CHƯƠNG
MỘT
NẮNG
TRÊN LÁ XANH
LY
NƯỚC TÁO CỦA BÉ THỦY
Hôm
nay có ba em bé, hai gái và một trai, từ dưới làng lên chơi
với Thanh Thủy. Bốn đứa chạy chơi trên khu đồi phía sau
nhà khoảng một giờ đồng hồ thì tìm vào để kiếm nước
uống. Tôi đi tìm chai nước táo cuối cùng còn lại
và đem rót vào cho mỗi đứa một ly đầy. Ly chót là của
Thanh Thủy. Ly này lợn cợn xác táo, không trong như ba ly trước.
Thanh Thủy phụng phịu chê, không uống. Bốn đứa lại chạy
lên đồi chơi.
Chừng
nửa giờ sau, đang ngồi tĩnh tọa ở phòng bên, tôi nghe tiếng
Thủy gọi. Cô bé muốn vặn nước lạnh trong vòi nước để
uống, nhưng nhón gót mà cũng không với tới. Tôi chỉ lên
bàn, bảo: cháu uống ly nước táo này đi. Thủy ngoảnh lại
nhìn. Ly nước táo bấy giờ trong vắt không còn một tí lợn
cợn nào nữa, trông thật ngon lành. Nó tới gần và đưa hai
tay nâng ly nước táo lên uống. Uống được chừng một phần
ba ly, Thủy đặc ly xuống và ngước mắt nhìn tôi:”Có phải
đây là một ly nước táo mới không thưa ông?” Tôi trả
lời:”Không, ly nước táo hồi nãy đó. Nó ngồi yên một
lúc lâu cho nên trở thành trong vắt và ngon lành như vậy đó
cháu.” Thủy nhìn lại ly nước táo:”Ngon quá ông ơi. Có
phải ly nước táo bắt chước ông đang ngồi thiền không
hả ông?”
Tôi
bật cười vỗ nhẹ lên đầu nó. Có lẽ nói rằng tôi đã
bắt chước ly táo mà ngồi thiền thì đúng hơn.
Tối
nào đến giờ bé Thủy đi ngủ thì tôi cũng ngồi thiền.
Tôi cho nó ngủ ngay trong thiền phòng, gần chỗ tôi ngồi.
Hai ông cháu giao hẹn với nhau là trong khi tôi ngồi thì Thủy
nằm mà không lên tiếng hỏi chuyện. Thường thường thì
chỉ chừng năm mười phút sau là Thủy đã ngủ. Trong khung
cảnh thanh tịnh đó, giấc ngủ đến với Thủy một cách
dễ dàng. Mãn giờ thiền tọa, tôi chỉ cần đi lấy một
cái mền đắp lên cho nó.
Thanh
Thủy là một em bé thuộc giới “thuyền nhân” (boat people)
chưa đầy bốn tuổi rưỡi. Nó cùng với bố nó vượt biển
sang tới Mã Lai hồi tháng tư năm ngoái. Mẹ nó bị kẹt lại
bên nhà. Qua tới Pháp, bố nó đem gởi lại Phương Vân Am
vài tháng để rảnh rang lên Paris lo giấy tờ và kiếm việc
làm. Tôi dạy cho Thủy vần quốc ngữ và những bài ca dao
xưa. Con bé rất thông minh. Chỉ trong vòng mười lăm ngày,
nó đã đánh vần và đọc từ từ cuốn “Vương Quốc Của
Những Người Khùng”, truyện ngụ ngôn của Leon Tolstoi, do
tôi dịch.
Tối
nào Thanh Thủy cũng thấy tôi ngồi. Tôi bảo nó là tới “ngồi
thiền” và tôi không hề nói cho nó biết ngồi thiền là
gì và ngồi như thế để làm gì. Mỗi tối, khi thấy tôi
rửa mặt, mặt áo tràng và đi thắp một cây nhang cho thơm
thiền phòng là nó biết tôi sắp đi “ngồi thiền”. Nó
cũng biết là đã đến giờ nó phải đi đánh răng, thay aó
và leo lên chỗ nằm mà không nói chuyện. Không lần nào nó
đợi tôi nhắc.
Chắc
rằng trong cái đầu tý hon của nó, bé Thanh Thủy nghĩ rằng
ly nước táo ngồi yên một hồi lâu là để cho nó lắng trở
lại, và ông của nó ngồi yên một hồi lâu chắc cũng là
để cho lắng trong, cho khỏe khoắn như ly nước táo. “Có
phải ly nước táo bắt chước ông ngồi thiền không, hả
ông?” Tôi nghĩ bé Thủy chưa đầy bốn tuổi rưỡi mà đã
hiểu thế nào là ngồi thiền mà không cần ai giải thích
gì cho nó.
Ly
nước táo ngồi lâu thì lắng trong. Theo cũng một định luật,
ngồi lâu thì ta cũng lắng trong. Lắng trong thì ta sẽ an hòa,
khỏe khoắn và tươi mát hơn. Ta tự cảm thấy tươi mát và
người chung quanh ta cũng thấy ta tươi mát. Một em bé ưa tới
ngồi gần ta không hẳn là vì ta hay cho nó kẹo hoặc hay kể
chuyện đời xưa cho nó nghe. Có khi nó ưa tới ngồi gần ta
chỉ vì ta tươi mát, có thế thôi.
Tối
nay, Phương Vân có một ông khách. Tôi rót nước táo còn lại
ở trong chai cho đầy một ly và đặt ly nước táo ở trên
chiếc bàn giữa thiền phòng. Bé Thanh Thủy ngủ rồi. Tôi
mời ông bạn cùng ngồi yên, thật yên, như ly nước táo.
GIÒNG
SÔNG TÂM TƯỞNG
Chúng
tôi mới ngồi được chừng bốn mươi phút. Tôi thấy ông
bạn đang mỉm cười nhìn ly nước táo. Ly nước táo đã lắng
trong rồi. Bạn đã lắng trong chưa? Dù chưa được như ly
nước táo, nhưng bạn cũng đã thấy thân tâm bạn lắng trong
được một phần nào rồi chứ? Nụ cuời chưa tắt trên môi
bạn. Hình như bạn ngờ rằng bạn sẽ không thể nào đạt
đến sự lắng trong của ly nước táo dù bạn cố gắng ngôì
thêm một vài giờ đồng hồ nưã.
Ly
nước táo có một chân lý rất bằng, rất vững. Còn bạn,
bạn chưa có một thế ngồi thật vững chãi. Trong khi những
cái xác táo nhỏ tuyệt đối vâng theo luật tự nhiên mà từ
từ để mình rơi nhẹ xuống đáy ly thì tư tưởng của bạn
lại như một đàn ong bay loạn xạ lên, không vâng theo một
mệnh lệnh nào cả để lắng xuống. Đó, chính hai điều
đó đã gây cho bạn cảm tưởng là bạn sẽ không làm được
như ly nước táo.
Bạn
nói rằng con người là một sinh vật, có tư tưởng và cảm
giác, không giống như một ly nước táo. Tôi đồng ý với
bạn. Nhưng tôi biết rằng mình cũng có thễ làm như ly nước
táo, và hơn thế nữa, có thể làm hay hơn ly nước táo: bạn
có thể đạt tới tình trạng lắng trong không những trong
tư thế ngồi mà còn trong những tư thế đi, đứng và làm
việc nữa.
Bạn
có thể không tin. Bởi vì trong bốn mươi lăm phút vừa qua
bạn thấy bạn đã cố gắng khá nhiều mà không đạt tới
sự an tĩnh mong đợi. Bé Thanh Thủy đang ngủ an lành, hơi
thở của bé rất nhẹ. Chúng ta thắp thêm một ngọn bạch
lạp nữa cho sáng đi, rồi hãy tiếp tục câu chuyện.
Bé
Thanh Thủy ngủ an lành như thế mà không hề cố gắng. Bạn
có nhớ là mỗi khi không ngủ được mà ta “cố-gắng”
ngủ, thì ta lại càng không ngủ được, có phải không? Bạn
đã cố gắng để được yên tĩnh, và vì vậy, bạn cảm
thấy có một sự chống cự bên trong. Nhiều người ban đầu
tập ngồi thiền cũng cảm thấy sự “chống cự” đó, càng
muốn yên thì càng nhiều tạp niệm. Họ cho đó là bị “ma”
phá, hoặc bị cái “nghiệp nặng” tích lũy từ ngàn kiếp
của họ phá. Không phải vậy đâu. Cái sức chống cự ấy
sở dỉ có là do sự cố gắng của ta, và sự cố gắng ấy
đã trở nên một sức đàn áp. Tư tưởng và cảm giác ta
xuôi đi như một dòng sông. Ta chận dòng sông là ta tạo nên
sức chống cự của nước. Tốt hơn hết là ta nên đi theo
dòng sông. Ta lại có thể hướng dòng sông đi theo những ngõ
ngách mà ta mong muốn, nhưng nhất định là ta không nên chận
đường của nó.
Dòng
sông thì phải chảy. Được rồi nhé, chúng ta đi theo dòng
sông. Bất cứ một con nước nào sát nhập và dòng sông là
ta phải biết. Tất cả những tư tưởng và cảm giác nào
có mặt trong ta là ta biết. Ta ý thức được sự phát sinh,
tồn tại và hoại diệt của từng tư tưởng, từng cảm giác
và từng cảm xúc. Bạn thấy không, sức “chống cự” đã
biến mất. Dòng sông tâm tư bây giờ vẫn trôi chảy như trước,
nhưng không phải trong bóng tối mà dưới ánh sáng mặt trời
ý thức. Giữ cho mặt trời ý thức ấy sáng tỏ để soi rõ
từng con nước, từng bờ cỏ, từng khúc quanh của dòng sông,
ấy là thực hiện thiền quán, tức là “ngồi” thiền. Thiền
trước hết là theo dõi và quán sát.
Bây
giờ đây ta có cảm tưởng là ta đã làm chủ được tình
hình, dù dòng sông còn đó và tiếp tục trôi chảy. Ta cảm
thấy an tĩnh. Nhưng đây không phải là cái an tĩnh của ly
nước táo. Sự an tĩnh của tâm tư không phải là sự chết
cứng hay hóa đá của mọi tư tưởng và cảm giác. Cũng không
phải là sự hoại diệt của tư tưởng và cảm giác; nói
một cách khác hơn, sự an tĩnh của tâm tư không phải là
sự vắng mặt của tâm tư.
Cố
nhiên tâm không phải chỉ gồm có tư tưởng và cảm giác.
Những hiện tượng như giận ghét, hổ thẹn, tin tưởng, nghi
ngờ, ao ước, chán bỏ, buồn rầu, thắc mắc, nôn nao v..v…
đều là tâm. Những cái mà ta gọi là hoài vọng, ẩn ức,
linh tính, bản năng, vô thức và tiềm thức cũng đều là
tâm. Duy Thức Học trong Phật học nói đến tám vua tâm (tâm
vương) và năm mươi mốt tùy tùng của tâm (tâm sở), nếu
có chút thì giờ bạn nên xem qua cho biết. Mọi hiện tượng
tâm lý đều được bao hàm trong các tâm vương sở ấy.
NẮNG
VÀ LÁ CÂY XANH
Người
tập thiền thường nghĩ rằng phải làm bặt tăm (im lặng)
hết mọi tư tưởng và cảm giác (mà người ta gọi là vọng
tâm) để làm điều kiện thuận lợi cho định tuệ xuất
hiện (tức là chân tâm) xuất hiện. Nghĩ như vậy cho nên
mới tìm áp dụng những thủ thuật như các phép chỉ quán
và sổ tức quán để ngăn chận tạp niệm và vọng tưởng.
Chỉ quán và số tức quán là những phép tu rất hay nhưng
không nên đem dùng với mục đích là đàn áp tạp niệm và
vọng tưởng. Như ta đã biết, hễ có đàn áp là có sự phản
kháng. Vọng tâm và chân tâm là một, bỏ vọng tâm thì mất
chân tâm. Đàn áp vọng tâm cũng là đàn áp chân tâm. Tâm
của ta không thể đàn áp. Tâm của ta chính là ta. Ta phải
đối xử với ta một cách kính trọng, hòa nhã và tuyệt đối
bất bạo động. Ta nào đã biết mặt mũi của tâm ta ra sao
mà bảo nó là chân hay vọng mà đàn áp với không đàn áp.
Điều duy nhứt mà ta có thể làm là ta đốt lên một mặt
trời ý thức. Để soi rõ tâm. Để nhìn mặt tâm.
Tâm
không phải chỉ là những hiện tượng tâm lý như nhận thức,
cảm xúc, tư tưởng mà ta thấy xuất hiện trong ta. Những
nhận thức, cảm xúc và tư tưởng ấy chỉ là một phần
của tâm, như hoa lá làmột phần của cây, như sóng nước
là một phần của dòng sông. Hoa lá chỉ là biểu hiện tất
nhiên của cây cũng như sóng nước chỉ là biểu hiện tất
nhiên của những con nước cuồn cuộn trong lòng sông. Đàn
áp chúng không có lợi ích gì cả, mà đàn áp cũng không được.
Hãy chỉ quán sát chúng. Chính nhờ có chúng mà ta sẽ thấy
được và tìm về được gốc của chúng, nghĩa là của ta.
Mặt
trời quán niệm cũng được ta lấy từ trong lòng của Tâm
ra để chiếu sáng lại Tâm. Nó soi tỏ không những mọi tư
tưởng và cảm giác có mặt mà còn tự soi tỏ lấy mình nữa.
Tôi
trở lại câu chuyện về sự an tĩnh của ly nước táo. Dòng
sông tâm tưởng của ta còn trôi chảy đó, nhưng vì mặt trời
ý thức đã lên và đang chiếu dọi xuống cho nên nó trôi
hiền hòa và do đó ta có sự an tĩnh. Sự liên hệ giữa dòng
sông tâm lý và mặt trời vật lý không giống sự liên hệ
giữa dòng sông vật lý với mặt trời vật lý. Dù đang nửa
đêm hay giữa trưa đứng bóng, sông Đồng Nai vẫn là sông
Đồng Nai, trôi chảy như nhau. Như khi mặt trời ý thức lên,
dòng sông tâm tưởng thay đổi một cách lạ kỳ bởi vì nó
cùng một bản chất tâm như là mặt trời ý thức. Bạn thử
nghĩ đến liên hệ giữa màu lá cây với ánh sáng mặt trời,
hai thứ cùng một bản chất. Bây giờ là nửa đêm, ánh sáng
sao trăng chỉ cho phép ta thấy được hình dạng của những
bụi cây và khóm lá ngoài sân. Nhưng nếu mặt trời mọc lên,
chiếu rạng, thì tự khắc ta thấy màu sắc trên lá cây biến
đổi hẳn. Cái màu lá xanh mơn mởn của tháng tư ấy sở
dĩ có ra cũng là nhờ vừng mặt trời kia. Có một hôm ngồi
trong rừng tôi viết nhại theo Tâm Kinh Bát Nhã:
Nắng là lá cây xanh
Lá cây xanh là Nắng
Nắng chẳng khác lá xanh
Lá xanh chẳng khác nắng
Bao nhiêu mầu sắc kia
Cũng đều như vậy cả. (1)
Có
mặt trời ý thức thắp lên thì đã có sự thay đổi lớn
rồi. Ngồi thiền là để thắp mặt trời cho dễ, để nhìn
cho rõ. Ta thấy như khi ta quán niệm ta có đến hai tâm: một
dòng sông tư tưởng và cảm giác trôi chảy và một mặt trời
quán niệm soi sáng. Tâm nào là của ta, tâm nào chân, tâm nào
vọng, tâm nào chính, tâm nào tà? Hãy thong thả thưa bạn.
Hãy buông lưỡi kiếm khái niệm xuống, đừng vội chém tâm
bạn làm hai. Cả hai đều là tâm. Không bên nào chân,
không bên nào vọng. Nếu vọng là vọng hết, nếu chân là
chân hết.
Ta
đã biết rằng ánh sáng với màu sắc không phải là hai thì
dòng sông tâm và mặt trời tâm cũng vậy, không phải là hai.
Bạn ngồi lại với tôi đi, miệng giữ nụ cười hàm tiếu,
thắp mặt trời của bạn lên và nếu cần thì nhắm mắt
lại để nhìn tâm cho rõ. Mặt trời quán chiếu của bạn
cũng chỉ làmột con nước trong các con nước khác của dòng
sông tâm, có phải không? Nó cũng chịu luật sinh diệt như
mọi hiện tượng tâm lý khác. Muốn quan sát những đối tượng
dưới kính hiển vi, nhà bác học phải chiếu ánh sáng vào
các đối tượng quán sát. Muốn quán niệm tâm cũng vậy,
bạn phải thắp mặt trời ý thức lên. Mặt trời ý thức
ấy nhà Phật gọi là chánh niệm. Vừa rồi tôi có khuyên
bạn buông thanh kiếm khái niệm xuống, đừng chém tâm ra làm
hai. Thật ra dù bạn có muốn chém tâm bạn ra làm hai, bạn
cũng không chém được. Bạn nghĩ bạn có thể tách rời ánh
sáng mặt trời và mầu xanh của lá cây không? Nếu không thì
bạn cũng không thể tách rời tâm năng quán và tâm sở quán
(l’ esprit observateur et l’esprit observé) được. Khi mặt trời
quán chiếu có mặt, tự thân của các tư tưởng và cảm giác
biến đổi hẳn. Cũng như mầu xanh trên lá cây, chúng mang
màu sắc quán chiếu của mặt trời chánh niệm, chúng trở
thành một với tâm năng quán. Một mà vẫn là khác, bạn đừng
từ cái lưới hai mà nhảy vào cái lưới một một cách vội
vã. Chính cái mặt trời quán niệm kia, có mặt trong thời
gian, cũng là đối tượng của chính nó, cũng như cây đèn
tự soi sáng mình. “Tôi biết là tôi biết”. “Tôi có ý
thức là tôi đang có ý thức…” Khi mà bạn khởi niệm:
“Mặt trời quán niệm đã tắt mất trong tôi” thì đồng
thời mặt trời ấy được thắp lại với một tốc độ
mau hơn cả tốc độ ánh sáng.
BÓNG
TỐI THÀNH ÁNH SÁNG
Bạn
hãy quán sát những biến chuyển của tâm dưới ánh sáng quán
niệm. Ngay hơi thở của bạn cũng đã biến đổi rồi và
cũng trở thành không hai (‘bất nhị’ – tôi không muốn
dùng từ ngữ một) đối với tâm năng quán. Các tư tưởng
và cảm giác cũng vậy. Tự thân chúng và tác dụng của chúng
dưới ánh sáng quán niệm tự nhiên biến đổi hẳn đi, liên
đới với tâm năng quán, dù bạn không có chủ ý phê phán
hay đàn áp chúng. Có khi nào bạn bực bội và nỗi bực bội
có thể kéo dài đến năm bảy phút không? Bạn hãy thử ngôì
yên, theo dõi hơi thở bạn, mỉm một nụ cười hàm tiếu
và “thắp” ý thức lên trên nỗi bực bội của bạn. Đừng
có phê phán và đàn áp nỗi bực bội đó, vì nó là chính
bạn. Nỗi bực bội đó có nguyên nhân, nó phát sinh, trưởng
thành rồi tiềm phục hoặc tiêu diệt. Bạn hãy khoan đi tìm
nguyên nhân nó và đừng chủ ý làm tiêu tán nó: hãy thắp
đèn lên trên đó mà thôi. Bạn sẽ nhận thấy nó biến từ
từ, liên hệ với tâm năng quán, và hoà hợp với tâm năng
quán. Bất cứ một hiện tượng tâm lý nào đặt dưới tâm
năng quán đều biến chuyển và mang mầu sắc của tâm năng
quán. Cũng như nhà vật lý học nói bất cứ vật thể cực
vi nào khi bị quán sát cũng bị chi phối và mang mầu sắc
của người quán sát.
Trong
suốt thời gian ngồi thiền, bạn nuôi cho mặt trơì chánh
niệm có mặt thường trực. Như mặt trời vật lý soi sáng
mỗi lá cây ngọn cỏ, chánh niệm cũng soi tỏ mọi dòng suy
tư và cảm giác. Soi tỏ để nhận diện, để biết sự phát
sinh, tồn tại và hủy diệt của chúng, chứ không phải để
phán xét, đánh giá, mời mọc hay xua đuổi. Điều cần
nói ở đây là bạn đừng cho mặt trời chánh niệm là “phe
chánh” đem tới dàn áp “phe tà” là các tạp niệm.
Đừng biến tâm bạn là một bãi chiến trường; đừng tạo
cảnh “cốt nhục tương tàn”, bởi vì tất cả những vui
buồn giận ghét kia đều là bạn. Chánh niệm xuất hiện như
một người anh, một người chị từ hoà để nâng đỡ và
soi sáng. Chánh niệm là một sự có mặt từ hoà, sáng suốt,
không kỳ thị, tuyệt đối bất bạo động. Nhận diện và
phân biết thì có, nhưng xếp loại chánh và tà để làm thế
trận thì không. Người ta thường nói sự xung đột giữa
chánh và tà như là sự xung đột giữa ánh sáng và bóng tối.
Hãy nhìn một cách khác: bóng tối không chạy đi đâu cả,
bóng tối không tan biến đi đâu cả, bóng tối chỉ hòa hợp
với ánh sáng, bóng tối trở thành ánh sáng.
Vừa
rồi tôi có nhớ là mời ông khách nở một nụ cười hàm
tiếu trên môi. Ngồi thiền không phải là đánh một trận
giặc. Ngồi thiền chỉ là quán sát. Nụ cười của bạn là
để chứng tỏ điều ấy. Nó cũng chứng tỏ thái độ từ
hòa của bạn đối với chính bạn. Nó cũng chứng tỏ sự
có mặt của mặt trời quán niệm trong bạn. Có nó tức là
bạn có chủ quyền đối với tình hình. Nói một cách khác
hơn nữa, có nó thì bạn là bạn và bạn đạt tới một mức
độ an lạc nào đó. Chính sự an lạc đó làm cho bạn tươi
mát, và làm cho một đứa bé muốn tới ngồi gần bạn.
MỘT
BÀI THƠ CHO BẠN CÀI NÚT ÁO
Nhưng
không phải là khi ngồi xuống ta mới có an lạc. Như tôi đã
nói: ta có thể làm hơn ly nước táo ở chổ ta có thể làm
cho ta tự lắng trong, không những trong tư thế ngồi mà còng
trong các tư thế đi, đứng, nằm, và làm việc nữa. Ai cấm
không cho bạn thắp mặt trời quán niệm lên khi bạn đang
đi bách bộ, hoặc khi bạn đang pha một bình trà, giặt một
cái áo? Ngày tôi mới vào làm thiền sinh ở chùa Từ Hiếu,
tôi được dạy thực tập quán niệm trong khi làm cỏ ngoài
vườn sân, quét lá quanh bờ hồ và rửa chén bát ở nhà bếp.
Tôi quán niệm theo phương pháp của thiền sư Độc Thể trong
cuốn sách Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu. Sách này dạy ta phải
ý thức về mọi động tác của cơ thể ta: thức dậy thì
biết thức dậy, cài nút áo thì biết cài nút áo, rửa tay
thì biết rửa tay. Thiền sinh lại còn làm những bài thơ nhỏ
để ta thầm đọc khi ta rửa tay hoặc cài nút áo nữa, với
mục đích giúp ta sống vững trãi trong chánh niệm. Đây
là bài thơ để cho bạn cài áo:
Chỉnh y thức đới
Đương nguyện chúng sanh
Phục thắng thiện căn
Bất linh tán thất!
(giải này buộc, nút này gài
thiện tâm gìn giữ đêm ngày chẳng rơi)
Như
vậy mặt trời quán niệm không những soi tâm mà còn soi thân
nữa. Mọi tư thế và động tác của cơ thể cũng cần được
đặt dưới sự soi sáng của ý thức. Hồi bé tôi thường
nghe mẹ tôi dạy chị tôi: con gái làm cái gì cũng phải có
ý có tứ. Hồi đó tôi mừng, tự nhủ rằng con trai thì không
cần phải có ý tứ nhiều như con gái. Ai ngờ khi vào học
thiền, tôi bị các thầy bắt “có ý tứ” nhiều hơn chị
tôi hồi đó gấp bội. Không phải có ý tứ trong mọi động
tác mà còn phải có ý tứ trong mọi “ý” và mọi “tứ”
nữa.
Mẹ
tôi cũng như các bà mẹ khác, biết rằng ý tứ làm cho một
cô gái đẹp thêm lên. Nhờ có ý tứ mà cô không còn hấp
tấp, vụt chạc và vụng về. Cô trở nên khoan thai, dịu dàng
và duyên dáng. Mẹ tôi, như thế, cũng đã dạy thiền mà bà
không biết.
Ngươì
tu thiền, theo nguyên tắt trên, là phải đẹp. Nhìn vào
một thiền sinh, quán sát thiền sinh ấy khi chú thỉnh chuông,
quét sân, đặt bàn v..v… một thiền sư có thể đoán định
thời gian hành đạo của thiền sinh. Oâng thấy được
chất thiền nhiều hay ít trong tác phong và nhân cách của chú.
Cái chất thiền ấy là kết qủa của sự thực tập quán
niệm. Oâng gọi đó là thiền vị.
BA
GIỜ ĐỒNG HỒ CHO MỘT ẤM TRÀ
Cái
bí quyết của thiền là sống ý thức trong từng giây phút
của sự sống, giữ cho mặt trời ý thức sáng tỏ, chiếu
dọi trên tất cả những gì xảy đến về phương diện tâm
lý cũng như về phương diện cơ thể và hoàn cảnh. Trong
khi ta uống một bình trà, tâm ta phải có mặt với ta trong
sự uống trà. Uống trà là một trong những niềm vui
mà ta có hàng ngày; ta phải sống trọn niềm vui ấy.
Bạn để ra được bao nhiêu phút để uống trà? Tôi
nghĩ tới những tiệm cà phê ở Đông Kinh hoặc Nữu Ước,
nơi đó người ta ngồi, gọi một tách trà, uống vội vã
rồi trả tiền để còn đi làm “công chuyện”. Vài
ba phút là cùng. Trong phòng trà, thường là có âm nhạc.
Tai nghe âm nhạc ấy, mắt nhìn những người uống trà khác
cũng vội vã giống như mình, trí óc nghĩ tới những chuyện
phải làm sau tách trà. Một tách trà như vậy, không xứng
đáng là một tách trà. Bạn đã được pha trà hầu hai
vị thiền sư đối ẩm chưa? Hoặc bạn đã được dự
một trà lễ chưa? Người ta ngồi với nhau từ hai tới
ba giờ đồng hồ để uống một ấm trà. Mà không phải
là người ta dùng thì giờ đó để trò chuyện đâu.
Chỉ để uống trà và ngồi bên nhau mà thôi đấy. Chúng
ta có thể đồng ý hay không đồng ý rằng những người này
chỉ biết ham chơi, không biết lo đến nền độc lập chính
trị và kinh tế quốc gia. Nhưng chúng ta phải công nhận
rằng họ là những người biết uống trà bên một người
bạn thân.
Mỗi
ngày mà để ra ba giờ đồng hồ để uống trà, tôi thú thật
là, cũng như bạn, tôi thấy hơi nhiều. Còn nhiều chuyện
khác nữa để làm. Như là trồng rau, giặc áo, rửa bát,
đóng sách, viết văn. Những chuyện đó có thể không
dễ chịu bằng chuyện uống trà, ngồi thiền hoặc đi bách
bộ trên đồi. Nhưng nếu ta biết làm trong quán niệm
thì chúng không còn là khó chịu nữa. Hãy lấy ví
dụ về việc rửa bát, mà nhiều người cho là một việc
không dễ chịu, nhất là sau khi mới ăn xong và ăn hơi no.
THÌ GIỜ ĐỂ TẮM MỘT ĐỨC PHẬT SƠ SINH
Tôi
thấy cái việc rửa bát chỉ có thể là khó chịu khi ta không
rửa bát hoặc chưa rửa bát thôi, chứ khi đã đứng lên và
xăn hai ống tay áo rồi thì việc rửa bát trở nên dễ chịu.
Tôi ưa rửa thong thả từng cái bát, lấy ý thức quán chiếu
từng cái bát và từng cử động của tay. Tôi biết rằng
nếu tôi hối hả rửa cho xong chồng chén bát để mà đi uống
trà thì như vậy thời gian rửa bát là thời gian khó chịu,
không đáng cho ta sống. Và như thế thật đáng tiếc.
Đời sống mầu nhiệm trong từng giây phút, biết vậy nên
tôi thắp mặt trời ý thức của tôi lên chạn chén bát.
Sự kiện tôi đang đứng đây và rửa những chén bát này
là một sự kiện mầu nhiệm. Câu này tôi đã viết một
lần trong cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Mỗi cái
bát tôi rửa cũng như mỗi câu thơ tôi làm, cũng như mỗi
tiếng chuông tôi thỉnh. Một hôm trong khi rửa bát, tôi
có cảm tưởng rằng cử chỉ của tôi khi rửa cái bát cũng
trịnh trọng và thiêng liêng như thể cử chỉ tôi tắm cho
một đức Phật sơ sinh. Đức Phật sơ sinh nghe tôi nói
như thế chắc là mừng cho tôi và không trách tôi đã dám
so sánh ngài với một cái bát. Mỗi tư tưởng mỗi động
tác đặc dưới ánh sáng quán niệm đều trở thành một nghi
lễ. Mặt trời thiền quán thắp lên thì không còn ranh
giới giữa sự thiêng liêng và trần tục nữa. Tôi rửa
bát có chậm hơn người khác thật đấy, nhưng tôi được
sống trọn vẹn trong thời gian rửa bát, và tôi rất bằng
lòng về điểm đó. Rửa bát vừa là phương tiện vừa
là cứu cánh, nghĩa là rửa bát để vừa có bát sạch vừa
sống trọn vẹn trong thời gian rửa bát.
Nếu
không có khả năng sống an lạc trong khi rửa bát mà cứ mong
rửa bát cho mau xong để ngồi uống trà thì đến khi uống
trà ta cũng sẽ không có khả năng uống trà. Nâng tách
trà lên, ta sẽ nghĩ đến những chuyện khác và vì vậy, hương
vị trà và thời gian thoải mái của tách trà cũng sẽ biến
mất. Ta sẽ luôn bị hút vào trong vị lai mà chẳng còn
khả năng sống trong hiện tại.
NUÔI
DƯỠNG CHÁNH NIỆM TRONG NHỮNG LÚC LÀM VIỆC
Công
việc hàng ngày gọi là để “sinh sống’ của ta, ta cũng
có thể làm như ta rửa bát. Tại Phương Vân Am tôi
có nghề đóng sách. Tôi dùng một bàn chải đánh
răng, một cái đũa, một cái bánh xe lăn và một viên gạch
réfractaire khá nặng chừng hai ký, và tôi có thể đóng và
vào bìa mõi ngày hàng trăm cuốn sách. Nhưng trước khi
đóng sách, tôi còn phải “lượm sách” nghĩa là phải thâu
những tờ sách rồi gom lại theo thứ tự các trang để làm
thành một tập. Những trang này tôi sắp trên một cái
bàn thật dài, và hễ đi một vòng quanh bàn thì tôi lượm
đủ số trang cho một cuốn sách. Tôi biết là tôi đang
đi quanh, và không có gì đợi tôi phía trước, cho nên
tôi đi chậm thôi, và lượm từng tờ sách thong thả trong
quán niệm. Tôi vừa làm vừa thở những hơi thở nhẹ
nhàng, hơi dài và có ý thức. Tôi có an lạc trong khi
lượm sách, đóng sách và vào bìa sách. Nếu thi đóng
sách với những người thợ khác hoặc với máy đóng sách
thì tôi thua, bởi vì tôi đóng được ít sách hơn. Nhưng
có một điều tôi biết chắc là tôi không chán ghét chuyện
đóng sách. Mình tiêu xài nhiều thì mình phải làm
việc cho nhiều và cho nhanh. Nếu mình sống đơn giản
thì mình có thể làm ít và làm chậm trong quán niệm.
Tôi biết có rất nhiều người trẻ tuổi ưa làm việc ít
thôi, mỗi ngày chừng bốn giờ, với số lương nhỏ có thể
sống đơn giản nhưng hạnh phúc. Biết đâu đây chẳng
là con đường khai thông cho tình trạnh bế tắc của xã hội
ngày nay? Bỏ bớt sự sản xuất những hóa phẩm không
thiết yếu, san sẻ việc làm cho những người chưa có việc
làm, sống đơn giản nhưng có hạnh phúc. Đã có những
cá nhân và những cộng đồng chứng minh được khả năng
sống đơn giản mà hạnh phúc rồi, điều đó há không phải
là một dấu hiệu đáng mừng hay sao?
Bạn
hỏi tôi: trong khi rửa bát, làm vườn, đóng sách hoặc làm
việc trong các xưởng các hãng, làm thế nào để nuôi dưỡng
chánh niệm? Tôi nghĩ là bạn phải tìm ra câu trả
lời cho chính bạn. Bạn làm thế nào mà mặt trời chánh
niệm sáng mãi trong bạn thì làm. Bạn có thể sáng tạo
ra những phương thức thích hợp với bạn. Hoặc gỉa
bạn áp dụng thử một vài phương thức mà người khác đã
làm. Ví dụ bạn làm những bài thơ “cài nút áo” theo
lối thiền sư Độc Thể. Bạn cười ư? Hoặc bạn
theo dõi hơi thở của bạn. Bạn nuôi chánh niệm bằng
hơi thở ra và hơi thở vào, thở đến đâu thì bạn biết
đến đấy. Tư tưởng nào hoặc cảm thọ nào phát khơỉ
bạn cũng cho xuôi dòng theo hơi thở. Bạn nên thở thật
nhẹ và hơi thở dài hơn lúc bình thường một tý. Một
tý thôi, đủ để chứng minh là bạn thực sự đang theo dõi
hơi thở.
NỤ
CƯỜI ĐÁNG GIÁ NGÀN VÀNG
Theo
hơi thở, bạn nuôi dưỡng chánh niệm được lâu lắm.
Bạn thành công rồi phải không? Vậy thì bạn hãy mỉm một
nụ cười. Nụ cười hàm tiếu. Để chứng tỏ
bạn thành công. Và giữ mãi nụ cười ấy trên môi đi,
như một đức Phật vậy. Nhìn thậy nụ cười, tôi biết
ngay là bạn đang an trú trong chánh niệm.
Cái
nụ cười hàm tiếu ấy, nhiều nghệ sĩ đã từng ngày đêm
hết công phu để thể hiện trên các tượng Phật. Bạn
đã từng thấy nụ cười ấy trên nghệ thuật Gandhara hoặc
trên nghệ thuật Đế Thiên Đế chưa? Tôi chắc rằng
trong khi thực hiện nụ cười đó trên mặt một tượng Phật,
các điêu khắc gia cũng đang duy trì nụ cười đó trên mặt
mình. Bạn có thể tưởng tượng được một điêu khắc
gia nét mặt cau có đang thực hiện nụ cười hàm tiếu trên
môi Phật không? Chắc là không! Tôi có quen biết
điêu khắc gia đã thực hiện pho tượng Nhập Niết Bàn trên
núi Trà Cú ở Phan Thiết. Trong suốt sáu tháng trời thực
hiện pho tượng này, ông ăn chay, ngồi thiền và đọc kinh
Đại Niết Bàn.
Trên
khuôn mặt nàng Mona Lisa, Leonard Da Vinci có đề một nụ cười
thật nhẹ, nhẹ đến nỗi không hẳn là một nụ cười mà
là một sự dợm cười (khuynh hướng muốn cười!) Tuy
nhiên một nụ cười như thế cũng đủ làm khoan thư hết
cả những bắp thịt trên mặt và làm tiêu tán hết những
lo lắng cau có và mệt nhọc trong người. Nụ cười hàm
tiếu của người hành thiền ngoài tác dụng nuôi dưỡng chánh
niệm cũng có tác dụng khoan thư mầu nhiệm đó. Nó trả
lại cho ta sự an lạc mà ta đã đánh mất.
Trong
lúc đi bách bộ trên đồi, nơi công viên hay dọc bờ sông,
bạn có thể vừa theo dõi hơi thở vừa duy trì nụ cười
hàm tiếu. Vào những lúc cảm thấy mệt mỏi hoặc cau
có, bạn có thể nằm duỗi dài hai chân hai tay, buông thả
và khoan thư hết tất cả thân tâm, tất cả các bắp thịt,
chỉ duy trì hơi thở và nụ cười. Buông thả trong tư
thế nằm này là một phương cách phục hồi sinh lực rất
thần hiệu và nhanh chóng. Nếu bạn không thực hành mỗi
ngày ít ra là vài ba lần thì thật là uổng cho bạn.
Nuôi chánh niệm, theo dõi hơi thở và duy trì nụ cười, đó
là những hạnh phúc bạn tự ban cho mình và phân phát cho người
xung quanh bạn. Bạn có thể xuất nhiều tiền để mua
nhiều món qùa cho từng người trong gia đình bạn. Nhưng
không món qùa nào đem lại nhiều hạnh phúc cho họ bằng chánh
niệm, hơi thở và nụ cười của bạn. Qúy giá lắm,
mà lại không mất tiền mua!
THỞ
CÙNG MỘT NHỊP
Có
người tâm trí loạn động hơi nhiều muốn duy trì chánh niệm
đã dùng phép đếm hơi thở thay vì phép theo dõi hơi thở.
Trong thời gian thở ra rồi thở vào, người ấy đếm “một”.
Duy trì ý niệm “một” đừng để rơi mất. Tiếp đến,
đếm “hai” trong hơi thở ra và hơi thở vào thứ hai.
Đếm đến mười thì trở lại đếm một. Nếu từ một
đến mười mà mất chánh niệm thì bắt đầu đếm “một”
trở lại. Khi tâm an định rồi thì bỏ đếm để mà
theo dõi hơi thở.
Bạn
đã từng phát cỏ bằng cái phảng (faux) chưa? Cách đây
năm sáu năm tôi có mua về một cái phảng và loay hoay tự
tìm cách phát cỏ. Mãi đến một tuần lễ sau tôi mới
tìm ra được cách xử dụng dung mức. Thế đứng, cách
cầm phảng và đị bàn của lưỡi phảng cố nhiên là quan
trọng rồi. Nhưng để cho lâu mệt, tôi phối hợp cử
động của hai tay với hơi thở. Nếu tôi phát thong thả
theo nhịp thở, vừa làm vừa quán niệm thì tôi làm được
khá lâu. Nếu không, chỉ trong vòng mười phút là tôi
đã mệt. Sau đó, tôi có tiếp một ông cụ hàng xóm
người gốc Ý và mời ông ta phát một vài đường để tôi
quán sát. Oâng phát khéo hơn tôi, nhưng đại khái cũng
áp dụng thế đứng đó và cử động đó. Điều làm
cho tôi ngạc nhiên nhất là ông cũng phối hợp hơi thở và
cử động. Từ đó, thấy người nông dân nào trong vùng
phát cỏ là tôi có cảm tưởng người ấy đang thực tập
quán niệm.
Trước
khi mua cái phảng, tôi cũng đã xử dụng những dụng cụ như
cuốc, xẻng, cào v..v… theo kiểu phối hợp cử động với
hơi thở. Tôi thấy chỉ những khi phải làm những việc
nặng như khuân vác hoặc đẩy xe, thì mới khó duy trì chánh
niệm mà thôi. Ngoài ra, xới đất, vun luống, làm cỏ,
gieo hạt, bỏ phân, tưới nước v..v… những việc đó tôi
có thể làm thong thả trong quán niệm. Những năm gần
đây tôi không bao giờ để cho thân thể tôi mệt đến nỗi
tôi phải thở hào hển. Tôi nghĩ là tôi không có quyền
“đày ải” thân thể tôi: tôi phải đối xử với nó một
cách trân trọng như người nhạc sĩ giữ gìn cây đàn của
ông ta. Tôi áp dụng một chính sách” bất bạo động”
với thân thể tôi. Nó không phải chỉ là “dụng cụ
hành đạo”, nó chính là “đạo”. Nó không phải chỉ
là “đền thờ thánh”, nó còn là “thánh”.
Những
dụng cụ làm vườn và đóng sách của tôi, tôi cũng yêu qúy
và kính trọng chúng lắm. Khi tôi xử dụng chúng theo
nhịp thở của tôi, tôi có cảm tưởng rằng chúng tôi đang
thở cùng một nhịp.
BÀI
THƠ VÀ CÂY TÍA TÔ
Công
việc ban ngày của bạn là công việc gì, tôi chưa biết, nhưng
tôi biết rằng có những công việc có thể đi đôi với quán
niệm dễ dàng hơn những việc khác.
Viết
văn là một trong những việc khó đi đôi với quán niệm,
dù tôi đã đạt đến chỗ viết xong câu nào là tôi “biết”
tôi đã viết xong câu đó. Còn trong khi viết câu đó
thì tôi vẫn còn hay quên. Cũng bởi vậy cho nên năm sáu
năm nay tôi ít viết trở lại và ưa làm việc tay chân hơn.
Có bạn bảo tôi: “Trồng cà chua và xà lách thì ai trồng
chả được, nhưng viết sách, viết truyện và làm thơ thì
không ai cũng làm được như thầy. Đừng phí thì giờ
vô ích.” Tôi có phí thì giờ đâu. Tôi đã nói là tôi
sống trong khi rửa bát, xới đất và phát cỏ rồi mà…
Trồng một cây tía tô, tôi thấy cũng đẹp như làm một bài
thơ và cũng vĩnh cữu như làm một bài thơ. Tôi nói thật
đấy. Tôi không thấy bài thơ hơn cây tía tô ở chổ
nào. Cây tía tô cũng cho tôi nhiều sung sướng như một
bài thơ. Đối với tôi, cây tía tô hoặc cây xà lách
cũng có tác dụng vĩnh cữu trong không gian và trong thời gian
ngang với một bài thơ. Tôi thấy năm 1964 khi lập nên
Viện Cao Đẳng Phật Học Sài Gòn tôi đã làm một lầm lỗi
lớn. Các sinh viên (trong đó có cả tăng ni trẻ tuổi) đến
đó chỉ học bằng sách vở, chữ nghĩa và khái niệm.
Rốt cuộc họ chỉ có một mớ kiến thức và một mớ chứng
chỉ hoặc bằng cấp. Ngày xưa khi được chấp nhận
vào thiền viện, người trẻ tuổi lập tức được đưa ra
vườn tập phát cỏ, gánh nước, trồng rau theo chánh niệm.
Cuốn sách đầu tiên người ta giao cho là tập thơ “cài nút
áo” của thiền sư Độc Thể. Để mà tập quán
niệm khi rửa tay, khi đi ngang qua dòng suối, khi lọc nước
uống. Sau này, thiền sinh có học kinh luận và có tham
dự những buổi đại tham và tiểu tham, nhưng mà những thứ
ấy luôn luôn được đặt trong khuôn khổ của sự thực hành.
Bây giờ nếu cần lập lại một viện Cao Đẳng Phật Học,
tôi sẽ mô phỏng theo cách tổ chức của thiền viện ngày
xưa. Nó phải là một thứ ashram, như là Shanti Niketan.
Hoặc như Phương Bối Am hay Communauté de l’ Arche. Tất
cả sinh viên đều phải nội trú, đều phải vận thủy bang
sài (gánh nước, chở củi), đều sống đời sống hàng ngày
dưới mặt trời quán niệm. Tôi chắc những truyền thống
tôn giáo lớn đều áp dụng phép tổ chức tương tợ
những trung tâm tu học.
TẠO
LẬP MỘT QUÊ HƯƠNG
Mỗi
người trong chúng ta nên “thuộc về” một trung tâm như
thế. Một khu tĩnh cư, một ngôi chùa, một nhà thờ,
hoặc một tu viện. Khu tĩnh cư đó, ta xem như là “chỗ
xuất phát” của ta. Một ‘Alma Master’ của đời sống
tâm linh. Ở đó, mỗi nét kiến trúc và mỗi cây cảnh
hay mỗi tiếng chuông đều có hiệu lực thức tỉnh và nuôi
dưỡng chính niệm nơi ta. Ở đây ta có quyền lâu lâu
trở về, sống dăm ba bữa nửa tháng trong khung cảnh thanh
tịnh để làm mới lại ta, để tái tạo sinh khí, để faire
le plein. Và những lúc không trở về được, ta chỉ cần
mỉm cười nghĩ tới nó là ta thấy mát mẻ an lạc. Một
nơi như thế cần được chủ trì bởi những người có nhân
cách mát mẻ và an lạc. Nghĩa là những người sống
thường trực trong chánh niệm. Những người này lúc
nào cũng có mặt đó để săn sóc ta, an ủi ta, chữa lành
những thương tích của ta. Cũng như con cháu mỗi năm
vào ngày kỵ giỗ của tổ tiên tìm về nhà người tộc trưởng,
mỗi người trong chúng ta cũng nên có một quê hương của
đời sống tinh thần mà tìm về.
Ngày
xưa vào khoảng năm 1957-1958, năm bảy chúng tôi đã dựng nên
Phương Bối Am ở rừng Đại Lão trên một khoảng đất rừng
hai mươi lăm mẫu. Chúng tôi đã tạo ra một quê hương
như thế. Sau này những đứa con của Phương Bối Am dù
ra làm nhà xuất bản Lá Bối, trường Thanh Niên Phụng Sự
Xã Hội, Phật Học Viện Huệ Nghiêm, Viện Cao Đẳng Phật
Học Saigon hay tu viện Thường Chiếu… cũng đều nhớ tới
Phương Bối như quê hương tâm linh của mình, để rồi mỗi
cơ sở mới lại trở thành một quê hương mới cho những
người trẻ tuổi. Những người trẻ đi ra đời làm
việc xã hội rất cần một nơi nương tựa như thế, cho nên
khi chiến tranh ngăn họ không cho trở về Phương Bối thì
họ đã hướng về Thường Chiếu và chuẩn bị Làng Hồng.
HÁT
CA TRONG CHÁNH NIỆM
Phần
nhiều trong chúng ta có một đời sống quá bận rộn.
Đứng về phương diện công việc làm ăn, có thể là công
việc ngày nay ít nặng nhọc bằng ngày xưa, nhưng tại sao
chúng ta lại có ít thì giờ cho chúng ta như thế? Có
người nói rằng họ không có thì giờ “dù là để
ăn và để thở”. Thật đấy. Làm thế nào bây
giờ? Còn cách nào hơn là trực tiếp giật lại thì
giờ của chính chúng ta? Thắp sáng ngọn đuốc chánh
niệm lên và bắt đầu học lại cách uống trà, cách ngồi
ăn cơm, cách rửa bát, cách đi bộ, cách ngồi, cách lái xe
hơi và cách làm việc hàng ngày. Đừng để hoàn cảnh
kéo ta đi theo như một dòng nước lũ kéo theo tất cả những
gì nằm trên lối đi qua của nó.
Được
soi sáng bởi chánh niệm, những động tác trong công việc
hàng ngày của ta trở nên có ý nghiã. Trong chánh niệm,
ta thấy có ta hiện hưũ mầu nhiệm trong đời sống mầu nhiệm
và ta không còn là một cái máy chỉ biết lặp đi lặp lại
những cử động của công việc hằng ngày. Những lúc
làm việc mà tâm trí vẩn vơ đầy tạp niệm, ta hãy hỏi
ta: “Ta đang làm gì đây? Và ta đang tiêu phí cuộc đời
ta vào những cái này để làm gì?” Hỏi như thế tức
là chánh niệm được thắp lên, hơi thở được theo dõi,
nụ cười nở trên môi và mỗi giây phút của công việc hằng
ngày trở nên linh động. Nếu muốn ca hát, bạn hãy ca
hát trong chánh niệm.
TỪ
MÊ SANG TỈNH
Một
ông giáo sư chính trị học hỏi tôi trong khi ngồi thiền thì
tôi “suy nghĩ gì”. Tôi trả lời là trong khi ngồi thiền
tôi không “suy nghĩ” mà chỉ chú tâm nhìn cho rõ mọi sự
việc đang xảy ra. Oâng có vẻ không tin, nhưng sự là
thế. Trong khi ngồi thiền, tôi ít vận dụng trí não
để lý luận và tìm cách tháo gỡ những câu hỏi hắc búa
như khi người ta tìm giải một phương trình toán học hay
là một câu đố mẹo. Cả khi tôi tham thán một thoại
đầu cũng vậy, tôi cũng chỉ để thoại đầu nằm đó để
quan sát nó mà thôi, chứ tôi không tìm cách giải thích nó,
cắt nghĩa nó, bởi vì tôi biết thoại đầu không phải là
một câu đó mẹo. Quan sát theo nghĩa chính niệm không
có nghĩa là phân tích. Nó chỉ có nghĩa là nhận diện
thường trực mà thôi. Suy nghĩ nhiều thì mới lao tâm,
chứ chánh niệm hoặc nhận diện thì không. Nghe nói tới
ngồi thiền, người ta tưởng là phải vận dụng “ chất
xám” dữ lắm; thực ra thì không phải. Thiền gia không
phải là tư tưởng gia. Thiền gia không “làm việc tinh
thần”. Trái lại, thiền có tác dụng dưỡng thần.
Từ
đầu câu chuyện đến giờ, tôi chưa mời ông bạn của tôi
vận dụng chất xám của ông ta để tìm tòi gì hết, tôi
chỉ mời ông đi xem, đi “nhận diện” sự việc với tôi
mà thôi. Sự chú ý trong công việc nhận diện không có
tác dụng tìm tòi và suy diễn mà chỉ là một sự chú ý đơn
thuần. Chánh niệm là một động cơ biến trạng thái
ngủ thành trạng thái thức. Nghĩ mà không biết là mình
nghĩ, cảm mà không biết mình cảm, giận mà không biết là
mình giận, đi mà không biết là mình đi, ngồi mà không biết
là mình ngồi… trạng thái đó là trạng thái mê ngủ.
Albert Camus, trong cuốn tiểu thuyết l’Etranger, gọi đó là
sống như một người chết (il vit comme un mort). Đó là
một căn phòng tối ám. Bật ngọn đèn chánh niệm lên,
đó là chuyển từ trạng thái mê sang trạng thái tỉnh.
Động từ budh trong phạn ngữ có nghĩa là tỉnh thức.
Danh từ Buđha có nghĩa là kẻ tỉnh thức. Vậy Phật
cũng chỉ là một người, nhưng là một người thường trực
có chánh niệm. Ta thỉnh thoảng cũng có chánh niệm, cho
nên “thỉnh thoảng” ta mới là Phật thôi.
NIỆM,
ĐỊNH VÀ HUỆ
Nguyên
chữ niệm(sati là tiếng Pali, smrti là tiếng Phạn) có nghĩa
là có ý thức. Ta có thể dịch là nhớ hay biết, nhưng
những từ này phải được dùng trong nghĩa đang nhớ rằng,
đang biết rằng. Ta đã từng nói tới niệm như là một
sự nhận diện, một sự chú ý đơn thuần (bare attention).
Nhưng niệm không phải chỉ có thế. Trong niệm còn có
yếu tố định (sự tập trung của tâm ý) và tuệ ( sự thấy
rõ của tâm ý) nữa. Định và tuệ làm nên cường độ
của niệm, và cũng là kết quả tất yếu của niệm.
Mỗi khi ta thắp lên ngọn đèn chánh niệm, tự nhiên ta thấy
có các hiện tượng tập trung và thấy rõ. Các danh từ
định và tuệ là những danh từ được dùng về phương diện
quả. Về phương diện nhân, người ta hay dùng những
danh từ chỉ và quán. Chỉ là sự làm cho dừng lại,
là cho tập trung lại, và quán là nhìn để thấy rõ.
Dừng lại thì tự nhiên thấy rõ. Dừng cái gì lại?
Dừng sự quên lãng, sự tán loạn và tình trạng mê muội
của tâm ý. Tình trạng này, danh từ duy thức học là
thất niệm tức là “mất chánh niệm”, tức là sự vắng
mặt của ý thức. Ta thấy rõ: dừng lại ở đây không
phải là một sự đàn áp mà là một sự chuyển quên thành
nhớ, chuyển thất niệm thành niệm.
BUNG
MỘT NỒI NGÔ
Thiền
tập không phải là những nổ lực phân tích và suy diễn.
Phương pháp Niệm Định Tuệ hoặc phương pháp Chỉ Quán không
phải là những phương pháp phân tich và suy diễn. Lưỡi
gươm phân tích và suy diễn ở đây không có chỗ sử dụng.
Khi ta bung một nồi ngô, ta tập trung lửa dưới đáy nồi,
một vài giờ đồng hồ sau thì các hạt ngô bung ra. Khi
mặt trời chiếu dọi xuống tuyết liên tiếp trong nhiều giờ
đồng hồ thì tuyết từ từ tan rã. Khi một con gà mái
ấp ủ lâu ngày những cái trứng của nó, thì những con gà
con thành hình và mổ vỡ vỏ trứng chui ra. Đó là những
hình ảnh có thể đem ra ví dụ cho tác dụng của thiền quán.
Mục
đích của thiền quán là để thấy được mặt mũi của thực
tại, thực tại này là tâm và đối tượng nhận thức của
tâm. Khi ta nói tâm và cảnh thì ta có ngay một quan niệm
nhị nguyên về vũ trụ, nhưng khi ta nói tâm và đối tượng
nhận thức của tâm thì ta đứng ở một bình diện khác và
tránh được phần nào sự tác hại của lưỡi guơm phân biệt
khái niệm. Tác dụng của thiền quán là tác dụng chiếu
rọi (mặt trời) nung nấu (lửa nấu bắp) và ấp ủ (hơi
nóng của gà mẹ). Trong cả ba trường hợp (nấu bắp,
soi tuyết và ấp trứng) không có nỗ lực phân tích suy diễn
mà chỉ có công phu tập trung bền bỉ. Ta chỉ có thể
làm cho thực tại hiển lộ mà không thể vẽ nên một bức
hình của thực tại bằng những đường nét do tâm trí ta
sáng tạo dù đó là toán học, hình học hay triết học.
KHÁN
MỘT THOẠI ĐẦU
Ai
nói rằng thực tại không thể miêu tả bằng khái niệm?
Chính là cái thấy (tuệ) của ta khi ta ngưng tụ tâm thần
để quan sát. Lưỡi gươm khái niệm nhiều khi chỉ có
thể băm thực tại thành những mảnh nhỏ rời rạc không
sinh khí. Các nhà khoa học nhiều khi đã đồng ý về
diểm này. Nhiều pháp minh khoa học lớn đã được thực
hiện như một trực giác: những lập luận để chứng minh
các phát minh kia không phải là những dụng cụ để khám phá
mà chỉ là những phương tiện để bênh vực. Những
phát minh này đến với khoa học gia vào những lúc bất ngờ
nhất, nghĩa là vào những lúc mà họ không suy nghĩ, lý luận
và phân tích. Những cái thấy này là do sức tập trung
(định) của tâm ý khoa học gia trong nhiều tháng năm liên
tiếp. Nếu không có sự thiết tha và chú tâm thầm lặng
và thường xuyên tới nghi án, kể cả những lúc đi đứng,
nằm, ngồi, ăn, ngủ, v..v… thì cái thấy kia không bao giờ
tới được. Các thiền giả ôm ấp một thoại đầu
cũng làm việc theo phương pháp ấy. Danh từ thiền học
là khán thoại đầu. Khán có nghĩa là nhìn.
Tất
cả những vấn đề của sự sống, từ những trạng thái
tình cảm như đam mê, thù hận, buồn khổ cho đến những
nghi vấn về tri thức như sinh, diệt, có, không v..v… đều
có thể đưa ra làm đối tượng của chánh niệm, của chỉ
quán.
CHÁNH
NIỆM VỪA LÀ NHÂN VỪA LÀ QỦA
Như
ta đã thấy, chánh niệm vừa là nhân vừa là qủa, vừa là
định vừa là tuệ, vừa là chỉ vừa là quán. Chánh
niệm vừa thắp lên, tâm đã được định và ta thấy được
tâm ta rõ hơn. Nhân và quả đồng thời, nhân và quả
không lìa nhau. Cũng như máy phát điện quay thì dòng điện
hiện hữu và bóng đèn bật sáng. Tuy vậy duy trì liên
tục chính niệm còn có công dụng tích lũy định tuệ, cũng
như khi máy điện chạy ta có thể tích lũy điện lực vào
một bình ắc quy. Đó là công phu. Trong giấc ngủ,
chánh niệm vẫn còn tác dụng, và công án tiếp tục được
“khán” một cách âm thầm. Có thiền giả thấy được
mình đang duy trì chánh niệm ngay cả trong giấc mơ. Vào
những thời gian thiền tập miên mật nhất thỉnh thoảng tôi
cũng thấy mình có chánh niệm trong giấc mơ.
SUY
TƯ VỀ CÁI KHÔNG THỂ SUY TƯ
Phương
pháp của khoa học từ trước đến nay là giới hạn đối
tượng khảo cứu và một phạm vi nhỏ để tiện khảo cứu.
Đối tượng càng nhỏ thì sự chú ý càng lớn. Nhưng
đến khi đi vào địa hạt những cực vi siêu nguyên tử (subatomic
particles) thì nhà khoa học khám phá ra rằng mỗi chất điểm
(particle) được tạo thành bởi tất cả các chất điểm khác
và tâm ý của nhà khoa học trong khi quán sát không còn là
một thực tại biệt lập với các vật quan sát. Trong
giới khoa học vật lý cực vi ngày nay có ý niệm bootstrap.
Ý niệm này nhận rằng vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi
và hiện hữu, những “vật” cực vi mà từ lâu ta lầm tưởng
là thực tế cơ bản của vật chất thực ra cũng nương nhau
mà có và chúng cũng không có thực thể riêng biệt. “Mỗi
chất điểm là do tất cả những chất điểm khác tạo thành”
(Chaque particule est faite de toutes les autres). Ý niệm này
không khác mấy với ý niệm “một là tất cả: của kinh
Hoa Nghiêm.”
Thực
tại đã là “tương sinh tương lập” như thế thì suy tư
thế nào được thực tướng của nó. Phái thiền Tà
Động căn dặn người tu thiền rằng chỉ nên quán chiếu
mà không nên suy tư. Phương châm của Phái Tào Động:
“Suy tư về cái không thể suy tư thì làm sao suy tư được?
Không suy tư, ấy là chỗ thiết yếu của thiền”.
Tôi
ưa danh từ quán chiếu, bởi nó hàm ý rọi ánh sáng vào mà
quán sát mà không cần suy diễn. Mặt trời chiếu dọ
hồi lâu trên một bông sen thì cánh sen xoè nở và làm cho
gương sen hiển lộ. Cũng như thế, dưới tác dụng của
quán chiếu, thực tại dần dần hiển lộ bản thân.
Tuy
vậy, trong thiền quán, chủ thể quán chiếu và đối tượng
quán chiếu không thể tách rời nhau. Đây là điểm khác
biệt căn bản xưa nay của thiền học và khoa học.
HẠT
MUỐI ĐI VÀO LÒNG BIỂN MẶN
Từ
lâu, khoa học thường quen vạch một đường ranh giới giữa
người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu: nhà khoa học
và con vi trùng dưới kính hiển vi là hai thực tại riêng biệt,
độc lập. Thiền học kỵ nhất điều đó. Ta hãy
nhớ lại sự liên hệ giữa ánh sáng mặt trời và mầu xanh
trên lá cây. Khi ta rọi chánh niệm và các đối tượng
tâm ý khác, các đối tượng này biến thể và đồng nhất
với chánh niệm. Tôi đưa ra một hình ảnh để bạn
thấy điều này. Khi bạn ý thức rằng bạn đang vui,
bạn thầm nghĩ: “Tôi có ý thức rằng tôi đang vui”.
Nếu bạn vượt lên cao hơn một từng nữa và nói: “Tôi
đang ý thức rằng tôi có ý thức về niềm vui của tôi”
thì bạn thấy gì? Bạn thấy có ba từng: niềm vui –
ý thức về niềm vui – ý thức về sự có ý thức – Đó
là ta vung thanh kiếm khái niệm để biểu diễn vài đường
phân tích. Sự thực trong bạn, cả ba đều nằm trong
một.
Kinh
Niệm Xứ một kinh dạy về chánh niệm, thường dùng những
mệnh đề “quán niệm thân thể nơi thân thể”, “quán
niệm cảm thọ nơi cảm thọ”, “quán niệm tâm thức nơi
tâm thức” và “quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối
tượng tâm thức”. Tại sao có sự lặp lại những danh
từ thân thể, cảm thọ, tâm thức và đối tượng tâm thức?
Một vài luận gia nói rằng đó là để nhấn mạnh về những
danh từ nào đó. Tôi nghĩ không phải thế. Ý kinh
là trong khi quán niệm, không cho đối tượng quán niệm là
một cái gì biệt lập ngoài chủ thể năng quán. Phải
sống cái đối tượng đó, phải hoà hợp với đối tượng
đó, như một hạt muối đi vào lòng đại dương để đo chất
mặn của đại dương. Một công án thiền cũng vậy.
Công án không phải là một bài toán mà ta có thể giải đáp
bằng cách xử dụng trí lực (intellect) của mình. Công
án không phải là công án của kẻ khác. Công án phải
là công án của mình, là vấn đề sinh tử của đời mình.
Nó không thể tách rời khỏi đời sống hằng ngày của mình.
Công án phải được “cấy” vào trong thịt, trong xương,
trong tủy của mình, và mình trở thành miếng đất nuôi dưỡng
nó. Có thế thì hoa trái của nó mang tới mới là hoa
trái của tự tâm mình được.
Trong
từ ngữ comprendre của tiếng Pháp, ta thấy có tiền từ com
và động từ prendre, ý nói: hiểu một vật gì tức là cầm
lấy vật ấy lên và đồng nhất với nó. Nếu ta chỉ
phân tích một người như một đối tượng khảo cứu mà
không sống với người ấy thì ta không thật sự hiểu được
người ấy. Nhà thần học Martin Buber cũng nói rằng liên
hệ giữa con người với Thượng Đế không phải là một
liên hệ chủ thể và đối tượng, bởi Thượng Đế không
phải là đối tượng của tri thức. Gần đây trong lãnh
vực khoa học vật lý cực vi, các khoa học gia cũng đã công
nhận rằng không thể có một hiện tượng nào tuyệt đối
khách quan, nghĩa là độc lập với tâm ý người quan sát,
và do đó mọi hiện tượng chủ quan cũng đều có mặt khách
quan của chúng.