Kinh
A Di Ðà là một kinh Ðại thừa, thuộc về nền Phật giáo
phát triển. Ðạo Bụt giống như một cây đại thọ và cũng
là một thực tại sinh động. Bất kỳ một cái gì đang sống
cũng phải lớn lên. Một cây đang sống thì ngày nào cũng
cho thêm cành, lá; cành dài ra thêm, lá mọc nhiều thêm. Có
cành mới, lá mới, hoa mới và trái mới thì cây đạo Bụt
mới là một thực tại linh động, một cái gì đang sống.
Vì vậy mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, đạo Bụt phải phát
triển thêm. Ðạo Bụt Ðại Thừa là những hoa trái phát triển
từ cội nguồn Phật giáo nguyên thủy.
Mình
không muốn Ðạo Bụt là một cái xác khô nằm trong Bảo tàng
viện mà là một thực tại sống động, mỗi ngày đều có
thêm sức sống. Và vì vậy, mình phải chấp nhận rằng cây
Phật giáo mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm phải có thêm cành
mới, lá mới. Ðạo Bụt phát triển không ngừng nhưng
vẫn là Ðạo Bụt như thường.
Kinh
A Di Ðà hiện giờ đang được đọc tụng ở khắp các chùa,
dầu là chùa Thiền tông, vì kinh A Di Ðà trình bày một giáo
lý rất dễ thực tập. Những người không có căn trí lớn,
những người không đủ Niệm, Ðịnh, Tuệ cũng có thể thực
tập được kinh A Di Ðà. Nói như vậy, không có nghĩa là những
người có căn trí lớn thì không thực tập được. Tại vì
kinh A Di Ðà có thể được hiểu rất sâu, cũng có thể được
hiểu rất cạn. Người hiểu sâu cũng có thể thực tập người
hiểu cạn cũng có thể thực tập. Vì vậy chúng ta cũng phải
học kinh A Di Ðà bằng một nhận thức hết sức cởi mở,
bởi vì kinh A Di Ðà là một giáo pháp có tính cách phổ biến.
Người đại căn thực tập cũng được mà người căn trí
nhỏ hẹp thực tập cũng được. Khi người có đại căn niệm
“Nam mô A Di Ðà Phật” hay là “Nam mô Bụt A Di Ða” thì
sở kiến và sở đắc rất lớn lao. Khi người có căn trí
nhỏ hẹp niệm câu “Nam mô A Di Ðà Phật” thì tuy người
ấy cũng có sở kiến và sở đắc nhưng có thể sở kiến
và sở đắc ấy nhỏ bé hơn. Niệm Bụt, ta có thể đạt
tới Niệm, Ðịnh và Tuệ rất cao. Ta cũng có thể niệm Bụt
mặc dù năng lượng Niệm, Ðịnh và Tuệ chưa hùng hậu. Hiệu
quả của câu niệm Bụt có thể lớn hay nhỏ. Ðó là do cách
hành trì của chúng ta. Hiệu quả lớn hay nhỏ là do Niệm
và Ðịnh vững chãi nhiều hay ít.
Trước
khi đi vào kinh A Di Ðà, chúng ta phải biết một vài chi tiết.
Thứ
nhất trong Ðạo Bụt nguyên thủy, phương pháp Niệm Bụt đã
là một phương pháp rất quan trọng. Niệm Bụt, niệm Pháp,
niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí và niệm Thiên đều là những
phương pháp thực tập có ngay trong thời Bụt tại thế.
Phương pháp này được gọi là Tùy niệm, và ngay trong thời
Bụt tại thế đã có nhiều người Phật tử thực tập Niệm
Bụt. Ðức Thế Tôn có vững chãi, có thảnh thơi có từ bi,
có hỷ xả, và mỗi khi nhớ tới đức Thế Tôn thì tự nhiên
mình thấy trong người khỏe, có được tính vững chãi, tính
thảnh thơi của đức Thế Tôn. Cho nên thời bấy giờ có
nhiều người niệm Bụt. Người ta thường chắp tay và đọc:
“Namo tassa bhagavato arahato sam mà sambuddhassa” (Kính lạy đức
Thế Tôn, bậc ứng cúng, bậc Chánh biến tri). Bhagavato:
Thế Tôn, Arahat: ứng cúng, và Chánh biến tri là Sammà Sambuddhassa.
Và sau đó, người ta tụng mười danh hiệu của đức Thế
Tôn: “Ðức Như Lai là bậc ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, VÔ Thượng Sỉ, Ðiều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Bụt, Thế Tôn. Trong trang 203
của quyển “Thiền Môn Nhật Tụng năm 20001, quý vị sẽ
thấy có bài “Xưng Tán Tam Bảo”, bên trái là tiếng Hán
Việt và bên phải là tiếng Pa li.)
Họ
đọc mười danh hiệu của đức Như Lai và họ hiểu được
mười danh hiệu đó. Mỗi danh hiệu tượng trưng cho một đức
tính, một năng lượng của Như
Lai.
Khi đọc lên các danh hiệu đó thì ta đã thấm được một
ít năng lượng và thấy trong người có thêm vững chãi và
thảnh thơi. Tiếng Pa li: “Iti pi so Bhagavà: Araham, ammà-sambuddho,
Vijjà-carana-sampanno, Sugato, Lokavidu, Anuttaropurisà-damma-sàrathi,
Satthadeva manussànam, Buddho, Bhagàvati.” Ngày xưa, người ta
niệm Bụt như vậy và niệm Bụt là để có sự vững chãi,
thảnh thơi, an lạc Người ta còn niệm Pháp, niệm Tăng và
niệm Giới. . . Vì thế, niệm Bụt là một pháp môn chính
thống ở trong truyền thống Phật giáo ngay từ ban đầu. Theo
nguyên tắc của pháp môn niệm Bụt thì trước hết hành giả
phải nghĩ rằng Bụt là một thực tại ngoài mình. Ngài đang
cư trú ở tu viện Kỳ Viên hay trên núi Thứu. Khi niệm Bụt
như vậy, tự nhiên mình tiếp xúc được với sự thảnh thơi
và vững chãi, với chất liệu Từ, Bi, Hỷ và Xả trong con
người của mình. Khi ta bắt đầu thực tập Niệm Bụt, thì
Bụt là một thực tại ở ngoài, nhưng từ từ Bụt trở thành
một
thực tại vừa ở trong, vừa ở ngoài. Tại vì trong tâm thức
của ta cũng có những hạt giống của vững chãi và thảnh
thơi, của Từ, Bi, Hỷ, Xả, của ứng
cúng,
của Chánh biến tri, của Minh hạnh túc... như Bụt. Khi ta niệm
Bụt như vậy, ta tiếp xúc được vừa với thực tại của
Bụt ở ngoài và vừa với thực tại của Bụt ở trong tâm.
Nếu ta giỏi thì ta nhận thức ra rất sớm rằng Bụt luôn
luôn có mặt trong tâm ta. Nhờ đó nên khi Ðức Thế Tôn qua
đời, ta không còn than khóc nữa. Ta biết rang Bụt luôn luôn
ở trong ta. Ngài không bao giờ mất. Nguyên tắc chỉ đơn
giản như vậy thôi.
Ðối
với người vừa mới thực tập niệm Bụt thì Bụt là một
thực tại ở ngoài. Nếu người ấy thực tập cho sâu sắc
thì Bụt trở nên một thực tại ở trong tâm. Và vì vậy
dù Bụt ở Tịnh Ðộ hay Bụt ở ngoài Tịnh Ðộ thì Ngài
vẫn có mặt trong tâm ta và trong tâm của ta vẫn thường có
Tịnh Ðộ. Các thầy sau này đã nói rằng Bụt A Di Ðà có
mặt trong tâm mình và Tịnh Ðộ cũng có mặt ngay ở trong
tâm mình. Ðó gọi là “Duy tâm Tịnh Ðộ”. Ý niệm - Tịnh
Ðộ là một thực tại ở ngoài, nằm về phương Tây - đó
chẳng qua chỉ là ý niệm ban đầu. Nếu thực tập giỏi thì
ta sẽ thấy sâu hơn rằng Bụt A Di Ðà và cõi Tịnh Ðộ không
phải chỉ nằm ở phương Tây mà còn nằm ở trong tâm mình
và ở cả mọi phương. Như vậy, cả người thực tập giỏi
lẫn người thực tập chưa giỏi đều đạt tới kết quả,
nhưng đối với người tu tập giỏi thì kết quả rất lớn,
còn người tu tập chưa giỏi thì kết quả chỉ vừa vừa.
(Trích:
Thiết Lập Tịnh Ðộ - Kinh A Di Ðà Thiền Giải của
Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Giảng Tại Xóm Mới Làng Mai,
Khóa Mùa Thu 01-10-1998, Tịnh Thuỷ (tinhthuy2@yahoo.com)Post Lên
Các Diễn Ðàn Internet 16-4-2002 )
