"Này
nữa Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc có bảy lớp lan can,
bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được
làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi
ấy được gọi là cõi Cực Lạc."
Câu
kinh này nói về y báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc. Y báo
là môi trường và hoàn cảnh tương hợp với chánh báo. Chánh
báo chính là bản thân đức Bụt A Di Đà. Y báo bao gồm cả
nhân dân và cõi nước. Y báo và chánh báo trang nghiêm của
cõi Tịnh Độ là do bản nguyện của đức Bụt A Di Đà và
nhân dân của cõi nước ấy tạo nên. Cũng vậy, y báo và
chánh báo của cõi Ta Bà đều do nghiệp lực cộng đồng của
chúng sanh ở cõi này tạo tác ra. Nghiệp lực của chúng sanh
nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục. Nhân dân
cõi này luôn luôn lao mình vào ngũ dục, do đó chất liệu
Tịnh Độ biến mất, không còn nữa.
Tại
sao Bụt Thích Ca nói ở cõi Tịnh Độ không có mặt ba con
đường ác? Một mặt thì Bụt A Di Đà thuyết pháp, một mặt
thì chim chóc nâng đỡ và hướng mình đi về nẻo hướng
thượng, thì làm sao mà có tam ác đạo? Chỉ trừ khi nào ta
chán Tịnh Độ và muốn bỏ đi. Điều này là do ta mà ra.
Đức Bụt A Di Đà sẽ nói: "Tội nghiệp cho con. Con không
muốn ở đây, con lại muốn về bên đó! Nếu ở đây thì
con có tăng thân, có Bụt, có chim, có hồ sen, có đủ điều
kiện để giữ cho con đừng đi thối lui, nhưng nếu lòng trần
của con đã biểu hiện và con muốn trở về với cõi Ta Bà
thì con sẽ đánh mất Tịnh Độ và tăng thân này."
Tăng
thân là một khung cảnh hiến tặng cho chúng ta sự an ninh.
Tăng thân với hai vòng tay vững chãi giữ ta lại trên con đường
giới, định và tuệ. Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở
lại với Tăng thân "Chúng con nguyện một lòng về nương
tựa Tăng thân." Cõi Tịnh Độ là một tăng thân quý báu
nhất.
Khi
đi vào bếp để nấu cơm, chúng ta cũng có thể tu chánh niệm
được. Đến phiên ta nấu cơm cho đại chúng thì ta vào bếp,
thắp một cây hương, dâng hương, rồi bắt đầu nấu cơm.
Trong suốt thời gian một giờ rưỡi hay hai giờ làm việc
dưới bếp, ta biết thực tập theo dõi hơi thở, biết là
đang xắt gọt, rửa nồi hay xào nấu, ... trong chánh niệm.
Do đó ta vẫn đang an trú trong cõi nước Cực Lạc. Còn nếu
không biết tu thì ta vừa làm vừa giận, vừa làm vừa buồn,
vừa ganh, vừa nói chuyện hay vừa nói xấu người khác, thì
tuy cũng là khung cảnh ấy nhưng đó là cõi Ta Bà. Ta có giới,
định và tuệ, tức là có sự thực tập thì nhà bếp là
Tịnh Độ chứ không phải là Ta Bà. Tất cả đều tùy nơi
ta.
Bất
cứ một cái gì ta thấy được và tiếp xúc được đều
có thể biến thành pháp khí. Cái chổi hay cái nồi cũng là
pháp khí, cái gì cũng có thể trở thành một điều kiện
thuận lợi cho sự tu học của ta. Đó là tài năng của đức
A Di Đà. Tài năng của đức A Di Đà là sử dụng tất cả
những gì đang có mặt để đưa dân chúng của mình đi lên
trong sự tu học. Tài năng của Tăng thân cũng vậy, từ chuyện
nấu nướng, dọn dẹp, làm vườn, cho đến việc chăm sóc
cây cảnh, tất cả những cái đó đều trở thành phương
tiện tu học. Chúng ta phải sử dụng tất cả những yếu
tố đó để đi tới trên con đường tu tập và chuyển hóa.
Trong
cõi Tịnh Độ người ta cũng nấu cơm, ăn uống, đi hái hoa
cúng Bụt, nghe kinh và đi thiền hành. Cõi ta đang ở cũng vậy
thôi. Không cần phải qua bên đó ta mới làm được những
chuyện kia. Ngay bây giờ ta cũng có thể làm được những
chuyện mà bên ấy người ta đang làm, tức là hái hoa, cúng
Bụt, tụng kinh, nghe kinh, rửa chén, ăn cơm, đi kinh hành...
Cõi Tịnh Độ đẹp như vậy, cõi Tịnh Độ đang có mặt
cho chúng ta. Chỉ có một điều là chúng ta đang có mặt cho
cõi Tịnh Độ hay không mà thôi.
Trong
khung cảnh Tăng thân, mỗi khi chúng ta rửa nồi, pha trà, đi
tắm hay đi ra vườn, mỗi hành động và mỗi bước chân của
chúng ta đều phải trở thành một câu thuyết pháp. Bước
đi một bước, đó là một bài thuyết pháp, nâng chén trà
lên để uống cũng trở thành một bài thuyết pháp. Bởi vì
trong khi nâng chén trà lên ta có sự vững chãi, thảnh thơi
và ung dung. Uống trà như vậy là thuyết pháp. Ăn cơm như
thế nào để có hạnh phúc và an lạc trong khi ăn, thì ăn
cơm cũng là thuyết pháp. Nhìn vào ta người khác đang thấy
một vị Bồ Tát trong Tịnh Độ. Điều này không phải đợi
tới ngày mai ta mới làm được. Ta phải làm được ngay ngày
hôm nay. Làm được một ngày là ta đã đi đến Tịnh Độ
được một ngày.
Vì
muốn cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của
Ngài, đức A Di Đà đã tạo ra các loài chim mầu nhiệm. Cũng
vậy, muốn cho pháp môn và giáo lý của đức Bổn Sư được
thấm nhuần trong tăng thân chúng ta cũng phải làm như thế.
Mỗi cử chỉ, lời nói và ý tưởng của ta đều phải trở
nên một phương tiện để thuyết pháp. Ta phải tham dự vào
sự nghiệp của pháp thân, vì pháp thân là thân của pháp,
thân luôn luôn biểu hiện pháp. Một bài thuyết pháp của
ứng thân hay hóa thân có thể dài tới một giờ rưỡi hay
là hai giờ. Nhưng thế nào ứng thân cũng phải dừng lại
để nghỉ ngơi, để ăn cơm. Còn pháp thân thì khác, pháp
thân thuyết pháp liên tục không ngừng. Thuyết pháp bằng
chim, bằng mây, bằng gió, bằng bước chân hay bằng hơi thở.
Vì vậy chúng ta phải tham dự vào pháp thân. Chúng ta thuyết
pháp bằng đời sống hàng ngày của chúng ta. Ta thuyết pháp
bằng hai bàn tay, bằng hai bàn chân, bằng cái miệng trong khi
ăn hoặc khi nói và bằng hai con mắt trong khi nhìn. Bổn phận
của người sống trong Tịnh Độ là phải tham dự vào sự
nghiệp của pháp thân. Nghĩa là phải thuyết pháp bằng đời
sống hàng ngày của chúng ta.
Ngày
xưa thánh Ghandhi có nói rằng: "Đời sống của tôi là cái
thông điệp của tôi." (My life is my message) Thông điệp
không phải viết trên giấy mà viết bằng đời sống hàng
ngày. Một bài thuyết pháp cũng vậy, không phải chỉ làm
bằng ngôn ngữ và danh từ mà thôi. Bài thuyết pháp còn được
làm bằng bước chân, hơi thở, động tác và cái nhìn của
ta. Tham dự vào sự nghiệp của pháp thân là điều chúng ta
có thể làm được hàng ngày. Nhìn vào cách ta đi đứng và
tiếp xử hàng ngày tự nhiên người ta sinh lòng kính ngưỡng
và phát tâm xuất gia tu tập. Như vậy ta đã là một phần
của đức Bụt Di Đà.
"Xá
Lợi Phất, ở nước Bụt ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động
các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được
nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc
khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ấy
mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm Bụt,
niệm Pháp và niệm Tăng."
Hiện
tượng này ở đâu cũng có. Mỗi khi có gió đi ngang các hàng
cây tùng hay các hàng cây phong thì âm thanh cũng mầu nhiệm
vô cùng. Trong kinh không nói tới mưa, nhưng tiếng mưa cũng
êm đềm dễ chịu lắm. Những cơn mưa có khi rạt rào, có
khi êm đềm làm cho tâm hồn ta dịu lại và ta nghe trong tiếng
mưa có âm nhạc của chư thiên, có tiếng thuyết pháp. Nếu
nhìn kỹ cõi Ta Bà với tất cả niệm và định, ta sẽ thấy
cõi Ta Bà này cũng đẹp lắm. Tôi nghĩ rằng cõi Tịnh Độ
có đẹp cách mấy thì cũng chỉ đẹp bằng cõi Ta Bà này
mà thôi. Tất cả những gì ta thấy ở cõi Tịnh Độ thì
bên này ta cũng có thể thấy được cả. Chúng ta đã từng
nghe các vị tổ sư nói: Tịnh Độ ở trong tâm mình.
Trong tâm mình có sự nhẹ nhàng, có sự cởi mở, có sự thanh
thoát thì nhìn cái gì cũng thấy là Tịnh Độ cả.
"Mỗi
khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu
báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu..."
Chúng
ta nghĩ rằng ở ngoài tiệm kim hoàn mới có những hạt châu
báu, nhưng kỳ thực những hạt sương long lanh trên ngọn cỏ
cũng đẹp và còn đẹp hơn cả kim hoàn nữa. Và hay nhất
là không có ai muốn ăn cắp hết. Tại vì ở đâu cũng có
và chúng đẹp vô cùng. Nói rằng những hàng cây đó làm bằng
châu báu, nhưng những hàng cây làm bằng châu báu thì đâu
có đẹp bằng những hàng cây thật. Trên bàn Bụt, thỉnh
thoảng ta dâng cúng những hoa sen làm bằng gỗ, bằng bạc,
bằng ngọc hay bằng vàng nhưng những bông sen dâng lên trên
bàn Bụt làm bằng vàng hay bằng ngọc thì đâu có đẹp bằng
những bông sen thật. Những cái gì nhiệm mầu đã tả trong
kinh A Di Đà đều có đủ hết ở đây, chỉ cần ta có tâm
hồn thanh thoát và an lạc là có thể thấy hết tất cả.
Ở
cõi Tịnh Độ, khi có gió đi qua các hàng cây và các màn lưới
châu báu thì có những âm thanh vi diệu, có âm nhạc và có
lời thuyết pháp. Và khi được nghe những âm thanh như vậy
thì đó là cơ hội để dân chúng nhiếp tâm niệm Bụt, niệm
Pháp và niệm Tăng. Ở đây chúng ta cũng có thể làm y hệt
như vậy. Chúng ta có tiếng chuông đại hồng, tiếng chuông
gia trì, tiếng chuông báo chúng, tiếng đồng hồ và tiếng
điện thoại. Chúng ta có những tiếng xướng kệ của các
sư chú và các sư cô, có những hình ảnh đi ra đi vào của
thiền sinh trong chánh niệm. Tất cả những cái đó đều là
những phương tiện để nhắc ta trở về với sự niệm Bụt,
niệm Pháp và niệm Tăng. Dứt khoát là không cần đi đâu
hết, ở đây ta cũng có đủ tất cả những gì diễn tả
trong kinh A Di Đà.
(Trích:
Thiết Lập Tịnh Ðộ - Kinh A Di Ðà Thiền Giải của
Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Giảng Tại Xóm Mới Làng Mai,
Khóa Mùa Thu 01-10-1998, Tịnh Thuỷ (tinhthuy2@yahoo.com)Post Lên
Các Diễn Ðàn Internet )
