"Xá
Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Đức Bụt kia tại sao sao có tên
gọi là A Di Đà?"
Tại
sao không có tên khác mà có tên là Amitabha? Đức Bụt Thích
Ca trả lời:
"Xá
Lợi Phất! Bởi vì đức Bụt ấy là ánh sáng vô lượng có
thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương
mà ánh sáng ấy không bao giờ bị ngăn cách. Vì vậy, nên
ngài được gọi là A Di Đà.
A Di
Đà là ánh sáng vô lượng, vì vậy Tuệ Trung Thượng Sĩ đã
nói:
Di
Đà đích thực pháp thân ta
Nam,
Bắc, Đông, Tây khắp chói lòa
Khi
đốt lên một cây đèn nến hay một cây đèn dầu, thì ta
sẽ có ánh sáng, nhưng ánh sáng đó không vô lượng. Tại
sao vậy? Tại vì nến sáp sẽ hết, dầu sẽ hết và theo đó
ánh sáng sẽ hết. Nhưng đức A Di Đà là một nguồn ánh sáng
vô tận. Một vị bồ tát, một vị giác ngộ, một vị Bụt
luôn luôn từ cơ thể phóng ra ánh sáng. Đó là ánh sáng của
chánh niệm. Ánh sáng của các vị Bụt đi rất xa, đi xa lắm.
Phóng ra ánh sáng đó để làm gì? Để soi đường và giúp
người ta đừng bước sa vào hầm hố của khổ đau.
Chúng
ta đừng nghĩ rằng chỉ có Bụt và các vị bồ tát mới có
thể phát ra ánh sáng này. Người nào trong chúng ta cũng có
thể phát ra ánh sáng đó, ánh sáng của chánh niệm. Trong khi
đi, đứng, nằm, ngồi hay thuyết pháp, ánh sáng của chánh
niệm tỏa chiếu đi rất xa. Khi người ta tới chơi hay tới
thăm viếng mà thấy chúng ta đi, đứng, nằm và ngồi trong
chánh niệm cũng thấy ánh sáng trong thân ta đang chiếu ra.
Khi một tia sáng này chạm vào người khác thì người ấy
cảm động và cũng muốn được đi, đứng và làm việc ung
dung như vậy. Các thầy, các sư cô, các sư chú và các đạo
hữu ở đây người nào cũng có thể phát ra ánh sáng từ
thân thể, từ tâm hồn của mình. Tất cả chúng ta đều có
thể phát ra ánh sáng chánh niệm, và chỉ có sự thực tập
chánh niệm mới làm phát ra ánh sáng đó. Chánh niệm đưa
đến chánh định, chánh định đưa đến trí tuệ. Đó là
những viên ngọc lưu ly có thể chiếu ra ánh sáng. Chúng ta
đừng có mặc cảm. Chúng ta cũng có thể phóng quang được
như đức A Di Đà, tuy ánh sáng của ta chưa đi xa bằng, nhưng
chúng ta đã có thể phóng ra được. Nếu mỗi ngày ta đều
thực tập thì ánh sáng càng ngày càng được phóng xa. Ánh
sáng đó có thể được phát ra dưới nhiều hình thức. Ở
trên thế giới bây giờ có biết bao nhiêu người đang tu tập
theo pháp môn của Làng Mai. Họ đọc sách, nghe băng và tiếp
xúc với các vị giáo thọ ở Làng Mai. Vì vậy ánh sáng của
chúng ta đã đi rất xa, và chúng ta cũng đang tham dự vào công
nghiệp của đức A Di Đà tức là phát ra ánh sáng. Phát ra
ánh sáng là điều chúng ta làm được và làm được ngay ngày
hôm nay. Hễ bước một bước chân có chánh niệm thì có ánh
sáng lóe ra liền. Ta phải hiểu ánh sáng là như vậy. Và ánh
sáng của đức A Di Đà là vô lượng. Đó là định nghĩa
đầu của chữ Amitabha: ánh sáng vô lượng. Bây giờ
ta đi đến định nghĩa thứ hai:
"Hơn
nữa, Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức Bụt ấy cũng như
của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo
dài tới vô lượng vô biên kiếp a tăng kỳ, vì vậy danh hiệu
của ngài là A Di Đà"
A tăng
kỳ có nghĩa là vô lượng, vô số. Đứng về phương diện
tích môn thì chúng ta có sanh có diệt. Kẹt vào ý niệm thọ
mạng, ta nghĩ rằng ta chỉ bắt đầu có mặt từ năm
đó và sẽ trở thành không có từ năm kia. Nhưng theo
giáo lý đạo Bụt thì bản chất của chúng ta là không sanh
và không diệt. Đứng về phương diện bản môn thì thọ mạng
của ta cũng vô lượng như thọ mạng của đức Thế Tôn và
của đức A Di Đà. Nhìn cho kỹ ta thấy tất cả mọi hiện
tượng trong vũ trụ đều như vậy. Một bông hoa hay một chiếc
lá cũng có thọ mạng vô lượng. Nhìn cạn cợt thì ta thấy
chiếc lá có sinh và có diệt; nhìn sâu thì chúng ta thấy sinh
diệt chỉ là cái bên ngoài. Bản chất của một chiếc lá
là vô sinh bất diệt, bản chất của chúng ta cũng như vậy.
Ánh sáng của đức A Di Đà là vô lượng nên thọ mạng của
ngài cũng là vô lượng. Ánh sáng của cái đèn dầu có khi
tắt, nhưng ánh sáng của đức A Di Đà không bao giờ tắt.
Vì sao? Vì thọ mạng của đức A Di Đà là vô lượng. Chúng
ta cũng vậy, cũng có thể tham dự vào thọ mạng vô lượng
của đức A Di Đà. Bởi vì chúng ta cũng có bản chất bất
sanh và bất diệt.
Hai
định nghĩa về đức A Di Đà là vô lượng quang (ánh sáng
vô lượng) và vô lượng thọ (tức là thọ mạng vô lượng.)
Không phải chỉ có đức A Di Đà mới có bản môn mầu nhiệm,
mới có bản chất bất sanh bất diệt, mà tất cả chúng ta
cũng đều có bản chất bất sanh bất diệt. Vì vậy, chúng
ta có thể tham dự vào công việc chế tác ánh sáng của đức
A Di Đà và ánh sáng đó sẽ có mặt liên tục không bao giờ
chấm dứt.
"Xá
Lợi Phất! Từ khi Bụt A Di Đà thành đạo đến nay tính ra
là đã mười kiếp. Này nữa, Xá Lợi Phất, số đệ tử
Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của đức Bụt ấy nhiều
vô lượng không thể đếm được bằng toán học. Số đệ
tử bồ tát của ngài cũng đông đảo như thế."
Trên
phương diện tích môn, từ khi đức Bụt A Di Đà thiết lập
ra cõi Cực Lạc chỉ có mười kiếp thôi và Bụt A Di Đà
đang biểu hiện như một hóa thân. Và chúng ta thấy hóa thân
hay ứng thân của đức A Di Đà mới thiết lập cõi Cực Lạc
được mười kiếp và số đệ tử Thanh Văn đã đắc quả
A La Hán của ngài nhiều vô lượng không thể đếm được
bằng toán học. Không thể dùng điện toán để đếm được.
Số đệ tử bồ tát của ngài cũng đông đảo như thế. Nghĩa
là đức A Di Đà có đệ tử về phía Thanh Văn và cũng có
đệ tử về phía bồ tát. Dân chúng Tịnh Độ gồm những
người tu theo đạo Bụt nguyên thỉ và những người tu theo
đạo Bụt phát triển. Ở bên nào cũng đông đến nỗi các
nhà toán học cũng không thể nào đếm hết được.
"Này
Xá Lợi Phất! Nước Bụt kia đã được xây dựng bằng những
công đức đẹp đẽ như thế."
Những
công đức đẹp đẽ như thế là những điều chúng ta đã
được nghe những đoạn vừa qua, như các hàng cây, các hồ
sen có nước tám công đức, âm nhạc trên không, dân chúng
có thì giờ để đi hái hoa cúng dường các vị Bụt, nấu
cơm và ăn cơm, đi kinh hành, nghe chim hót, nghe thông reo, nghe
thuyết pháp và dân chúng ở nước Cực Lạc rất đông. Tất
cả những cái đó đều là những công đức và những cái
đẹp mầu nhiệm của cõi Cực Lạc.(trang 48)
(Trích:
Thiết Lập Tịnh Ðộ - Kinh A Di Ðà Thiền Giải của
Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Giảng Tại Xóm Mới Làng Mai,
Khóa Mùa Thu 01-10-1998, Tịnh Thuỷ (tinhthuy2@yahoo.com)Post Lên
Các Diễn Ðàn Internet )
