nụ cười.