Trong
Ðạo Bụt nguyên thủy có kinh Ðại Thiện Kiên Vương. Kinh
này cũng có trong tạng Pali. Ðọc kinh này, ta thấy khung
cảnh rất giống khung cảnh kinh A Di Ðà ở trong truyền thống
Bắc Phạn. Trong kinh này cũng có nói đến “Thất trùng
lan thuẫn thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ. . . và
“hoa sen lớn như bánh xe”. Cảnh tượng giống hệt như cảnh
Tịnh Ðộ ở kinh A Di Ðà.
Hồi
đó Bụt sắp tịch, thầy trò đang đi lên miền Bắc. Có lẽ
Bụt muốn trở về thành Ca Tỳ La Vệ để nhập diệt, nhưng
khi tới được thành Câu Thi Na thì Bụt nghĩ rằng mình nhập
diệt nơi đây cũng được. Ðây chỉ là một thành phố
nhỏ. Thầy A Nan yêu cầu Ngài đừng nhập diệt ở đây, đợi
tới một thành phố nào thật đẹp mới nên nhập diệt. Ðó
là chiến thuật của Thầy A Nan. Thầy muốn Bụt chậm nhập
diệt giờ phút nào thì quý giờ phút đó. Thầy A Nan thưa:
“Bạch Ðức Thế Tôn, thành phố Kusinagara này nhỏ xíu phần
nhiều nhà cửa được làm bằng nền đất tường vôi. Ðức
Thế Tôn đừng nhập diệt ở đây. Ðức Thế Tôn, xin Ngài
đợi đến một thành phố nào lớn hơn và đẹp hơn rồi
hãy nhập diệt.” Bụt cười và nói:!’Thầy đừng tưởng
rằng thành phố này không đẹp. Ngày xưa, thành phố này đã
từng là một Tịnh Ðộ. Ta đã từng ở thành phố ấy.”
Và Ðức Thế Tôn tả cho Thầy A Nan nghe về những nét đẹp
đẽ, phồn vinh và hạnh phúc của quốc độ Câu Thi Vương
ngày xưa của vua Ðại Thiện Kiến. Những điều này đã được
ghi chép trong kinh Ðại Thiện Kiến Vương. Kinh số 68 của
bộ Trung A Hàm. Quý vị sẽ thấy là trong kinh A Di Ðà cũng
có những chi tiết giống hệt kinh Ðại Thiện Kiến Vương.
Trong
tạng Pali, kinh này tên là Mahàssudarsana, nằm trong Trường
bộ số 17. Kinh có ghi lời thưa của thầy A Nan: “Bạch đức
Thế Tôn, có những thành phố lớn khác như thành Vương Xá,
Xá Vệ, Ba La Nại,... Tại sao đức Thế Tôn không nhập diệt
nơi các thành phố ấy mà Ngài lại quyết định nhập diệt
ở nơi thành phố nhỏ hẹp này - một thành phố nhỏ hẹp
nhất trong các thành phố?”
Ðức
Thế Tôn nói: “Này A Nan, Thầy đừng nói rằng đây là một
thành phố nhỏ hẹp. Thuở quá khứ, thành Câu Thi Na này có
tên là Câu Thi Vương, giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc.
A Nan, thành Câu Thi Vương dài mười hai do diên, rộng bảy
do diên. ở đây, người ta đã dựng lên các tháp cao bằng
một người, hai, ba, bốn cho đến bảy người. Này A Nan, thành
Câu Thi Vương ở bên ngoài có bảy lớp hàng rào bao bọc,
rào được xây bằng gạch với bốn loại châu báu là vàng,
bạc, lưu ly thủy tinh; bảy lớp hào thì được rãi bằng
cát với bốn lớp châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy
tinh.
Này
A Nan, Câu Thi Vương được bao bọc bởi bảy lớp tường thành.
Ởù ngoài các lớp tường thành ấy cũng được xây dựng
bằng bốn lớp châu báu vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Này
A Nan, thành Câu Thi Na cũng được bao bọc bởi bảy lớp cây
đa la. Các cây ấy được dựng bằng bốn lớp châu báu; cây
đa la bằng vàng thì hoa, lá, trái bằng bạc; cây đa la bằng
bạc thì hoa, lá, trái bang vàng; cây đa la bằng thủy tinh thì
hoa, lá, trái bằng lưu ly và hoa, lá trái bằng thủy tinh thì
cây đa la bằng lưu ly.
Này
A Nan, khoảng giữa cây đa la có đào những ao hoa. Trong các
ao ấy có trồng các loại thủy hoa như hoa sen xanh, hoa sen đỏ,
hoa sen trắng, hoa sen hồng. Bờ ao hoa ấy có đắp bốn loại
châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. ở đây, ao hồ
trải cát bang bốn loại châu báu vàng, bạc, lưu ly, thủy
tinh. Trong các ao ấy, có thềm cấp bằng bốn loại châu báu
vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Này A Nan, các ao ấy được
màn che ở dưới, có chuông lắc ở giữa, bốn loại châu
báu là vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh; chuông bằng bạc thì
quả lắc bằng vàng và chuông bằng vàng thì quả lắc bằng
bạc”.
Nói
tóm lại, ở trong kinh này, ta thấy có những chi tiết về
những vẻ đẹp của Tịnh Ðộ. Các vị Tổ sư đã có
nhiều tác phẩm chú giải kinh A Di Ðà và nhiều tác phẩm
diễn giải rất sâu sắc. Chúng ta có thể thừa hưởng được
những bộ sách diễn giải đó. Ở Làng Mai, chúng ta hãy học
hỏi và thực tập kinh A Di Ðà theo phương pháp thiền quán
hiện pháp lạc trú để đừng bị chìm đắm, dù là chìm
đắm trong những lý thuyết thậm thâm vi diệu. Chúng ta học
hỏi và áp dụng kinh A Di Ðà trong đời sống tu tập hàng
ngày của chúng ta, học hỏi và thực tập như thế nào để
có hạnh phúc, an lạc, vững chãi và thảnh thơi để Ðức
A Di Ðà và cõi Tịnh Ðộ có thể có mặt trong đời sống
hàng ngày của chúng ta. Vì vậy, trong những buổi giảng về
kinh A Di Ðà, tôi sẽ không xử dụng những tác phẩm diễn
giảng của các vị Tổ sư ới trước. Chúng ta hãy học kinh
A Di Ðà bằng nhãn quan mới, chúng ta nhai giáo lý của kinh
A Di Ðà bằng cách nhìn của đạo Bụt nguyên thủy.
Ta
nên biết rằng niềm ao ước sâu xa nhất của con người là
tìm ra được môi trường sống có an ninh, tình thương và
sự hiểu biết. Tất cả chúng ta đều mong ước có một môi
trường như vậy. Các đức Bồ tát các đức Thế Tôn cũng
thấy được ước muốn của chúng ta và của mọi loài chúng
sanh. Cho nên, bất cứ ai mà thực tập một cách thông minh
và vững chãi đều nghĩ tới sự thành lập những môi trường
như vậy để mình tự nuôi dưỡng mình, và để mình có thể
nuôi dưỡng những người khác. Vì vậy ý hướng thành lập
Tịnh Ðộ là tâm niệm của tất cả những người tu học.
Trong chúng ta, người đã tu lâu năm hay người mới tu cũng
vậy, ai cũng ao ước thiết tha là làm thế nào để lập ra
một khung cảnh trong đó chúng ta được sống có thầy, có
bạn, có an ninh được che chở, được thương yêu và có điều
kiện đi tới trên con đường thành tựu đạo nghiệp và chuyển
hóa khổ đau.
Kinh
A Di Ðà cũng nằm trong viễn tượng đó. Ðức A Di Ðà
là người đã từng tu học và cũng đã có ước vọng đó,
nên Ngài đã tạo ra một khung cảnh có an toàn có tình thương,
có những điều kiện để thực tập. Người chủ trương
Tịnh Ðộ là Bụt A Di Ðà, khung cảnh có tên là Cực Lạc.
Chúng ta, ai cũng ôm ấp ước muốn ấy. Chúng ta cũng muốn
lập ra một khung cảnh để an trú, để có nơi đón tiếp
những người bạn của mình, những người thương của mình,
mời họ đến đó để cùng chung sống, cùng tu học, cùng
hưởng được sự có mặt của vững chãi, thảnh thơi tình
thương và sự an lạc. Tuy nuôi dưỡng tâm niệm đó, nhưng
có khi chúng ta không có nhiều may mắn. Chúng ta chỉ lập ra
được một cơ sở, rồi chúng ta bị mắc kẹt và chạy theo
cơ sở ấy. Chúng ta mất hết thì giờ để xây dựng cơ sở,
nhưng chúng ta lại không tạo ra được một nội dung cho cơ
sở đó. Nghĩa là tạo ra được sự an lạc, hòa hợp
và thanh tịnh của một Tăng thân. Nếu ta không tạo được
một khung cảnh có nội dung như vậy, thì ta chỉ là người
làm nô lệ cho khung cảnh mà thôi. Chúng ta phải chạy kiếm
tiền để tiếp tức duy trì và phát triển cái vỏ của những
cơ sở ấy, rốt cuộc ta không có thì giờ để chăm sóc cho
bản thân ta và cho những người đến với ta. Từ khởi điểm
thì bản nguyện ta cũng cùng bản chất với bản nguyện của
đức A Di Ðà, nhưng sau đó chúng ta bị lầm lạc - lầm lạc
đi sang một nẻo khác, đó là nẻo làm chùa. Việc làm chùa
khiến chúng ta trở thành một người bận rộn nhất trên
đời. Ta mất hết thảnh thơi, mất hết an lạc và bản hoài
ban đầu của ta, ta không thực hiện được Xây dựng và kiến
thiết Tịnh Ðộ là hoài bão của tất cả chúng ta. Nhưng
ta phải khéo léo lắm mới xây dựng được một Tịnh Ðộ,
nếu không, ta sẽ đánh mất bản thân của ta. Trú xứ ta xây
dựng phải có chất liệu an tịnh ta mới gọi nó là Tịnh
Ðộ dược. Khung cảnh mà chúng ta muốn tạo lập ra phải
có chất liệu “Tịnh” của nó. Tịnh tức là không có sự
Ô nhiễm. Sự Ô nhiễm nào? Trước hết, ta gọi tên nó là
sự bận rộn. Chúng ta bận rộn quá, bận rộn về chuyện
đi cúng, làm đám và xây cất. Chúng ta đâu có thì giờ để
tu học, đâu có thì giờ chăm sóc cho nhau, đâu có thì giờ
thương nhau. Có sự bận rộn là không có tịnh, tức là nhiễm.
Cõi của ta là Uế độ, không phải Tịnh Ðộ. Chúng ta để
tiền bạc thống trị chúng ta, chúng ta để tiền bạc và
quyền lực của nó chi phối chúng ta. ở trong khung cảnh đó,
người nào cũng muốn làm lớn, cũng muốn có uy quyền với
những người khác, người nào cũng muốn có tiền bạc. Cõi
đó đâu còn là cõi Tịnh Ðộ nữa. Vì trong khung cảnh đó,
ta chỉ thấy có sự ganh ty, giận hờn và sợ hãi. Tất cả
các yếu tố ấy đều là bất tịnh. Những gì làm Ô
nhiễm môi trường thì ta gọi là bất tịnh. Ban đầu thì
tâm chúng ta rất tốt; ta muốn tạo ra một cõi Tịnh Ðộ.
Nhưng vì thiếu khéo léo, thiếu chánh niệm mà chúng ta đã
tạo ra một cõi Uế độ. Bận rộn là yếu tố làm hư
hoại sinh môi của chúng ta, làm Ô nhiễm môi trường sống
của chúng ta. Ô nhiễm tiếng Pháp là pollution. Khi tới một
đạo tràng, như Ðạo tràng Làng Mai, chúng ta thử hỏi Ðạo
tràng Mai Thôn có Ô nhiễm không? Nơi đó có chuyện tranh giành
quyền bính không? Người ta có suốát ngày lo chuyện tiền
bạc, người ta có bận rộn về chuyện tổ chức quá không?
Người ta có thì giờ để để tu học, người ta có thì giờ
để thương nhau, để chăm sóc cho nhau không? Người ta có
ganh ty, giận hờn và sợ hãi nhau không? Người ta có sống
an lạc không? Tất cả những câu hỏi đó ta có thể trả
lời được. Nhờ sự tu tập, nhờ sự quyết tâm của ta mà
ta giữ được khung cảnh thanh tịnh - khung cảnh của sự không
Ô nhiễm. Ðó là Tịnh Ðộ. Cõi của ta có thể là Tịnh Ðộ
hay Uế độ, điều đó tùy thuộc theo tâm niệm của những
người sống ở trong cõi đó. Chúng ta có quyền và có
khả năng tạo ra một Tịnh Ðộ để sống với nhau, chăm
sóc nhau, thương yêu nhau, giúp cho nhau tu học và chuyển hóa.
Chúng ta cũng có quyền tạo ra một Uế độ, trong đó sự
giành giật, sự ganh ty, sự sợ hãi, tiền bạc và quyền lực
đóng vai trò then chốt.
Khi
đọc kinh A Di Ðà, ta nghe nói cõi Tịnh Ðộ (Sukhavati) là do
đức A Di Ðà sáng tạo ra bằng bốn mươi tám nguyện lực
của ngài. Kinh A Di Ðà có nói về dân chúng của Tịnh Ðộ,
và về sinh hoạt hàng ngày của những người trong cõi Tịnh
Ðộ. Sáng sớm, những người trong nước có thì giờ lấy
lẵng vải đi nhặt hoa trên trời rơi xuống để đem cúng
dường các vị Bụt và Bồ tát ở các cõi nước khác. Họ
đi bằng thần thông, nên sau khi viếng thăm và cúng dường
hoa cho các vị Bụt và các vị Bồ tát ở nước khác rồi
mà về vẫn còn dư thì giờ để ăn trưa. ăn trưa xong thì
đi thiền hành.
Những
điều mình ưa thích nhất trong kinh, mình có thể kể ra. Mỗi
khi có gió nhẹ thổi qua, các hàng cây xao động. Từ trong
tiếng xao động của lá cành, nếu lắng tai, mình có thể
nghe được tiếng thuyết pháp về Ngũ căn, Ngũ lực, Thất
bồ đề phần, Bát thánh đạo phần và Tứ thánh đế. Và
bay liệng giữa hư không có những loài chim mầu nhiệm. Khi
mình lắng nghe tiếng hót của các loài chim ấy, mình cũng
nghe được pháp âm của các đức Như Lai. Kinh không nói đến
một cách trực tiếp hay đầy đủ về phần đóng góp của
dân chúng mà chỉ nói đến thần lực của đức A Di Ðà trong
việc tạo ra một cõi Tịnh Ðộ. Thật ra, trong một khung cảnh
sinh hoạt, tất cả những người tham dự đêu có bổn phận
đóng góp. Nếu mình biết sống an lạc và thảnh thơi như
những người đang sống ở Tịnh Ðộ, có thì giờ lắng nghe
tiếng gió trong cây, nghe tiếng chim, đi nhặt hoa cúng dường,
ăn cơm và ới kinh hành, tức là mình đã đóng góp được
vào việc kiến thiết Tịnh Ðộ rồi.
Dầu
đức A Di Ðà có thảnh thơi cách mấy, có vững chãi cách
mấy, có thương yêu cách mấy, mà những người vãng sinh về
cõi A Di Ðà vẫn còn bận rộn, vẫn còn tập quán bước đi
như bước trên than hồng, vẫn chưa nói được với nhau những
lời ái ngữ thì cõi đó chưa thể gọi là một cõi Tịnh
Ðộ được cả. Hãy tưởng tượng trong cõi Tịnh Ðộ
có một người đang đi như bị ma đuổi, hãy tưởng tượng
trong cõi Tịnh Ðộ có một người đang nói với người khác
bằng giọng trách móc, chua chát. Cõi Tịnh Ðộ tan biến liền
lập tức. Tịnh Ðộ là một sáng tạo phẩm cộng đồng của
đức A Di Ðà và của dân chúng trong nước đó. Vì vậy, tịnh
hay không tịnh, tịnh nhiều hay tịnh ít, điều đó không phải
chỉ do đức A Di Ðà mà còn do dân chúng trong cõi ấy nữa.
Khung cảnh mà ta tạo ra ở âu châu, ở Việt Nam hay ở Hoa
Kỳ để cho một số người về tư học cũng vậy, không phải
chỉ là sáng tạo phẩm của người đứng ra thành lập mà
là sáng tạo phẩm chung của tất cả những người đã tới
bằng bước chân thảnh thơi, bằng nụ cười hiền hậu, bằng
cái nhìn bao dung, bằng lời nói ái ngữ của họ. Như thế
là mình cùng chung sức tạo ra một cõi Tịnh Ðộ, trong đó
mọi người được sống an ninh trong tình thương và sự hiểu
biết. Cho nên Tịnh Ðộ phải là một sáng tạo phẩm cộng
đồng mà không phải chỉ là sáng tạo phẩm của một người,
dầu người đó là một người có nhân cách vĩ đại như
đức Bụt A Di Ðà. Ta hãy tưởng tượng một người chưa
biết ới thiền hành, bây giờ sanh sang bên kia và tiếp tục
chạy như bị ma đuổi. Ðức A Di Ðà sẽ gọi người ấy
đến và nói: “Con hãy tới đây, Thầy dạy cho con cách đi
thiền hành”. Cố nhiên bên Tịnh Ðộ có rất nhiều vị
giáo thọ, và đức A Di Ðà có thể dặn dò các các vị giáo
thọ kiên nhẫn dạy phép thiền hành, phép theo dõi hơi thở
và ăn cơm chánh niệm cho những người vừa mới sanh về cõi
Tịnh Ðộ. Một ngày có không biết bao nhiêu là người
sanh về Tịnh Ðộ, nhiều lắm, mà chắc chắn là đức A Di
Ðà có đủ số giáo thọ để lo dạy dỗ và hướng dẫn
cho họ.
Nói
như vậy để làm gì? Nói như vậy là để chúng ta thấy rằng:
dù đang ở trong cõi Ta Bà, chưa sinh về cõi Tịnh Ðộ, nhưng
nếu chúng ta đi được từng bước vững chãi và thảnh thơi,
nếu chúng ta biết xử dụng ái ngữ, biết thương yêu nhau
và đùm bọc cho nhau, thì Tịnh Ðộ đã có thể có mặt ngay
tại đây rồi, và chuyện gia nhập vào cõi Tịnh Ðộ của
đức A Di Ðà trở thành một chuyện rất dễ. Vì nếu ngay
ở đây ta đã được có Tịnh Ðộ rồi thì đi đâu cũng
là
Tịnh Ðộ ca.û Mình không thể lấy Tịnh Ðộ ra khỏi con
người của mình được, mình ở đâu là Tịnh Ðộ ở đó,
vì Tịnh Ðộ ở ngay trong tâm mình. Và vì đã quyết tâm thực
hiện Tịnh Ðộ cho mình và cho người, nên đi tới đâu là
ta có Tịnh Ðộ ở đó. Tịnh Ðộ là sáng tạo phẩm cộng
đồng của mình với những người tham dự. Và càng thực
tập, ta càng thấy rõ ràng ràng đức A Di Ðà và cõi Tịnh
Ðộ là những sáng tạo phẩm của Tâm.
(Trích:
Thiết Lập Tịnh Ðộ - Kinh A Di Ðà Thiền Giải của
Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Giảng Tại Xóm Mới Làng Mai,
Khóa Mùa Thu 01-10-1998, Tịnh Thuỷ (tinhthuy2@yahoo.com)Post Lên
Các Diễn Ðàn Internet 19-4-2002 )
