Đức tin là một
yếu tố quan trọng nhất trong những yếu tố cấu thành xã
hội tính của con người. Nhờ xã hội tính mà các quốc gia
hay các liên bang thực hiện được sự đoàn kết để thống
nhất ý chí và tạo nên thế trung hòa giữa các khối trên
thế giới. Không ai không công nhận tính chất trọng yếu
của tôn giáo trong hiện tình chính trị cũng như trong lịch
sử chính trị, và dù có sự phân định rõ rệt giữa giáo
quyền và chính quyền, người ta cũng thấy vai trò quan trọng
của hàm số tôn giáo trong bài toán chính trị. Auguste Comte
khi chủ trương thuyết "ba thời kỳ," nói rằng thời đại
chúng ta là thời đại của khoa học thực nghiệm, và mọi
xây dựng đều phải thực hiện trên khoa học thực nghiệm.
Theo ông thời kỳ trước thế kỷ thứ mười sáu là thời
kỳ tôn giáo, từ thế kỷ mười sáu đến đầu thế kỷ
thứ mười chín là thời kỳ của triết học, từ thế kỷ
thứ mười chín trở về là thời kỳ của khoa học. Sự phân
định ranh giới của ba thời kỳ đó không được đích xác
và không cho ta thấy rõ vai trò của tôn giáo và của triết
học trong hiện đại. Thực ra, ba thứ tôn giáo, triết học
và khoa học đều có nguồn gốc riêng và lịch trình diễn
biến riêng, và cả ba đều là những biểu hiện cụ thể
cho tư tưởng nhân loại. Vào thời cổ đại, tuy không khí
tôn giáo bao trùm mọi sinh hoạt nhưng tư tưởng tôn giáo vẫn
còn non nớt, và ta không thể không công nhận sự hiện diện
của một ít suy luận triết học tuy cũng rất ấu trĩ. Khoa
học lúc này cũng đã được khởi đầu trong những hình thái
đơn giản nhất. Điều này có thể nhận thức qua ý hướng
tìm kiếm và sáng tạo những khí cụ và vật dụng cần cho
sinh hoạt hằng ngày. Lợi dụng sức nước để giã gạo,
phát sinh ra lửa để nấu nướng v.v… đó là những thành
tích ban đầu của khoa học. Không có thời kỳ ấu trĩ thô
vụng thì làm gì có thời kỳ trưởng thành tinh xảo ?
Từ thế kỷ thứ mười
chín đến nay, khoa học tiến triển một cách vô cùng nhanh
chóng, và chịu ảnh hưởng ấy, triết học cũng rất có tiến
bộ. Triết học Tây phương cận đại từ độ ấy đã bắt
đầu được kiến thiết trên những khám phá khoa học nên
đã lìa bỏ được rất nhiều giả thuyết và huyền đàm
vu vơ, thiếu căn cứ. Một mặt, triết học xông vào lĩnh
vực tôn giáo để chỉ rõ những gì chỉ là thần thoại và
huyển tượng, một mặt khác phóng những chân trời mới cho
khoa học hướng tới. Cả ba giòng tôn giáo, triết học và
khoa học vì thế đều được thúc đẩy tiến bộ. Nhận thức
về tôn giáo, dù muốn công nhận hay không, cũng đã biến
đổi một cách đáng kể. Triết học và khoa học không phụ
thuộc vào thần học như ở thời Trung cổ nữa mà đã tách
riêng ra một cách hoàn toàn độc lập và trở về chỉnh lý
cho nhận thức tôn giáo.
Những tư tưởng gia
quá khích đã cho rằng thời đại mới chỉ cần đến khoa
học. Đây là một điều nhầm lẫn bởi vì giữa khoa học
và triết học có những liên hệ mật thiết, nhất là những
liên hệ có tính cách khai thông và gợi ý về phần triết
học. Về phần tôn giáo, lịch sử đã chứng tỏ rằng tôn
giáo là nền tảng, là yếu tố quan trọng của đoàn kết
xã hội. Tín ngưỡng tính cũng là xã hội tính
của con người. Nói rằng thời đại khoa học không cần đến
tôn giáo hoặc nói rằng phải hủy bỏ tôn giáo tức là không
nhận thức được sự thực ấy, tức là tin tưởng quá ở
giá trị của thuyết tam thời kỳ của nhà triết học Pháp.
Cứ nhìn vào thực trạng
xã hội thế giới ngày nay thì biết. Tôn giáo đang đóng vai
trò tạo nên xã hội tính của các khối. Đại khái khối
Âu Châu có Công giáo, khối Cận Đông có Hồi giáo, khối
Trung Đông có Ấn giáo. Còn khối Cộng sản thì có tôn giáo
Mác Xít. Những người theo chủ nghĩa ấy thì tin vào đó như
con đường duy nhất của nhân loại, tin một cách thiết tha
và say mê không khác nào tin ở thần minh. Lá cờ màu đỏ
và chủ nghĩa xã hội là những thần tượng được tôn sùng,
và ý chí của nhân dân được tập trung nơi ấy để đi đến
sự hoàn thành hình thức Cộng sản đảng trị. Như thế tức
là Cộng sản cũng cổ xúy cho một thứ tôn giáo. Cho nên khi
hô hào diệt tôn giáo, người Cộng sản cũng chỉ muốn nói
đến sự bỏ những tôn giáo cũ để thành lập một tôn giáo
mới mà thôi.
Và rốt cuộc ta thấy
xã hội không thể không có những hệ thống tín ngưỡng được
xem như yếu tố tạo thành xã hội tính. Yếu tố tôn giáo
trong thế thăng bằng của chính trị là một cái gì không
thể phủ nhận được.
Nhưng có hai câu hỏi
được đặt ra. Câu hỏi thứ nhất liên hệ đến sự phân
biệt ranh giới giữa tôn giáo và chính trị, câu hỏi thứ
hai liên hệ đến bản chất của tôn giáo và ảnh hưởng
tôn giáo trong sinh hoạt xã hội và trong những xung đột chủ
nghĩa.
Ta hãy đặt câu hỏi
thứ nhất. Nếu tôn giáo là chất liệu của xã hội tính,
và nếu chính trị là quyền bính sử dụng xã hội tính ấy
để thực hiện những điều mơ ước, thì đâu là ranh giới
và quyền hạn giữa giáo quyền và chính quyền ? Giáo quyền
và chính quyền có phải là hai thứ quyền hạn hoàn toàn không
lệ thuộc gì nhau không? Theo chúng tôi tưởng, mọi sự giản
lược hóa vấn đề đều không đem đến cho ta một cái nhìn
xác thực. Mọi hiện tượng trong xã hội đều có liên hệ
với nhau một cách rất mật thiết và không bao giờ có những
ranh giới tuyệt đối giữa hiện tượng này với hiện tượng
kia, đúng như nguyên lý vô ngã đã cho ta thấy. Vì vậy trong
khi xét vấn đề chúng ta phải cố gắng tránh lề lối cắt
xén, bằng trí óc ta, cái thực tại phiền tạp kia ra thành
nhiều miếng nhỏ rời rạc.
Đối tượng của tôn
giáo là con người mà đối tượng của chính trị cũng là
con người, và dù con người tinh thần hay con người vật chất
cũng là con người, cũng là những khía cạnh liên hệ nhau
của con người. Như thế làm sao tôn giáo và chính trị không
có những tương quan cho được. Điều ta có thể nói là trong
khi chính trị dùng những quyền hành quân sự thì tôn giáo
dùng những quyền hành tinh thần và tình cảm; trong khi chính
trị dùng những phương tiện luật pháp thì tôn giáo dùng
những phương tiện đạo đức.
Một bên là pháp trị
và một bên là đức trị. Nếu có sự áp dụng đức trị
thêm vào trong mặt pháp trị tức là có sự sử dụng tinh
thần tôn giáo đạo đức trong phạm vi chính trị. Trong phạm
vi tôn giáo nhất là trong những tôn giáo mà giáo quyền quyết
định mọi sự áp dụng pháp trị. Và như thế phương pháp
của chính trị được áp dụng ít nhiều trong phạm vi tôn
giáo. Đáng lý ra, theo ước muốn của con người, tôn giáo
chỉ được thuần túy dựng trên đức trị. Ta cũng nên hiểu
tôn giáo như những lực lượng văn hóa mà trung tâm là một
ý thức hệ. Tôn giáo cũng như chính trị, nhắm đến đối
tượng con người và đến sự thực hiện thế giới lý tưởng
của con người, hoặc ngay trên trái đất này, hoặc ở một
thiên đường ngoài trái đất này. Nhưng dù trên trái đất
này hay ở một thiên đường ngoài trái đất này thì cũng
vẫn là những con người này, những con người mà ta gặp
gỡ và cùng chung sống hôm nay. Cũng những con người ấy chịu
ảnh hưởng, chịu sự hướng dẫn, chịu sự chi phối và
chịu những mệnh lệnh của tôn giáo và của chính trị -
dù là do chính con người tạo ra. Và như thế phải có mâu
thuẫn, bởi vì có hơn một đường lối, hơn một mênh lệnh.
Từ xưa đến nay đã có những chống báng và những hợp tác
giữa các nhà văn hóa (ta tạm gói chữ tôn giáo trong chữ
văn hóa) và các nhà chính trị. Các nhà chính trị luôn luôn
đi tìm những nhà văn hóa để lợi dụng (xin nói trắng -
với lại chữ lợi dụng không có nghĩa gì xấu), bởi vì
chính trị nào cũng phải có quần chúng mà tư trào văn hóa
nào lôi kéo được quần chúng thì có thể bảo đảm cho sự
đứng vững của một thế chính trị. Ta hãy lấy ít ví dụ
ở xã hội nông nghiệp Trung Hoa ngày xưa. Một nền văn hóa
chủ trương đề cao chữ Trung cố nhiên được các ông vua
ưa thích. Chữ Trung đã mang ý nghĩa trung với một ông vua,
trung với một triều đại, một dòng họ. Và lệnh vua phải
được triệt để tuân theo, dù đó là lệnh ban cho mình cái
chết: "quân sử thần tử, thần bất tử bất trung." Giáo
lý Trung quân khi đã được nhiều người theo và sùng kính
như một nguyên lý tôn giáo (đó là công trình của nhà văn
hóa cũng như nhà tôn giáo) có thể bồi đắp và giữ gìn
một cách rất hữu hiệu cho sự tồn tại của một ông vua,
một chính quyền. Thường thường một ông vua, vì muốn tỏ
cho người sĩ phu biết là mình phục thiện, mới miễn cưỡng
bằng lòng nguyên tắc: "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh," kỳ thực rất muốn người ta xem mình như là cha mẹ.
Không những thế, còn bằng lòng tự nhận mình là con trời
nữa, như sự sắp xếp của nhà văn hóa và tôn giáo. Thờ
vua trở thành một tôn giáo, bởi vì vua không những là nhà
chính trị mà còn là thiên tử, người thuận thiên hành đạo.
Và giáo quyền hợp lực với quân quyền. Cả hai bên đều
có lợi, một bên là chính quyền được vững chãi, một bên
là giáo quyền và giáo lý được nâng đỡ, tôn giáo, phát
triển ảnh hưởng và thế lực trong quần chúng. Nếu nhà
chính trị đi tìm nhà văn hóa, thì nhà văn hóa cũng đi tìm
nhà chính trị. Tuy nhiên ta phải ghi nhận điều này: thường
thường nhà chính trị, vì tin tưởng quá nhiều ở khả năng
của quyền bính pháp trị, nên có thể tìm đến với bất
cứ một tư trào văn hóa nào tạo được xã hội tính mạnh
nhất trong xã hội mình, trong khi đó nhà văn hóa (tôi nói
nhà văn hóa chân chính) thường chỉ nhìn vào khả năng thực
hiện đường lối văn hóa mình nơi nhà chính trị để mà
chọn mặt gửi vàng. Lý do là các nhà văn hóa biết rằng
nếu có nhà chính trị giỏi chịu đi theo họ thì họ sẽ
có thêm một phương tiện sắc bén nữa để thực hiện nền
văn hóa ấy, ngoài những phương tiện văn hóa của chính họ.
Những nhà văn mà cứ xu phụ vào bất cứ một chính quyền
nào thì đều là những nhà văn hóa nô dịch không có lý tưởng.
Những nhà văn hóa có lý tưởng thì luôn luôn hướng đến
một tương lai đẹp hơn hiện tại, và có ý dùng lực lượng
văn hóa của họ để buộc nhà chính trị thực hiện ước
muốn chân chính và tiến bộ của lý tưởng kia. Văn hóa nào
cũng muốn là văn hóa dân tộc, tôn giáo nào cũng muốn là
quốc giáo. Quốc giáo không phải như một chức vị, mà là
một hiện thực, để mà thực hiện lý tưởng. Trong xã hội
ta ít ai chịu đựng được ý niệm một quốc giáo, nhưng
mà sự thực của tâm trạng các nhà tôn giáo thì chưa chắc.
Cố nhiên là nhà chính
trị "sợ" nhà văn hóa trong trường hợp nhà văn hóa không
ủng hộ cho mình và còn muốn cho mình làm những điều mà
nếu mình làm thì mình phải đổ. (Như trong trường hợp nhà
chính trị độc tài: độc tài là phương tiện để đứng
vững lâu thêm). Và vì vậy có hiện tượng đàn áp những
tư trào văn hóa nào có cơ hội kéo được đa số quần chúng
theo và đang là một sự đe dọa cho sự tồn tại của chính
quyền. Chỉ có những nhà văn hóa nô dịch mới được bảo
đảm trong một chính thể độc tài, còn những nhà văn hóa
chống đối bao giờ cũng bị đe dọa. Khi một tư trào văn
hóa lớn mạnh, nhà chính trị sẽ không dám đe dọa nữa và
bắt buộc phải vuốt ve, hoặc thoa dịu, hoặc nâng chiều.
Sự nâng chiều đứng đắn nhất là thực hiện sốt sắng
những lý tưởng văn hóa kia dù sự thực hiện đó đòi hỏi
can đảm, nhượng bộ và hy sinh. Trong trường hợp một tư
trào văn hóa nào đó mà được hướng dẫn bởi những động
cơ quyền thế và danh lợi, và nếu tư trào đó lớn mạnh
thì đó là một điều đại bất hạnh cho xã hội. Chính quyền
sẽ phải xu phụ theo đó, nếu muốn đứng vững; và xu phụ
theo tức là phụng sự cho bóng tối và cho đau khổ của xã
hội. Nhà văn hóa mà đi lầm đường thì còn tàn hại hơn
nhà chính trị nhiều. Trong khi nhà chính trị đi tìm hậu thuẫn
quần chúng nơi nhà văn hóa thì nhà văn hóa, ngoài công việc
phát huy hướng dẫn và thực hiện bằng những phương tiện
của mình, cũng để mắt tới những nhà chính trị mà họ
nhắm có khả năng thực hiện văn hóa họ. Việc đi chu du
của Khổng Tử qua các nước chẳng hạn là để tìm những
chính quyền có thiện chí và khả năng thực hiện đường
lối văn hóa Khổng Tử. Ít có ông vua nào chịu là vì văn
hóa đó chưa phải là một thực thể mà mới là một dự
án. Nếu đức Khổng Tử trước tiên chịu khó mở trường
dạy học, chịu khó phổ biến đường lối, làm cho ý thức
hệ mình trở thành xã hội tính của một xứ sở thì không
cần chu du tìm kiếm cũng sẽ có nhà chính trị tìm đến.
Nhưng nhà làm văn hóa không hẳn là để cho nhà chính trị
tìm đến: làm văn hóa là cố thể hiện một ý thức hệ
trong sự sống của con người, bằng những phương tiện sẵn
có trong phạm vi văn hóa. Và chừng đó cũng đã là đáng kể
lắm rồi. Khi văn hóa đã trở thành sự soi sáng cho ước
vọng và ý chí của quần chúng thì tự khắc bằng cách này
hay cách khác nó được thực hiện. Chất liệu văn hóa của
một lực lượng xã hội bao giờ cũng có ảnh hưởng trên
sinh hoạt mọi mặt của xã hội ấy. Nhà chính trị bao giờ
cũng cần đến nhà văn hóa và do đó không thể nào có sự
phân biệt rõ rệt về phương diện nội dung. Chính trị muốn
văn hóa phục vụ mình và văn hóa cũng muốn chính trị phục
vụ mình: đó là một sự thực lịch sử. Tôn giáo, dưới
con mắt của nhà xã hội học, nằm gọn trong phạm vi văn
hóa, và vì vậy cũng nằm trong sự thực đó. Nhà thần học
có thể không đồng ý về điểm này.
Nếu có ranh giới giữa
văn hóa và chính trị thì ranh giới đó chính là sự phân
biệt những khí cụ, những phương tiện. Nhà chính trị có
những khí cụ và phương tiện khác nhà văn hóa; sự lạm
dụng khí cụ của nhau khiến cho hai bên dính vào nhau và văn
hóa sẽ mất đặc tính văn hóa.
Rõ ràng nhất là trong
trường hợp tôn giáo: tôn giáo xen vào chính trị có nghĩa
là tôn giáo muốn dùng đến những phương tiện chính trị
hoặc để thực hiện lý tưởng mình hoặc để phát triển
uy quyền và thế lực mình trong xã hội. Có thể có tôn giáo
quan niệm rằng điều đó là điều tự nhiên, nhưng cũng có
những tôn giáo khác không thể chấp nhận như vậy. Ví dụ
trong trường hợp đạo Phật. Đạo Phật có thể nhận sự
bảo trợ của chính quyền trong trường hợp nhà chính trị
thấy lý tưởng đạo Phật thích hợp với đường lối họ
(như trường hợp vua Asoka ở Ấn và các vua triều Lý Việt
Nam) nhưng đạo Phật không bao giờ muốn nắm lấy quyền bính
hoặc có ý thao túng chính quyền. Tuy thế có những tôn giáo
tự nhận quyền hành chỉ đạo tinh thần cho cả chính trị
và như thế, ngoài phương diện đức trị, những tôn giáo
ấy, qua trung gian của chính quyền, dùng cả phương tiện pháp
trị nữa. Người lãnh đạo tôn giáo trở thành vua của các
ông vua, tổng thống của các ông tổng thống. Ở những xã
hội chỉ có một tôn giáo đáng kể thì điều này có thể
thực hiện, nhưng ở những xã hội có nhiều tôn giáo, điều
này là một điều nguy hiểm.
Tôn giáo đã đành phải
có những đóng góp trong xã hội - đóng góp những gì rất
quan trọng như là tạo nên xã hội tính chẳng hạn - nhưng
chỉ có thể đóng góp với tư cách tôn giáo. Nếu không, tôn
giáo sẽ không còn là tôn giáo nữa. Nói rằng hàm số tôn
giáo rất quan trọng trong bài toán chính trị không có nghĩa
là nói rằng tôn giáo có thể đóng vai trò chính trị. Nếu
tôn giáo không còn là hàm số tôn giáo nữa mà lại là một
thứ hàm số khác.
Bây giờ ta hãy thử
xét đến câu nói thứ hai, câu hỏi có liên hệ đến vấn
đề bản chất và ảnh hưởng của tôn giáo trong mọi sinh
hoạt xã hội, trong đó có sinh hoạt chính trị. Cố nhiên
ai cũng thấy rằng mọi sinh hoạt xã hội chịu ảnh hưởng
ít nhiều của tôn giáo, nghĩa là chịu ảnh hưởng cái chất
liệu đã tạo nên xã hội tính của con người trong xã hội
đó. Tuy nhiên không phải các tôn giáo đều có công như nhau.
Xã hội chỉ có thể tiến bộ nếu nhận thức về tôn giáo
có tiến bộ. Những nhận thức cố chấp về tôn giáo đã
kềm hãm sự tiến bộ của nhân loại nhiều lắm, lịch sử
văn hóa cho ta thấy điều đó. Nhưng tiến bộ của xã hội,
trong đó có tiến bộ khoa học, giúp cho sự tiến bộ về
nhận thức tôn giáo và ngược lại những tiến bộ về nhận
thức tôn giáo cũng làm điều kiện cho xã hội tiến bộ.
Vậy nên cố chấp vào những giáo điều đã trở thành ngây
thơ trước sự tiến bộ của khoa học tức là cản trở bước
đi của khoa học và cũng tức là quá tin ở sự lý giải của
mình đối với nội dung của tôn giáo mình đang theo.
Tuy nhiên thái độ không
cởi mở của người tín đồ không hẳn là kết quả của
một lề lối nhận thức đã đóng khung người tín đồ ấy
lại, mà còn là kết quả của cái bản chất tôn giáo mà
giáo điều căn bản được xây dựng trên những nhận thức
có tính cách thần thoại và không thể đứng vững hoài được
trước sự tiến bộ của nhận thức khoa học.
Đành rằng tín ngưỡng
tính trong con người là một cái gì không thể tiêu diệt được
và đành rằng đức tin tôn giáo quả thực cần thiết cho
sự kết hợp của các lực lượng xã hội, nhưng có những
tôn giáo (và có những thái độ nhận thức về tôn giáo)
có thể ngăn cản và làm chậm lại sự tiến hóa của tư
tưởng, khoa học, xã hội, và gây nên tâm trạng cuồng tín
rất nguy hại cho nhân loại, trong khi đó có những tôn giáo
có bản chất thích hợp với sự phát triển của tinh thần
tự do, dân chủ và khuyến khích mọi tiến bộ của nhân loại
về phương diện sinh hoạt xã hội cũng như về phương diện
tâm linh, tình cảm.
Tinh thần vô tư của
nhà khoa học và tâm trạng thao thức đi tìm chân lý một cách
khách quan của nhà triết học (chứ không phải là nhà thần
học) cần phải được chiếu rọi vào tôn giáo để giúp
cho nhận thức về tôn giáo được sáng tỏ và tiến bộ.
Một khi con người có được nhận thức tỉnh táo về tôn
giáo (đức tin nơi tôn giáo không cần và không nên là một
đức tin say mê vô điều kiện) thì con người sẽ có những
khám phá mới lạ về tôn giáo và tránh được cho nhau những
va chạm không cần thiết - những va chạm bao giờ cũng gây
oán thù chết chóc và khổ đau cho nhân loại.
