Phật
giáo có thể đóng góp gì cho tình trạng hiện thời của dân
tộc ? Câu hỏi này là niềm thao thức chung cho tất cả mọi
người, dù là Phật tử hay không là Phật tử. Tuy mang tính
cách cấp thiết, câu hỏi cũng không nên được trả lời
một cách quá vội vã. Theo ý chúng tôi, trước tiên ta phải
chịu khó tìm hiểu và xác định ý nghĩa của câu hỏi, và
như thế lại cần tìm đến động cơ tâm lý đã làm nẩy
sinh ra câu hỏi, đặt câu hỏi trở về trong khung cảnh thời
gian và không gian đặc biệt của nó.
Trước
hết ta nên hỏi chữ "Phật giáo" mà ta đang dùng trong câu
hỏi trên đây có nghĩa gì ? Hiểu Phật giáo theo nghĩa một
nền tư tưởng và đạo học hay hiểu Phật giáo
như là một tổ chức Giáo Hội ?
Nếu
hiểu Phật giáo là một nền tư tưởng và đạo học thì
có lẽ ta sẽ đứng trên mảnh đất thuần lý thuyết để
trả lời câu hỏi. Ta sẽ trả lời rằng với tinh thần ấy,
với những nhận định ấy, với những giáo lý ấy, Phật
giáo có thể đóng góp được như thế này và như thế kia.
Ta có thể không cần nhìn vào tổ chức Giáo hội Phật giáo
để mà trả lời. Nhưng nếu hiểu Phật giáo là một tổ
chức Giáo hội thì vấn đề sẽ mang những sắc thái rất
khác biệt. Ta sẽ trả lời rằng với cơ cấu tổ chức ấy,
với số người ấy, với những nhà lãnh đạo ấy, với khả
năng và nội dung ấy, Giáo hội Phật giáo có thể đóng góp
được như thế này và như thế kia. Tuy không có thể tách
bạch ra một cách rõ rệt phạm vi của giáo lý và giáo
hội, ta cũng thấy rằng cần phải phân biệt phạm vi của
lý thuyết và thực hành, và tất cả chúng ta đều ước muốn
có sự trả lời về cả hai phương diện ấy của vấn đề.
Ở
đây chúng tôi không dám mạo muội đưa ra những câu trả
lời. Chúng tôi chỉ xin đưa ý kiến của chúng tôi về vấn
đề phải đặt câu hỏi như thế nào để chúng ta có thể
tìm thấy những câu trả lời một cách rõ rệt, xác thực
và do đó, hữu ích.
Đứng
về phương diện giáo lý, chúng ta phải công nhận rằng đạo
Phật không có "một" giáo lý mà có rất nhiều giáo lý. Kinh
điển thường nói đến "tám vạn bốn ngàn pháp môn" hay là
tám vạn bốn ngàn nẻo vào chân lý. Suốt cuộc đời Ngài,
đức Phật đã giảng giải rất nhiều pháp môn và những
pháp môn ấy có những công dụng riêng biệt để đối trị
với nhiều căn cơ riêng biệt. Nhưng tất cả pháp môn đều
được thi thiết trên căn bản những nguyên lý linh động,
những nguyên lý này chỉ hiển lộ trước công trình thực
hiện cứng nhắc bất biến. Bởi thế trên lịch sử đạo
Phật bao nhiêu hệ thống giáo lý đã được tạo dựng để
có thể làm sống được những nguyên lý Phật giáo trong cuộc
đời. Tất cả những hệ thống giáo lý ấy tuy mang nhiều
sắc thái đặc thù khác biệt nhưng vẫn bắt nguồn từ những
nguyên lý linh động kia để mà thể hiện những nguyên lý
linh động kia. Vậy khi ta hỏi rằng Phật giáo có thể đóng
góp được gì trong tình trạng, ta nên nghĩ đến những nguyên
lý đạo Phật hơn là những hệ thống giáo lý tìm thấy trong
lịch sử đạo Phật. Bởi vì mỗi pháp môn là để đối
trị một trường hợp. Một pháp môn nọ rất thích hợp với
điều kiện thời gian và không gian kia, nhưng không thể thích
hợp với điều kiện thời gian và không gian này. Cho nên muốn
trả lời câu hỏi ta nên có nhận thức khá bao quát và đích
xác về đạo Phật, nghĩa là về tinh thần, nguyên lý và phương
pháp của đạo Phật. Chỉ có trong tay một mớ những giáo
lý khô chết bất động thì ta không thể nào tìm ra giải
đáp. Đó là cái khó khăn thứ nhất.
Cái
khó khăn thứ hai là giải đáp của câu hỏi chỉ có thể
tìm thấy khi ta cũng nắm chắc được trong tay sự thực và
tình trạng hiện thời của dân tộc của xã hội. Giải
đáp bao giờ cũng nằm sẵn trong vấn đề, nếu vấn đề
được đặt ra một cách chính xác. Có một nhận thức
rõ rệt về cơ (thực trạng của vấn đề) thì rất dễ đi
đến sự phát kiến về lý (sự giải đáp về đường
lối và phương pháp). Khế cơ và khế lý là nguyên tắc của
mọi giải đáp trong Phật học. Cho nên, dù sao ta cũng không
thể đứng trên lập trường thuần lý thuyết để tìm ra
giải đáp. Nếu nguyên lý hướng dẫn đã là khế cơ
và khế lý thì phương pháp phải là thực nghiệm. Nương
vào lý để thấy rõ cơ và ở trong cơ để tìm thấy lý:
điều đó cho chúng ta thấy khuynh hướng đi vào thực nghiệm
tâm linh và thực nghiệm xã hội để làm cơ sở cho mọi giải
đáp có tính cách thực tế và hữu hiệu.
Tóm
lại, chữ Phật giáo trong câu hỏi phải có nghĩa là
những nguyên lý hữu hiệu và linh động của đạo Phật,
và chữ tình trạng hiện thời phải có nghĩa là tình
trạng Việt Nam hiện nay. Hai thứ đó không thể tách rời
nhau để hiện hữu. Bởi vì muốn có tính cách hữu hiệu,
giáo lý phải được khế hợp với tình trạng. Không khế
hợp, thì đó là giáo lý cho một tình trạng khác mà không
phải cho tình trạng Việt Nam bây giờ.
Bây
giờ ta hãy bước sang mặt Giáo hội. Cố nhiên Giáo hội không
phải là Giáo đoàn nguyên thỉ (mấy ngàn năm về trước),
mà là Giáo hội Việt Nam. Cũng không phải Giáo hội Việt
Nam Lý Trần, mà là Giáo hội Việt Nam Thống Nhất Nam và Bắc
Tông ngày nay. Nói tới Giáo hội ngày nay tức là nói đến
những nhà lãnh đạo Phật giáo trong Viện Tăng Thống, nói
đến các bậc Trưởng Lão Hòa Thượng, các bậc Cao Tăng,
tức là nói đến Viện Hóa Đạo và toàn thể các giới Phật
tử xuất gia và tại gia nằm trong hệ thống tổ chức của
Giáo hội. Nói tới Giáo Hội cũng tức là nói đến hiến
chế (giáo chế) và tài sản (giáo sản) của Giáo hội. Trả
lời câu hỏi Phật giáo có thể đóng góp được gì cho tình
trạng hiện thời của dân tộc, ta phải có trong tay những
nhận thức xác thực về cơ cấu tổ chức, về tinh thần
về khả năng thực hiện giáo lý của Giáo hội. Điều này
được xem như là dĩ nhiên và rất đơn giản. Ta không thể
không có một cái nhìn thông suốt về Giáo hội mà có thể
trả lời được câu hỏi trên kia.
Tuy
nhiên ta cũng phải có một cái nhìn rất thực tế và chân
xác về thực trạng xã hội Việt Nam ngày nay, để đặt rõ
địa vị và phạm vi của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong
tình trạng xã hội Việt Nam hiện tại. Có như thế, lời
giải đáp về câu hỏi " Phật giáo có thể đóng góp được
gì" mới có thể thực tế, bổ ích. Bởi vì ta có thể, vì
không nhìn nhận được rõ rệt khả năng của Giáo hội và
thực trạng xã hội, đi đến nhiều kết luận hoặc lạc
quan và lý tưởng quá, hoặc bi quan và an phận quá. Ta có thể
ước mơ quá nhiều, rồi khi nhìn thấy Giáo hội Phật giáo
không thể đóng góp được cái mà ta tưởng Giáo hội có
thể đóng góp, ta sẽ ngạc nhiên, than trách và thất vọng.
Ta lại cũng có thể bi quan quá đỗi khi ta tưởng rằng Giáo
hội Phật giáo "không thể" làm được những cái mà quả
thực Giáo hội có thừa khả năng thực hiện. Cho nên vấn
đề vẫn lại là nhìn cho tỏ, xét cho kỹ và đừng để mất
liên lạc với sự thực.
Ai
cũng muốn đặt câu hỏi về những đóng góp của Phật giáo
bởi vì ai cũng biết rằng Phật giáo là một thực tại (une
réalité) quan trọng và đáng kể. Một vườn cao su, một con
đường xa lộ, một nhà xuất nhập cảng chẳng hạn, cũng
là những thực tại có liên hệ đến vận mạng tương lai
của dân tộc, nữa là một Tôn giáo đã có mặt gần 2000
năm trong lịch sử dân tộc, đã từng đóng góp đáng kể
cho sinh hoạt dân tộc và hiện đang là tôn giáo lớn nhất
ở Việt Nam. Cố nhiên Giáo hội tuy là một tập đoàn tôn
giáo nhưng cũng là một tập đoàn dân tộc như các tập đoàn
khác, và sở dĩ người ta nghĩ nhiều đến sự đóng góp của
Phật giáo bởi vì tập đoàn Phật giáo không phải chỉ là
một tổ chức non yếu mà là cả một cơ sở Giáo hội có
truyền thống hàng ngàn năm, có uy tín tinh thần cao cả và
có số lượng quần chúng trọng đại nhất. Tuy thế ta vẫn
phải nhớ rằng dù với khả năng nào Phật giáo cũng vẫn
chỉ có thể đóng góp với tư cách là Phật giáo mà thôi.
Và điều đó là một điều vô cùng quan trọng.
Bởi
vì Giáo hội Phật giáo không phải chỉ là một đoàn thể
gồm có những người công dân Việt Nam - mà là một đoàn
thể những người công dân Việt Nam cùng theo đuổi sư thực
hiện một lý tưởng tôn giáo, nói khác hơn, là đoàn thể
của những người công dân Phật tử được lãnh đạo bởi
lý tưởng Phật giáo. Và nếu ta nói đến sự đóng góp của
Phật giáo tức là nói đến sự đóng góp của đoàn thể
những người công dân với tư cách là Phật tử. Và
lẽ cố nhiên nếu thiếu bản chất Phật tử, thiếu lý tưởng
Phật giáo thì một đoàn thể nào đó chỉ có thể là một
đoàn thể công dân chứ không thể là một Giáo hội Phật
giáo được, và cá nhân trong đoàn thể ấy chỉ có thể đóng
góp với tư cách người công dân chứ không thể với tư cách
Phật tử, bởi vì cá nhân ấy không phải là Phật tử. Mà
điều kiện là Phật tử của một cá nhân hoặc một đoàn
thể là ở chỗ cá nhân ấy đoàn thể ấy được soi sáng
bởi lý tưởng Phật giáo và đang thực hành lý tưởng Phật
giáo.
Chúng
tôi xin lấy một ví dụ. Khi ta hỏi "người thợ hồ có thể
đóng góp được gì cho công việc xây cất ngôi chùa," câu
trả lời sẽ như thế này: "người thợ hồ có thể đóng
góp bằng cách xây móng, xây tường." Tất cả chúng ta ai cũng
chấp nhận câu trả lời ấy bởi vì thợ hồ ngoài công việc
vôi hồ, không làm được việc khác, như việc của thợ mộc,
thợ điện… Tuy nhiên câu trả lời vẫn phải dựa trên một
sự thực mà ta đã yên trí không nghĩ tới: đó là sự kiện
người thợ hồ kia là đúng một người thợ hồ, có khả
năng thực sự đúng một người thợ hồ, có khả năng thực
sự về nghề vôi hồ. Nếu không biết về nghề vôi hồ,
thì người ấy không thể đóng góp cho sự xây cất ngôi nhà
với tư cách thợ hồ được.
Thế
nên người Phật tử, muốn đóng góp gì cho tình trạng, phải
thực sự là Phật tử trước đã. Có là Phật tử mới có
thể đóng góp với tư cách Phật tử được. Điều
này phải được áp dụng cho tất cả các tập đoàn công
dân Việt Nam, dù tôn giáo hay không tôn giáo. Một tổ chức
Giáo hội mà không nhắm đến sự thực hiện lý tưởng tôn
giáo mình thì không thể gọi được là một tổ chức biểu
hiện được tính cách từ bi, hùng lực, không cố chấp, bất
bạo động v.v… thì không phải là Giáo hội Phật giáo. Giáo
hội Thiên Chúa Giáo mà không phản ảnh được tinh thần bác
ái, nhẫn nhục, huynh đệ thì cũng không có thể gọi là Giáo
Hội Thiên Chúa Giáo được nữa. Rút lại, Phật giáo phải
là Phật giáo, Thiên Chúa giáo phải là Thiên Chúa giáo, và
như thế phải bắt đầu bằng nguyên tắc chính danh của Khổng
phu tử.
Sự
việc trên trình bày cho ta thấy nhiều khía cạnh thực tế
của hiện trạng. Nói đến hình thái và bản chất của một
tôn giáo, ta thấy có khi tôn giáo vì chuộng sự phát triển
hình thức phát triển thế lực của mình mà dùng đến những
phương tiện phản lại với nội dung và bản chất của tôn
giáo mình. Như thế tức là giết chết bản chất để phát
triển hình thức: điều này là một sự thực trong lịch sử
tôn giáo của nhân loại. Trong sự tranh giành ảnh hưởng,
tôn giáo này va chạm với tôn giáo khác và bắt buộc tôn
giáo khác phải tự vệ. Lắm khi các phương tiện va chạm
hoặc tự vệ ấy không phản chiếu đúng tinh thần cao đẹp
của tôn giáo và vì thế các Giáo hội đi dần đến sự giết
chết bản chất cao đẹp của lý tưởng tôn giáo mình. Điều
đó quả thực là một bi kịch đớn đau cho nhân loại. Rốt
cuộc lại, lắm khi chỉ còn những cái vỏ cứng va chạm nhau
nẩy lửa, trong khi phần ruột thì khô héo và tiêu ma dần
dần. Đó là sự tai hại của khuynh hướng chinh phục.
Để
vấn đề được tỏ rõ, chúng ta hãy xét sự khác biệt của
hai tiếng truyền đạo và hành đạo. Thực ra cả
hai tiếng đều đẹp cả nhưng hình như theo thiển ý bây giờ
tiếng hành đạo đẹp hơn nhiều. Có lẽ vì chúng ta
không thấy ở tiếng hành đạo cái ý nghĩa chinh phục mà
đôi khi tự nhiên ta thấy thấp thoáng trong tiếng truyền
đạo.
Sự
thực chữ truyền đạo chỉ có nghĩa đem phổ biến một nền
đạo lý trong nhân loại; mà vì đạo lý là những gì hay đẹp
nên công tác truyền đạo có một ý nghĩa tốt lành và đẹp
đẽ. Nhưng mà có những nhà truyền đạo đi quá mức ấy:
họ nhắm tới chinh phục cho được nhiều người để cho
giáo hội thêm mạnh và thêm thế lực. Vì vậy có khi họ
không từ nan những phương tiện mà chúng ta cho như không được
đẹp, ví dụ như dọa dẫm, khuyến dụ, cho tiền cho gạo,
hứa hẹn quyền bình và thế lực. Những phương tiện ấy
không "quân tử," chúng ta nghĩ, và làm mất (làm chết) giá
trị nội dung của Giáo hội, tức là bản chất của đạo
lý. Có những phương tiện truyền đạo mà ta không có thể
nói là tốt hay xấu bởi vì còn tùy theo tinh thần thực hiện
những phương tiện ấy. Ví dụ như lập trường dạy học,
nuôi trẻ mồ côi, làm bệnh viện, bố thí cho người nghèo…
Tinh thần bác ái, từ bi cứu thế v.v… có thể lưu nhuận
trong nhân gian qua những công tác trên, nếu đó là những công
trình hành đạo. Còn nếu coi đó là những phương tiện
chinh phục, giữ người, xâm chiếm, thì ta thấy chúng trở
thành xấu xí đi rất nhiều.
Chắc
chắn các tôn giáo có thể có nhiều đóng góp rất lớn lao
cho tình trạng hiện thời của dân tộc, ai cũng tin như thế.
Nhưng ai cũng biết rằng một tổ chức tôn giáo chỉ có thể
đóng góp hữu hiệu với tinh thần cao đẹp của tôn giáo
mình. Người Phật tử phải đóng góp với tư cách Phật tử,
nghĩa là phải thực sự thực hiện lý tưởng đạo Phật.
Phải đem đạo lý thực hiện trên bản thân và trong hành
động. Phải thực sự hành đạo, và như thế phải phổ biến
tinh thần cao đẹp của lý tưởng Phật giáo bằng hành động.
Đó là phương thức đóng góp hữu hiệu hơn hết.
Chỉ
đứng về phương diện "vô vi" mà thôi ta cũng đã thấy rằng
một tôn giáo có thể chuyển hóa được tình trạng hiện
thời. Nếu tất cả quần chúng Phật tử đều được soi
sáng bởi một đường lối sáng tỏ biểu hiện được cho
con đường cao quý của Phật giáo, nếu tất cả được quy
tụ trong tình thương không mưu lược, không kỳ thị, không
cố chấp, không tự ái, không oán thù, thì nội một sự có
mặt của Giáo hội Phật giáo trên mảnh đất này không
thôi cũng đủ bảo đảm cho hòa bình và an lạc của dân tộc.
Sự hiện diện của đạo đức chân thực là một đóng góp
căn bản. Chúng ta đừng nên nóng ruột, thúc hối. Tất cả
những "đóng góp" hữu vi nào mà còn không được thúc đẩy
bởi động cơ thương yêu và đạo đức đều còn là gây
rối thêm cho tình trạng. Chúng tôi có thể bị mắng là trong
tình trạng này mà còn nói đến chuyện tu hành nhưng kỳ thực
chúng tôi chỉ còn tin được ở những cố gắng đích thực
là đạo đức ở từng cá nhân, như những viên đá nền
tảng của những đóng góp lớn lao mà các Giáo hội có thể
thực hiện.
Và
vì thế chúng tôi ước mong khi tìm giải đáp cho câu hỏi:
"Phật giáo có thể đóng góp được gì cho tình trạng hiện
thời của dân tộc" xin quý ngài đừng quên lời tâm nguyện
của chúng tôi là trong niềm tin tưởng đạo Phật có thể
đóng góp rất lớn lao cho lịch sử, chúng tôi đòi hỏi đạo
Phật trước tiên phải giữ phong độ đạo Phật.
