24. Ðức
Phật và Trưởng giả Cấp Cô Ðộc (Anàthapindika)
Nhà triệu phú,
trưởng giả Anathapindika là vị thí chủ lớn nhất ủng hộ
Ðức Phật và tăng chúng, thời Ðức Phật còn tại thế.
Ông vốn tên là Sudatta, nhưng vì ông hay bố thí cho kẻ nghèo
và người mồ côi, mồ cút cho nên người ta tôn gọi ông
là Trưởng giả Cấp Cô Ðộc (Anathapindika). Ông sinh ra ở
Savatthi.
Một lần đến
thành Rajagaha (Vương Xá) có công việc, ông được biết là
Ðức Phật đang ngụ ở rừng Sitavana, ngoài thành Rajagaha.
Ông vui mừng khôn xiết và sáng sớm hôm sau, trải qua một
đêm dài mất ngủ vì quá sung sướng bồn chồn, ông lên đường
đi đến rừng Sitavana. Tại đây, Ðức Phật đang đi kinh hành
ngoài trời và biết trước ông đến, gọi ông bằng tên riêng
Sudatta và thân mật bảo ông lại gần Ngài.
Ông vấn an Phật,
hỏi thăm Ðức Phật có an lạc không, Ðức Phật trả lời:
"Tất
nhiên, bao giờ cũng sống an lạc
Bậc A la hán
trong lòng mọi ngọn lửa đã dập tắt.
Không còn đeo
đuổi theo dục lạc vật chất nữa.
Cõi lòng mát
lạnh, mọi sanh y đoạn tận.
Mọi trở ngại
đều loại trừ, đã khéo chế ngự,
Mọi đau khổ
trong tâm
Bậc A la hán
sống an lạc, hạnh phúc
Vì trong lòng
được an tịnh". (Tương Ưng I, 273)
a) Tinh xá Jatavana
Nghe lời Phật
giảng, ông Anathapindika chứng được Sơ quả (Sotapanna), và
ông thỉnh cầu Ðức Phật sống qua mùa mưa ở Savatthi. Ðức
Phật nhận lời. Ông Anathapindika, trở về Savatthi, mua một
khu vườn của Thái tử Jeta (Kỳ Ðà), và xây ở đây tu viện
Jetavana nổi tiếng.
Sách kể rằng,
ông mua khu vườn bằng số tiền đồng vàng lát đầy diện
tích vườn, theo sự đòi hỏi của Thái tử Jeta. Nhưng Thái
tử không chịu bán cây ở trong vườn, và tự mình đem tất
cả những cây đó cúng dường Ðức Phật. Từ đó, công viên
có tên gọi trong các kinh Phật (Hán dịch) là "Cấp cô độc
viên Kỳ đà thụ". Ðức Phật đã giảng nhiều kinh, và trải
qua 19 mùa mưa ở Tịnh Xá nầy.
Các bài nói chuyện
của Ðức Phật với ông Anathapindika đều có ý nghĩa lớn
đối với người Phật tử tại gia. Trong một bài thuyết
pháp về hạnh bố thí, Ðức Phật nói là "sự cúng dường
cho Phật và chư Tăng là công đức rất lớn, nhưng có công
đức hơn nữa là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, có công
đức hơn 3 quy y là tự mình giữ 5 giới, có công đức hơn
giữ 5 giới là quán về lòng từ trong giây phút; nhưng có
công đức hơn cả là phát triển tầm nhìn trí tuệ thấy
được sự vật như thật và hiểu được tánh vô thường
của sự vật" (Tăng Chi IV, 264 - 265)
Qua đoạn kinh
trên, có thể thấy điều Ðức Phật coi trọng hơn cả đối
với người xuất gia hay tại gia là phát triển trí tuệ, để
nhìn thấy sự vật như thật, đúng bản chất của chúng là
vô thường, vô ngã. Tuy bố thí, cúng dường cũng là điều
quan trọng, đối với người tại gia, nhưng tự mình tu tập,
thực hành nếp sống đạo đức theo 5 giới, nuôi dưỡng lòng
từ lại càng quan trọng hơn, nhưng quan trọng hơn cả là phát
triển trí tuệ, để nhìn được sự vật như thật, nhờ
đó mà không còn bị tham đắm, nội tâm được giải thoát,
tự tại, trí tuệ được trong sáng.
b) Bốn niềm
vui của Phật tử tại gia
Ðức Phật nói
tới bốn niềm vui chính đáng của người Phật tử tại gia,
niềm vui có của cải, niềm vui được giàu có, niềm vui không
có nợ nần, và niềm vui không có gì bị chê trách.
"Thế nào là niềm
vui có của cải? Ở đây, gia chủ có của cải nhờ phấn
đấu tích cực, góp gom được bằng sức của bàn tay, bằng
mồ hôi, đúng pháp, và tích lũy được một cách đúng pháp,
và có ý nghĩ: 'Của cải này là của tôi, có được nhờ
phấn đấu tích cực tích lũy đúng pháp', cho nên niềm vui
và thỏa mãn đến với ông ta. Ðó là niềm vui có của cải".
"Thế nào là niềm
vui được giàu có? Ở đây, vị gia chủ được giàu có nhờ
phấn đấu tích cực, vui vẻ nhờ giàu có và làm nhiều việc
lành. Vì có ý nghĩ 'Nhờ giàu có mà có thể hưởng thụ sự
giàu có và làm các việc lành', cho nên niềm vui và sự thỏa
mãn đến với ông ta. Ðó là niềm vui được giàu có".
"Thế nào là niềm
vui không có nợ nần? Ở đây, vị gia chủ không có nợ nần,
lớn hay nhỏ đối với bất cứ một ai. Vì có ý nghĩ 'Tôi
không có nợ nần, dù lớn hay nhỏ đối với bất cứ một
ai', cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta. Ðó là
niềm vui không có nợ nần".
"Thế nào là niềm
vui không bị chê trách? Ở đây, Vị Thánh đệ tử có niềm
vui vì các hành động của thân, miệng và ý đều không có
gì là đáng chê trách. Với ý nghĩ 'Tôi không có gì đáng
chê trách ở thân, miệng và ý', niềm vui và thỏa mãn đến
với ông ta". (Tăng Chi III, 77 - 78)
Tiếp đó, Ðức
Phật nói trong ba niềm vui trên đây của người tại gia, niềm
vui không có gì đáng bị chê trách nơi hành động, lời nói
và ý nghĩ là ưu việt hơn cả.
c) Bảy loại
người vợ
Một lần, Ðức
Phật đến thăm nhà ông Anathapindika, nghe có tiếng ồn ào
thất thường trong nhà, bèn hỏi nguyên nhân, ông Anathapindika
thưa:
"Bạch Thế Tôn,
đó là Suyata, con dâu tôi đang ở với chúng tôi. Nó giàu có
và đến đây từ một gia đình giàu có, nó không săn sóc
gì tới mẹ chồng, bố chồng và cả chồng nó nữa. Nó cũng
không kính trọng, tôn quý và đảnh lễ Ðức Thế Tôn". Ðức
Phật cho gọi Suyata lại và giảng cho nghe về bảy loại người
vợ:
1. Người
vợ có tâm địa ác, có ý xấu, không có lòng thương, bỏ
rơi chồng mình, yêu những người đàn ông khác, một dâm
nữ, chỉ muốn làm phiền lòng người. Ðó là loại vợ sát
nhân.
2. Người vợ
hay hoang phí của cải tài vật, dù là ít do chồng làm ăn
kiếm được, nhờ cày ruộng, buôn bán hay lao động khéo tay,
đó là loại vợ ăn trộm.
3. Người vợ
lười biếng, không muốn làm gì hết, lại tham ăn, ác độc,
thô bạo, thích nói lời ác, lấn át người chồng siêng năn
cần mẫn. Ðó là loại vợ kiêu xa.
4. Người vợ
trìu mến, thân ái bảo vệ chồng như mẹ bảo vệ con, giữ
gìn tài sản của chồng, đó là loại vợ như mẹ.
5. Người vợ
kính trọng chồng, như em gái đối với anh cả, khiêm tốn,
sống chiều đúng theo ý chồng. Ðó là loại vợ như em út.
6. Người vợ
sung sướng khi thấy chồng, như gặp người bạn cũ sau bao
năm xa cách, thuộc giòng quý tộc, có đạo đức, sống thanh
tịnh. Ðó là loại vợ như bạn bè.
7. Người vợ
dù là bị đối đãi không tốt, nhưng không giận hờn, vẫn
bình tĩnh, chịu đựng mọi hành vi của chồng với lòng từ
mẫn, tâm không biết giận, sống chiều đúng theo ý chồng.
Ðó là loại vợ như người phục vụ.
Ðức Phật sau khi
mô tả bảy loại người vợ nói trên, nói rằng: loại vợ
sát nhân, loại vợ ăn trộm, loại vợ kiêu xa đều là không
tốt, còn loại vợ như mẹ, như em út, như bạn bè, như người
phục vụ là những người vợ tốt, đáng tán thán, và Ðức
Phật hỏi đó là bảy loại vợ mà một người đàn ông có
được, và Suyata muốn là loại người vợ nào?
Suyata trả lời:
"Xin đức Thế Tôn từ nay trở đi nghĩ về cháu là loại vợ
như người phục vụ".
d) Cây bồ
đề Ananda
Ông Anathapindika
thường hay đến thăm Ðức Phật hàng ngày và thấy các Phật
tử tỏ ra thất vọng mỗi khi đến mà không được gặp Phật
vì Phật đi thuyết pháp ở một nơi khác, cho nên hỏi Ðại
Ðức Ananda xem có cách gì để cho Phật tử có thể cúng dường
Phật, dù Ngài vắng mặt. Ðại Ðức Ananda bạch Phật về
chuyện này và hỏi Phật về các vật đáng được cúng dường,
đảnh lễ. Ðức Phật trả lời là có ba loại. Loại đồ
vật thuộc về thân Ðức Phật, loại đồ vật Ðức Phật
thường dùng, và loại đồ vật nhắc nhủ nhớ tới Ðức
Phật.
Ðại Ðức Ananda
hỏi: "Xây một tháp thờ khi đức Thế Tôn còn sống có thích
hợp chăng?"
"Không, một vật
nhắc nhủ nhớ tới Ðức Phật không có cơ sở vật chất,
chỉ có ý nghĩa thuần túy tinh thần. Như cây Bồ Ðề, được
Ðức Phật sử dụng, là một vật đáng cúng dường, dù khi
Ðức Phật còn sống hay là khi Ðức Phật đã diệt độ rồi."
Ðại Ðức Ananda
nói: "Khi đức Thế Tôn đi thuyết pháp ở nơi khác, tu viện
lớn Jetavana nầy không có nơi để quần chúng quy ngưỡng
và cúng dường. Con có thể lấy hạt cây Bồ Ðề lớn ở
Bodhi Gaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng) và gieo nó ở cửa Tinh Xá Jetavana
được không?"
Ðức Phật trả
lời: "Rất tốt, hãy trồng cây Bồ Ðề ở đây. Như thế
khác nào bao giờ Ta cũng có mặt ở Tinh Xá Jetavana nầy".
Ðại Ðức Ananda
nói ý kiến của Ðức Phật với Phật tử tại gia như ông
Anathapindika, nữ gia chủ Visakha và vua Pasenadi xứ Kosala. Ðại
Ðức Ananda nhờ Tôn giả Moggalana (Mục Kiền Liên) tìm cho
một quả Bồ Ðề trên cây Bồ Ðề lớn ở Bodhi Gaya. Ðại
Ðức Ananda đem trồng ở cửa Tinh Xá Jetavana. Cây Bồ Ðề
ấy hiện nay vẫn còn, và được gọi là cây Bồ Ðề Ananda.
e) Ông Anathapindika
qua đời và sinh lên cõi trời Ðâu Suất
Khi ông Anathapindika
lâm bệnh nặng, ông mời Tôn giả Sariputta đến giảng kinh
tại nhà. Cả Ngài Sariputta và Ngài Ananda cũng đến vấn an
ông. Tôn giả Sariputta giảng cho ông nghe một bài kinh sâu sắc.
Nghe bài kinh gần xong, hai mắt ông trào đầy lệ vì quá cảm
động. Ông Ananda hỏi vì sao, thì ông trả lời là ông chưa
từng được nghe một bài thuyết pháp sâu sắc đến thế.
Ngài Sariputta trả lời, đây vốn là một bài thuyết pháp
chỉ giảng cho những Tăng sĩ có trình độ tu học cao.
Ít lâu, sau khi
hai Ngài Sariputta và Ananda ra đi, ông Anathapindika qua đời và
sanh lên cõi Trời Tushita (Ðâu Suất).
Ðến tối, thiên
chủ Anathapindika, với thân hình sáng chói cả khu vườn Jetavana,
đến chào Ðức Phật, tán thán công đức của Tôn giả Xá
Lợi Phất, và bày tỏ niềm vui sướng của mình được thấy
Ðức Phật và chư Tăng ngụ tại Tu Viện Jetavana. Thiên chủ
Anathapindika nói:
"Ý lành và trí
tuệ, tâm được tu tập đúng pháp, lối sống tối cao cả,
dựa trên đạo đức chân chính. Chính điều ấy làm con người
thanh tịnh, chứ không phải danh lợi thế gian".
25. An cư kiết
hạ
Sự nghiệp giáo
hóa và thuyết pháp của Ðức Phật kéo dài 45 năm, từ năm
Ðức Phật thành đạo lúc 35 tuổi cho đến năm tuổi 80, Ðức
Phật nhập Niết bàn. Năm này qua năm khác, Ðức Phật đi
nơi này nơi kia, khi thì đi một mình, khi thì có đông đảo
đệ tử đi theo, thuyết pháp độ sanh, giáo hóa quần chúng
bằng gương sáng cao cả của bản thân, và bằng lời lẽ
đầy trí tuệ. Chỉ vào mùa mưa, ở Ấn Ðộ, thông thường
giữa tháng 7 và tháng 11, Ðức Phật nghỉ lại trong các tu
viện và thuyết pháp tại chỗ, không đi ra ngoài. Tục lệ
này gọi là An cư kiết hạ, được Tăng ni Phật tử duy trì
liên tục cho đến ngày nay, ở khắp các nước có Phật giáo.
Vào mùa an cư kiết hạ, quần chúng là tín đồ hay không tín
đồ, hàng ngày kéo đến đông đảo tại tu viện hay công
viên, nơi có Ðức Phật và Chư Tăng trú ngụ, để được
nghe thuyết pháp, cúng dường Phật và Chư Tăng.
26. Ðức Phật
và vua Pasenadi xứ Kosala
Như đã nói trên,
trong 45 năm giáo hóa và thuyết pháp độ sanh, Ðức Phật hoặc
một mình, hoặc cùng với đông đảo học trò đi lại nhiều
nơi ở vùng trung châu sông Hằng. Nhưng thời gian dài nhất,
Ðức Phật ở tại Savatthi, kinh đô của vương quốc Kosala.
Cũng như Trưởng
giả Anathapindika, vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) xứ Kosala là một
thí chủ lớn của Ðức Phật và Chư Tăng. Ở Savatthi, ngoài
Tinh Xá Jetavana của ông Anathapindika cúng dường Ðức Phật,
còn có tu viện Rajakarama do vua Pasenadi xây cất, để cúng dường
Phật và Chư Tăng.
Hoàng hậu Malika,
vợ vua cũng là một tín đồ thuần thành của Ðức Phật
và khéo hướng dẫn giúp đỡ vua một cách tốt đẹp trong
các vấn đề tôn giáo. Có lần, vua nằm thấy liên tiếp 16
cơn mộng bất thường, các đạo sĩ Ba la môn ở trong triều
nói đó là điềm gở và khuyên vua phải tổ chức tế đàn
lớn, giết nhiều sinh vật để cúng tế thì mới tai qua nạn
khỏi. Vua cũng nghe theo và chuẩn bị tổ chức tế đàn.
Khi Hoàng hậu
Malika biết tin, bà khuyên vua, thay vì tổ chức tế đàn, hãy
yết kiến Phật và hỏi Ngài về ý nghĩa của 16 cơn mộng.
Và vua được yên tâm, sau khi nghe Phật giải thích đầy đủ
về 16 cơn mộng bất thường của vua. Vua bèn thôi không tổ
chức tế đàn nữa.
Một niềm hạnh
phúc lớn của vua Pasenadi là được nghe Ðức Phật thuyết
pháp nhiều lần. Tương Ưng Bộ Kinh có một chương đặc biệt,
có đầu đề "Tương Ưng Kosala" ghi lại phần lớn các bài
thuyết pháp của Ðức Phật cho vua Pasenadi. Sau đây xin trích
giới thiệu nội dung vài đoạn trong chương Kosala Tương Ưng:
a) Ðánh giá
một người là thế nào không phải là chuyện đơn giản.
Một lần, vua
Pasenadi ngồi bên cạnh Phật, tại lâu đài Migaramatu, thì thấy
có một số du sĩ ngoại đạo đi ngang gần đấy. Người thì
bện tóc, người thì lõa thể, người thì chỉ mặc một y.
Vua hỏi Ðức Phật là trong số các du sĩ đó, ai là người
đã chứng quả A la hán, ai là người đang trên đường tiến
tới chứng quả A la hán. Ðức Phật trả lời là đối với
nhà vua đang sống trong vòng dục lạc, dùng các loại hương
chiên đàn từ xứ Kasi, trang sức với vòng hoa, hương thơm,
dầu sáp, dùng nhiều vàng bạc, thì thật là khó biết trong
số các du sĩ vừa đi qua, ai là A La Hán và ai đang trên con
đường tiến tới chứng quả A La Hán. Hơn nữa phải cùng
sống lâu với một người, lại phải biết chú ý, xem xét
và phải có trí tuệ, thì mới có thể biết được người
đó có giới hạnh hay không, phải cùng chung một nghề, mới
biết được một người có thanh tịnh hay không, phải qua
sự thử thách của một thời gian bất hạnh mới biết được
một người có trung kiên hay không, phải qua đàm đạo với
một người mới biết được người đó có trí tuệ hay không.
Hơn nữa, phải trải qua một thời gian dài có chú ý, xem xét
và phải có trí tuệ thì mới có thể đánh giá một con người
là thế nào,... Và cuối cùng Ðức Phật khuyên vua xem xét
người, không nên chỉ nhìn bộ mặt bề ngoài, có thể là
giả dối che đậy.
b) Ðức Phật
khuyên coi trọng phụ nữ, ngang hàng với nam giới.
Một lần, vua
Pasenadi, được tin Hoàng hậu Malika hạ sanh con gái, tỏ vẻ
không vui. Ðức Phật, biết tâm trạng đó của vua, bèn đọc
bài kệ:
"Này
nhân chủ ở đời
Có một số
thiếu nữ
Có thể tốt
đẹp hơn
So sánh với
con trai
Có trí tuệ
giới đức
Khiến nhạc
mẫu thánh phục
Rồi sanh được
con trai
Là anh hùng,
quốc chủ
Người con
trai như vậy,
Của người
mẹ hiền đức
Thật xứng
là đạo sư
Giáo giới
cho toàn quốc". (Tương Ưng I, 104)
c) Không nên
coi thường Tỳ kheo trẻ.
Có lần vua Pasenadi
hỏi vì sao, Ðức Phật tuổi còn trẻ và xuất gia chưa bao
lâu, mà chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng giác, là
quả Thánh cao nhất mà nhiều vị giáo chủ khác, tuy tuổi
đời và đạo đều cao hơn Ðức Phật, nhưng thừa nhận rằng
mình chưa đạt tới được. Ðức Phật trả lời, có bốn
cái trẻ không thể coi thường. Thứ nhất là Sát đế lỵ
trẻ (võ tướng trẻ thuộc đẳng cấp Sát đế lỵ), thứ
hai là con rắn trẻ, thứ ba là ngọn lửa trẻ (mới nhen nhúm
lên), và thứ tư là Tỳ kheo trẻ.
Ý từ Ðức Phật
là vị võ tướng trẻ có thể chiếm thiên hạ, rắn trẻ
có thể cắn chết người, ngọn lửa trẻ có thể đốt cháy
cánh đồng lớn, Tỳ kheo trẻ - nếu tinh tấn tu hành - có
thể chứng quả Thánh.
d) Chiến
thắng nuôi dưỡng hận thù.
Pasenadi, làm vua
xứ Kosala hùng mạnh không tránh khỏi chiến tranh với các
nước láng giềng, đặc biệt là với chính cháu mình là Ajatasattu,
vua xứ Magadha. Có khi vua Pasenadi bại trận, có khi vua Pasenadi
chiến thắng, thậm chí có lần bắt sống được vua Ajatasattu.
Vì vua Pasenadi là người có tâm địa tốt, sùng kính Phật,
cho nên khi bắt sống được vua Ajatasattu, vua chỉ tịch thu
toàn bộ binh mã, còn thì tha cho vua Ajatasattu trở về.
Khi các Tỳ kheo
thuật lại chuyện này với Ðức Phật. Ngài nói lên hai bài
kệ. Bài đầu, khi vua Pasenadi thất trận:
"Thắng
trận sinh thù oán
Bại trận
nếm khổ đau
Ai bỏ thắng
bỏ bại,
Tịch tịnh
hưởng an lạc". (Tương Ưng I, 102)
Bài kệ thứ hai,
Ðức Phật nói lên khi nghe các Tỳ kheo thuật chuyện vua Pasenadi
thắng trận và bắt sống được vua Ajatasattu:
"Vì
nghĩ đến tư lợi,
Nên mới cướp
hại người
Khi người
khác cướp lại,
Bị hại lại
hại người
Người ngu
nghĩ như vậy,
Khi ác chưa
chín muồi
Người ngu
chịu khổ đau,
Sát người,
bị người sát
Thắng người,
bị người thắng
Mắng người,
người mắng lại.
Não người,
người não lại
Do nghiệp được
diễn tiến
Bị hại, lại
hại người". (Tương Ưng I, 103)
27. Ðức Phật
và nữ thí chủ Visakha
Cũng tại Savathi,
Ðức Phật còn có thêm một tinh xá thứ ba nữa, do nữ thí
chủ Visakha xây. Tinh xá gọi là Pubbarama. Ðức Phật và Tăng
chúng đã trải qua sáu mùa kiết hạ tại Tinh xá này của
bà Visakha. Bà là con gái nhà triệu phú Dhananjaya, mẹ là Sumanà
Devi và ông nội của bà cũng là một nhà triệu phú tên là
Mendaka.
Ngay từ năm bà
lên 7 tuổi, bà được may mắn gặp Ðức Phật, khi Ðức Phật
đến Bhaddiya, nơi sinh quán của Bà, tại vương quốc Anga.
Do có trí thông minh và đạo đức bẩm sinh, sau khi nghe Phật
giảng pháp, mặc dù tuổi còn nhỏ, bà cũng chứng Sơ quả
(Sotapanna).
Bà có một người
chồng giàu có, Punnavadhana, con trai nhà triệu phú Migàra. Bố
chồng vốn là một tín đồ thuần thành của Nigantha Nataputta,
vị giáo chủ của đạo Jain. Bà đã khéo léo xin được phép
mời Ðức Phật đến nhà chồng thụ trai và sau đó, thuyết
pháp cho cả gia đình nghe. Bố chồng cũng nghe nhưng ngồi sau
một bức màn. Vào cuối bài thuyết pháp của Ðức Phật,
bố chồng giác ngộ, chứng ngay Sơ quả. Cả gia đình chồng
trở thành một gia đình Phật tử hạnh phúc và thuần thành.
Bà yêu cầu Ðức
Phật đồng ý cho bà được làm tám việc đối với Tăng
chúng như sau:
-
Tặng áo cà sa cho
Tăng chúng vào mùa kiết hạ, từ nay cho đến ngày bà qua đời.
-
Cúng dường cho tất
cả Tỳ kheo đến Savathi.
-
Cúng dường cho tất
cả Tỳ kheo ra khỏi Savathi.
-
Cúng dường thức
ăn cho Tỳ kheo ốm.
-
Cúng dường thức
ăn cho những ai săn sóc người ốm.
-
Cúng dường thuốc
men cho Tý kheo ốm.
-
Cúng dường cháo
cho Tỳ kheo.
-
Cúng dường áo tắm
cho Tỳ kheo ni.
Ðức Phật vui vẻ
nhận lời, Ðức Phật nhiều lần thuyết pháp cho bà Visakha.
Trong một bài thuyết pháp, Ðức Phật có nói tới tám giới
cho Phật tử tại gia nên theo trong những ngày Bố Tát (Uposatha).
Hiện nay, tám giới này vẫn được Phật tử theo, trong các
ngày Bố Tát ở các nước có đạo Phật.
Bà Visakha là nữ
thí chủ lớn nhất của Ðức Phật và Tăng chúng, cũng như
ông Anathapindika là nam thí chủ lớn nhất.
28. Ðức Phật
và vua Bimbisara
Bimbisara (Tần
Ba Sa La) là vua xứ Magadha, có kinh đô ở thành Rajagaha (Vương
Xá). Vua từng gặp Ðức Phật khi Phật mới xuất gia, và yêu
cầu Ðức Phật trở lại thăm vương quốc của vua, sau ngày
thành đạo. Giữ đúng lời hứa cũ, Ðức Phật cùng với
đông đảo các vị A la hán đệ tử, đi từ Gaya đến thủ
đô Rajagaha, và nghỉ tại đền Suppatittha trong một rừng cây
cọ dừa. Ðươc tin, vua Bimbirasa cùng với quần thần đông
đảo đến chào Ðức Phật và Tăng chúng.
Vì trong số đệ
tử đi theo hầu Ðức Phật, có Tôn giả Kassapa vốn có uy
tín lớn trong quần chúng ở đây, cho nên nhiều người phân
vân không rõ ai là bậc Ðạo Sư, Ðức Phật hay là Tôn giả
Kassapa. Ðức Phật biết rõ mối phân vân đó của quần chúng,
bèn hỏi ông Kassapa vì nguyên nhân gì ông bỏ tập tục tế
thần lửa. Ông Kassapa thưa rằng, ông bỏ tập tục tế thần
lửa, vì ông nhận thấy cảnh giới Niết bàn an tịnh, cao
quý hơn nhiều so với dục lạc thế gian. Nói xong ông đảnh
lễ Phật và nói: "Ðức Thế Tôn là bậc Ðạo Sư, con là
đệ tử của Ngài".
Ðức Phật bèn
giảng kinh bổn sanh của ông Kassapa cho mọi người nghe, kể
rằng trong một kiếp trước, Ðức Phật cũng đã từng độ
cho ông Kassapa ở xứ Narada. Ðược nghe Phật thuyết pháp,
vua Bimbisara chứng ngay Sơ quả. Hôm sau, vua thết trai tăng ở
hoàng cung, mời Phật và Tăng chúng tham dự. Sau đó, vua tặng
Ðức Phật và Tăng chúng công viên Trúc Lâm, trong đó có đền
Con Sóc và Tinh Xá Veluvanaràma, nơi đây Ðức Phật trải qua
6 mùa an cư kiết hạ.
Bà Khema, vợ thứ
của vua, sau này xuất gi và cùng với bà Gotami, lãnh đạo
Ni chúng. Còn Hoàng hậu chánh thất của vua là bà Kosala Devi,
con gái vua Pasenadi xứ Kosala. Con bà Kosala Devi là Ajatasattu (A
Xà Thế), sau này cướp ngôi và giết vua cha, đó là do nghiệp
quá khứ của vua Bimbisara quá nặng nề. Nhưng vì vua đã chứng
Sơ quả, cho nên cái chết của vua cũng nhẹ nhàng, đỡ phần
bi thảm và sau khi qua đời, vua lập tức sanh lên cõi trời
Lummaharajika với cái tên thiên chủ Janavasabba.
Ajatasattu sau khi
cùng với Devadatta âm mưu giết hại Phật không thành, biết
ăn năn hối lỗi, xin Phật cho quy y và trở thành một Phật
tử tại gia hàng đầu của Ðức Phật. Do nghiệp quá khứ
nặng nề, cho nên đến lượt ông, ông cũng bị con ông giết
và cướp ngôi.
29. Ðức Phật
và tướng cướp Angulimala
Một sự kiện
đáng ghi nhớ, đánh dấu năm thứ 20 ngày thành đạo là Ðức
Phật giác ngộ cho Angulimala, tên tướng cướp khét tiếng
hung ác của xứ Kosala. Tên thật của Angulimala là Ahimsaka (Kẻ
vô tội). Cha ông vốn là một quan chức trong triều vua xứ
Kosala. Thời niên thiếu, ông theo học ở Taxila, là trung tâm
học vấn nổi tiếng đương thời ở Bắc Ấn Ðộ. Ông học
rất giỏi và được thầy yêu thương nhất trong số các học
sinh. Ðiều không may là các bạn đồng học ghen tỵ ông, vu
cáo ông với thầy giáo và ông thầy giáo cả tin đâm ra căm
thù ông, và muốn giết ông bằng cách bắt ông trả học phí
bằng 1000 ngón tay phải của con người. Angulimala phải vâng
lời thầy, mặc dù rất khổ tâm. Ông bèn rút lui vào rừng
Jalini ở Kosala và bắt đầu giết người để có đủ số
ngón tay cần thiết.
Ban đầu, ông
treo các ngón tay người trên cây, nhưng vì các ngón tay bị
quạ mổ ăn, cho nên ông xâu ngón tay người lại thành vòng
để đeo nơi cổ; do đó ông có tên Angulimala (vòng ngón tay).
Sách kể rằng, khi ông đã thu thập được 999 ngón tay, thời
Ðức Phật xuất hiện. Angulimala rất mừng vì sắp có đủ
số ngón tay cần thiết để nộp cho ông thầy giáo ác độc,
Angulimala rút gươm, chạy đuổi theo Phật.
Vì Ðức Phật
dùng phép thần thông, nên Angulimala càng đuổi nhanh, càng không
bắt kịp được Phật, mặc dù Phật vẫn đi khoan thai từ
từ. Cuối cùng, thở hỗn hển và ướt đẫm mồ hôi, Angulimala
đứng lại và gọi: "Này Tu sĩ, hãy dừng chân". Ðức Phật
nói bằng giọng từ tốn: "Mặc dù ta đang đi, nhưng ta đã
dừng chân. Còn nhà ngươi đã dừng chân hay chưa?"
Angulimala không
hiểu ý tứ câu nói của Ðức Phật như thế nào? Bởi vì
Ðức Phật đang đi, lại nói là đã dừng chân. Còn Angulimala
đã dừng chân rồi, thì Phật lại bảo "Hãy dừng chân!" Angulimala
hỏi Phật và được Phật giải thích như sau:
"Ðúng
là ta đã dừng mãi mãi, này Angulimala,
Không bao giờ
dùng bạo lực với chúng sanh.
Còn nhà ngươi,
hãy dừng tay chớ có giết hại đồng loại
Vì vậy mà
Ta nói rằng, Ta đã dừng,
Và bảo ngươi
cũng hãy dừng tay!"
Nghiệp thiện ngày
xưa của Angulimala tác động vào tư tưởng của ông, và ông
biết rằng, ông đang đứng trước mặt Ðức Phật Thích Ca,
Ngài đã vì lòng thương xót ông mà đến cứu ông ra khỏi
vòng tội lõi. Ông vứt gươm xuống đất, xin Ðức Phật cho
ông được xuất gia làm Tăng. Ðức Phật chỉ nói một câu
đơn giản: "Ehi Bikkhu" (Hãy đến ! Tỳ kheo).
Thế nhưng, mặc
dù xuất gia, tinh thần của Tỳ kheo Angulimala vẫn không được
yên ổn. Thường xuyên, ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu khóc
của những người ông đã sát hại. Một hôm, đi khất thực,
ông bị quần chúng đuổi đánh, ném đá, ông trở về tu viện,
lỗ đầu, chảy máu. Ðức Phật giải thích cho Angulimala biết,
đó là Angulimala trả nợ nghiệp ác cũ của mình.
Một ngày, Angulimala
đi khất thực, gặp một người đàn bà trở dạ, khó sanh
và đang vô cùng đau đớn. Không biết làm sao được, Angulimala
trở về hỏi Ðức Phật. Ðức Phật bày cho Angulimala đem
lời sau đây nói với người đàn bà:
"Này bà chị,
từ khi tôi sanh trở lại trong hàng Thánh chúng, tôi không có
giết hại bất cứ một loại hữu tinh nào. Cầu mong lời
nói thật này giúp cho bà chị được khỏi đau đớn, con của
bà chị được sanh nở an toàn".
Angulimala học
thuộc lời Ðức Phật, và đến nói với người đàn bà đau
đớn, khó sanh. Lập tức, người đàn bà hết đau, và hạ
sanh đứa con dễ dàng. Lời nầy của Ðức Phật được gọi
là Angulimala Paritta. Ngày nay, ở các xứ Phật giáo Nam phương,
người ta vẫn có tập tục đọc lời Angulimala Paritta để
làm dịu cơn đau đẻ của phụ nữ.
Sau này, Angulimala
chứng quả A la hán.
30. Ðức Phật
và kỹ nữ Ambapali
Ambapali là người
kỹ nữ nổi danh tài sắc của thành phố Vesali. Trên đường
đi Kusinara, để nhập Niết bàn, Ðức Phật dừng lại Vesali,
và nghỉ ở vườn xoài của Ambapali. Ðược tin, Ambapali đến
chào Ðức Phật, và trân trọng mời Ðức Phật và chúng Tăng
đến dùng tiệc trai ngày mai tại nhà bà. Ðức Phật nhận
lời, và từ chối lời mời của hàng quý tộc Liechavi. Họ
hứa trả bà Ambapali một số tiền rất lớn, để bà nhường
lại cho quý tộc Liechavi đặc ân được thiết cơm Phật và
chúng Tăng nhưng bà từ chối và hôm sau, y lời hẹn, Ðức
Phật và chúng Tăng đến với nhà bà Ambapali dùng tiệc trai.
Sau bữa tiệc, Ambapali kính tặng Ðức Phật và chúng Tăng
vườn xoài to lớn của bà để làm Tinh xá. Sau này, Ambapali
cũng xuất gia và chứng quả A la hán.
Hai sự kiện Angulimala
và Ambapali cho thấy, cửa Ðạo Từ Bi mở rộng cho tất cả
mọi người, không phân biệt giàu sang, nghèo hèn và đẳng
cấp xã hội. Một tướng cướp như Angulimala, một dâm nữ
như Ambapali, nếu thành tâm hối lỗi, cũng có thể xuất gia,
tinh tấn tu học và chứng Thánh quả cao nhất. Một lòng tin
thuần thành, và một nỗ lực lớn nhất: đó là điều kiện
cơ bản để đi vào đạo Thánh và trở thành bậc Thánh trên
thế giới này. Ðạo Phật không đòi hỏi một điều kiện
nào khác.
31. Ðức Phật
tuyên bố sẽ nhập Niết Bàn
Ðức Phật năm
nay tròn 80 tuổi. Ngài nhận định sự nghiệp thuyết pháp,
giáo hóa độ sanh của Ngài đã hoàn thành. Thời điểm đã
đến để Ngài nhập Niết bàn. Trên đường đi Kusinara, khi
Ðức Phật dừng chân tại Vaisali, ở Tinh Xá Capala, Ngài đã
tuyên bố với tôn giả Ananda là ba tháng nữa, Ngài sẽ nhập
Niết bàn. Ngài không chấp nhận lời yêu cầu của Ananda,
xin Ngài sống thêm một kiếp nữa, vì hạnh phúc, vì an lạc
của chúng sanh. Ðức Phật giảng cho ông Ananda về tính vô
thường của mọi sự vật trên thế gian này, và bảo ông
Ananda tập hợp chúng Tỳ kheo ở Vaisali lại ở Tinh Xá Mahavana,
để nghe Phật thuyết pháp.
Rồi Ðức Phật
nói với chúng Tỳ kheo những lời lẽ như sau: "Này các Tỳ
kheo! Mọi pháp đều vô thường. Hãy siêng năng phấn đấu.
Như Lai sắp nhập Niết bàn. Từ nay trong vòng 3 tháng nữa,
Như Lai sẽ nhập Niết bàn. Tuổi Ta đã già, cuộc sống con
người ngắn ngủi. Ta sẽ vĩnh biệt các người. Hãy tinh tấn,
chánh niệm tỉnh giác và sống đạo đức. Người nào sống
không phóng dật trong giới luật, người đó sẽ được giải
thoát khỏi sanh tử luân hồi và chấm dứt mọi đau khổ".
Và một lần cuối
cùng, nhìn thành phố Vaisali, Ðức Phật nói chúng Tỳ kheo:
"Giới, định,
và tuệ, giải thoát tối hậu. Ðó là những điều Như Lai
thực hiện".
32. Buổi ăn
cuối cùng của Ðức Phật
Từ Vaisali, Ðức
Phật cùng với tôn giả Ananda và chúng Tỳ kheo lên đường
đi Kusinara. Dọc đường, Ðức Phật cùng chúng Tăng dừng
lại ở nhiều nơi, tiếp xúc với dân chúng, thuyết pháp độ
sanh.
Ở Pava, người
thợ rèn Cunda (Thuần Ðà) thết tiệc trai Ðức Phật và chúng
Tăng. Cunda chuẩn bị riêng cho Ðức Phật một món ăn đặc
biệt, gọi là sùkaramaddava. Ðức Phật khuyên Cunda dành riêng
dĩa thức ăn đó cho Ðức Phật, và phần còn lại của dĩa
phải đem chôn đi. Và nói: "Chỉ có Như Lai mới ăn và tiêu
hóa được thức ăn này mà thôi".
Ăn xong, Ðức
Phật bị kiết lỵ nặng. Ngài tuy mệt nhưng vẫn giữ tinh
thần bình thản và quyết định lại lên đường đi Kusinara,
cách Pava khoảng 6 dặm. Ðức Phật tắm lần cuối cùng ở
sông Kakutthi, và sau khi nghỉ một lát, Ngài nói với Ðại
đức Ananda: "Có thể có người trách Cunda về bữa cơm cuối
cùng dọn cho Ta, vì sau bữa ăn đó Ta sẽ nhập Niết bàn,
và Cunda có thể ăn năn hối hận. Nhà ngươi cần nói cho Cunda
biết rằng, có hai bữa ăn cúng dường cho Như Lai, đem lại
công đức lớn nhất cho người cúng dường. Ðó là bữa ăn
cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai thành đạo và bữa
ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai nhập Niết bàn.
Hãy nói cho Cunda biết rằng, nhờ đã cúng dường Như Lai bữa
ăn cuối cùng trước khi Như Lai nhập Niết bàn, Cunda được
phúc đức lớn, quả báo lớn, nhờ đó mà Cunda được thọ
mạng lâu dài, tái sanh ở cõi lành, giàu có, tiếng tăm, được
sanh lên cõi trời và có quyền lực lớn. Này Ananda, ngươi
hãy nói như vậy để loại bỏ mọi nỗi ân hận của Cunda,
nếu có".
Nói xong, Ðức
Phật đến vườn cây Sala ở Kusinara, nơi có bộ tộc Mallas
ở, và bảo Ðại đức Ananda chuẩn bị chỗ nằm, để Ðức
Phật yên nghỉ, đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mình, chân
phải để trên chân trái, bình thản, tỉnh táo.
33. Cách tốt
đẹp nhất để tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến
Như Lai
Thấy các cây
Sala trổ hoa trái mùa, và các biểu hiện khác của niềm tin
tưởng, quý mến, tôn trọng Như Lai, Ðức Phật bèn nói với
các Tỳ kheo có mặt như sau:
"Này Ananda, không
nên tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai theo kiểu
như vậy. Nhưng bất cứ Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào, Ưu bà
tắc hay Ưu bà di nào mà sống đúng với Chánh pháp, tự mình
ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh, thì chính
người đó tôn trọng, đảnh lễ, tán thán và quý mến Như
Lai một cách tốt đẹp nhất. Do đó, này Ananda, các người
phải tu tập như vậy. Mọi người hãy sống đúng với chánh
pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân
chánh".
34. Bốn địa
điểm chiêm bái
Rồi Ðức Phật
nói tới bốn địa điểm có liên hệ tới Ðức Phật, mà
Phật tử có thể đến chiêm bái. Ðó là:
-
Nơi Ðức Phật giáng
sinh, ở vườn Lumbini (Lâm tỳ ni) tại vùng biên giới Ấn
Ðộ - Nepan.
-
Nơi Ðức Phật thành
đạo ở Bodhi Gaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng).
-
Nơi Ðức Phật bắt
đầu chuyển thành bánh xe Pháp (Sarnàth) tức là Vườn Nai
gần Benarès.
-
Nơi Ðức Phật nhập
Niết bàn ở Kusinàra (nay là Kasia, cách 32 dặm nhà ga Gorakbpur).
Ðức Phật dạy
rằng: "Những người nào qua đời trong quá trình đi chiêm
bái, với lòng có đức tin, thì sẽ được sanh lên các cõi
trời".
35. Ðức Phật
hóa độ cho người cuối cùng: du sĩ Subhadda
Bấy giờ có
du sĩ Subhadda, đang sống ở Kusinara, biết tin Ðức Phật sẽ
nhập Niết bàn vào canh cuối cùng của đêm nay ở Kusinara.
Du sĩ có suy nghĩ như sau: "Các đạo sư lớn tuổi, các du sĩ
thường nói với ta rằng sự kiện Như Lai, bậc toàn giác
xuất hiện ở đời là hiếm có, rất hiếm có. Vào canh cuối
cùng đêm nay, Ðức Phật Thích Ca, bậc Toàn giác sẽ nhập
diệt. Ở đây ta có lòng tin Ðức Phật, có thể là Ngài sẽ
thuyết pháp cho ta để ta được giác ngộ".
Rồi du sĩ Subhadda
đi đến rừng cây Sala, và xin Ðại đức Ananda cho được
gặp Ðức Phật. Nhưng ông Ananda nói là Ðức Phật đang mệt,
không thể tiếp được. Subhadda ba lần thỉnh cầu, Ðại đức
Ananda đều không chấp nhận. Nhưng Ðức Phật nghe câu chuyện
giữa Ðại đức Ananda và du sĩ Subhadda, bèn nói với Ðại
đức Ananda rằng: "Hãy để cho Subhadda vào. Ông ta đến đây
để mong được nghe pháp, được giác ngộ, chứ không phải
để làm phiền Ta, và những lời Ta nói, Subhadda sẽ có thể
hiểu được".
Ðức Phật nói
cho Subhadda nghe về con đường đạo tám nhánh, và chỉ có
những người tu học theo pháp và luật của Như Lai, mới thực
hành con đường đạo tám nhánh và mới có thể trở thành
đệ nhất Sa môn, đệ nhị Sa môn, đệ tam Sa môn, đệ tứ
Sa môn. Subhadda vô cùng hoan hỷ và xin quy y Phật, quy y Pháp,
quy y Tăng. Ðồng thời xin được xuất gia làm Tăng, ngay bây
giờ trước mặt Ðức Phật. Tuy rằng theo luật, đáng lý,
Subhadda vốn là du sĩ ngoại đạo, phải trải qua 4 tháng thử
thách và sau đó, nếu Tăng chúng chấp nhận, mới được thọ
giới Tỳ kheo. Nhưng vì trường hợp rất đặc biệt, Ðức
Phật đặc cách cho Subhadda miễn trải qua 4 tháng thử thách
và bảo Tôn giả Ananda truyền thụ giới Tỳ kheo cho Subhadda.
Subhadda sau một thời gian tu học tinh tấn, trở thành một
A la hán. Ông là người được Phật hóa độ cuối cùng.
36. Những lời
dạy cuối cùng của Ðức Phật
Ðức Phật thấy
Ðại đức Ananda buồn khóc, bèn thân mật an ủi, tán thán
đức hạnh của Ðại đức Ananda như là một thị giả, một
đệ tử kiểu mẫu, và khích lệ Ðại đức phấn đấu tinh
tấn để sớm được giải thoát, trở thành A la hán. Sau đó,
Ðức Phật nói với Ðại đức Ananda đi báo cho dân chúng
Mallas biết là Như Lai sắp nhập Niết bàn vào canh cuối đêm
nay tại rừng cây Sala.
Ðược tin đông
đảo dân chúng Mallas, đàn ông, đàn bà, người già, thanh
niên, trẻ con tấp nập kéo đến rừng cây Sala bày tỏ lòng
tôn kính, thương tiếc và vĩnh biệt Ðức Phật lần cuối
cùng. Sau đây là những lời dặn của Ðức Phật với chúng
đệ tử, trước khi ngài nhập Niết bàn.
"Này Ananda, có
thể các ngươi nghĩ rằng: Chỉ còn lại giáo phái cao cả
mà không còn bậc Ðạo sư, chúng ta không còn có bậc Ðạo
sư nữa. Không! Ananda, các ngươi không được nghĩ như vậy,
Pháp và Luật mà ta đã dạy, tuyên bố sẽ là đạo sư của
các ngươi, sau khi Ta nhập Niết bàn."
"Này Ananda, Tăng
chúng nếu muốn, có thể bỏ các giới luật phụ và nhỏ,
sau khi Ta nhập Niết bàn".
"Này các đệ
tử của Ta, nếu các ngươi còn có nghi ngờ gì về Phật,
Pháp, Tăng hay về con đường đạo, về phương pháp thì hãy
hỏi Ta, đừng để sau này hối tiếc, nghĩ rằng, đối diện
với Như Lai mà không hỏi được Như Lai câu nào!"
Ðức Phật nói
xong, chúng đệ tử đều im lặng, Ðức Phật hỏi tới ba
lần, chúng đệ tử đều im lặng.
Ðức Phật nói:
"Có thể vì các ngươi tôn trọng bậc đạo sư mà không đặt
câu hỏi chăng? Thì hãy để một người nói thay vậy". Một
lần nữa, chúng đệ tử vẫn im lặng.
Ðại đức Ananda
bạch Phật rằng: "Tuyệt vời thay! Hy hữu thay! Thưa đức
Thế Tôn. Trong hàng đệ tử chúng con ở đây, không có một
người nào nghi ngờ và thắc mắc gì đối với Phật, Pháp,
Tăng, con đường đạo và phương pháp".
Ðức Phật nói:
"Này Ananda, nhà ngươi nói vì niềm tin đối với Như Lai, Như
Lai biết rõ là, trong chúng đệ tử có mặt tại đây, không
có người nào còn nghi ngờ thắc mắc đối với Pháp, Tăng,
con đường đạo và phương pháp. Trong số năm trăm đệ tử
này, này Ananda, người kém nhất cũng đã chứng quả Dự Lưu,
không còn thoái chuyển nữa, cuối cùng chắc chắn sẽ được
giác ngộ".
Câu nói cuối
cùng của Ðức Phật là: "Hỡi các đệ tử, Ta khích lệ
các người, mọi pháp hữu vi đều biến hoại. Hãy tích cực
phấn đấu!". Thế rồi đức Thế Tôn im lặng. Ngài lặng
lẽ nhập định, tuần tự trải qua các cấp thiền từ thấp
tới cao, rồi cuối cùng chủ động nhập Niết bàn.
37. Lễ Trà
tỳ và sự phân chia xá lợi của Phật
Thi hài Ðức
Phật được dân chúng Mallas trân trọng đưa tới Makutabandhana,
và để ở đó bảy ngày trước khi tổ chức lễ trà tỳ
chính thức (hỏa táng). Tôn giả Maha Kassapa cũng về đây để
đảnh lễ vĩnh biệt Ðức Phật lần cuối cùng và chủ trì
lễ hỏa táng. Sau lễ trà tỳ, dân chúng Mallas thu thập xá
lợi để cúng dường. Các nước lân cận và nhất là vua
Ajatasattu cũng đòi một phần Xá lợi. Vì ban đầu dân chúng
Mallas không chịu, cho nên có nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến
tranh xung quanh việc phân chia xá lợi. Nhưng cuối cùng, các
bên cũng thỏa thuận được với nhau là xá lợi Phật chia
làm tám phần, phân phối cho dân chúng Mallas, vua Ajatasattu xứ
Magadha, bộ tộc Liechavi ở Vaisali, bộ tộc Sakya ở Kapitavastu,
bộ tộc Bulaka ở Calakalna, bộ tộc Krandya ở Ramagrama, những
người Bà la môn ở Visudvipa, những người Mallas ở Pava.
Bà la môn Dona,
người tổ chức thành công việc phân chia Xá lợi, dành lấy
cho mình cái bình đựng Xá Lợi. Những người Maurya ở Pipphalirana,
vì đến chậm, chỉ nhận được tro còn lại của giàn hỏa.
Các bên được phân chia Xá Lợi, đều xây tháp ở quốc gia
mình để cúng dường. Như vậy, có tất cả 10 tháp: tám tháp
đựng Xá Lợi của Phật, một tháp xây trên bình chứa Xá
Lợi, và một tháp thờ tro của giàn hỏa.
Kết luận
Trên đây là sơ
lược tiểu sử Phật Thích Ca, căn cứ vào các nguồn tư liệu
chính thống của kinh sách Ðạo Phật. Trong tiểu sử đó,
phần nào là sự thật lịch sử, phần nào là huyền thoại
và thần thoại, do các thế hệ đệ tử và tín đồ sùng
kính Phật thêm vào về sau này, đó là điều chúng ta không
thể xác định được. Thế nhưng, dựa vào các tài liệu
rải rác và được hệ thống hóa lại, chúng ta có thể có
mấy nhận định sau đây về nhân vật Thích Ca, khác với
các giáo chủ các tôn giáo khác như thế nào.
1. Phật
không phải là Thượng đế tạo thế và cứu thế. Phật,
theo đúng nghĩa của từ Phật, là bậc giác ngộ, và ai giác
ngộ được như Phật đều gọi là Phật. Vì vậy, theo Phật
giáo thì đã có nhiều Phật trước Phật Thích Ca và sau Phật
Thích Ca, cũng sẽ có nhiều Phật ra đời nữa. Ðạo Phật
thủy chung bác bỏ quan niệm siêu hình về một cái nhân ban
đầu, từ con số không mà sinh ra được thế giới, vạn vật,
v.v. Chủ thuyết của Ðạo Phật là mọi sự đều do nhiều
nhân, nhiều duyên sinh ra, gọi là thuyết nhân duyên sinh. Phật
cũng không phải là một đấng cứu thế, vì Phật "Chỉ dạy
về con đường và nếu các người đi theo con đường này,
mọi đau khổ sẽ đoạn tận". (Pháp Cú, kệ 275).
Phật luôn luôn
nhắc nhở đệ tử là tự mình làm cho mình trở nên trong
sạch. Và cũng tự mình làm cho mình dơ bẩn. Chứ không ai
làm cho ai được trong sạch hay dơ bẩn cả.
"Tự
mình điều ác làm,
Tự mình làm
nhiễm ô.
Tự mình ác
không làm
Tự mình làm
thanh tịnh
Tịnh không
tịnh tự mình
Không ai thanh
tịnh ai". (Pháp Cú, kệ 165).
Chính vì những lý
lẽ trên mà nhiều đạo giáo khác cho rằng đạo Phật là
vô thần, theo nghĩa đạo Phật không công nhận có Thượng
đế tạo thế và cứu thế. Nhưng ít có tôn giáo nào đề
cao con người và tình thương con người như đạo Phật.
Thậm chí, có
người nói đạo Phật không phải là tôn giáo, bởi vì đã
là tôn giáo thì phải công nhận thế giới do Thượng đế
sáng tạo và người phải có linh hồn. Nhưng đạo Phật đồng
thời bác bỏ cả thuyết Thượng đế và thuyết linh hồn.
Nhưng đạo Phật
vẫn là một tôn giáo, ở chỗ, thứ nhất, nó có một Giáo
chủ, một đức Bổn sử là Phật Thích Ca, mặc dù đã nhập
diệt cách đây hơn 2500 năm, nhưng vẫn là đối tượng quy
ngưỡng của hàng triệu triệu tín đồ Phật tử hiện nay
trên khắp thế giới. Thứ hai, nó có một hệ thống giáo
lý được ghi lại trong ba tạng kinh điển có nguyên tắc bằng
hai cổ ngữ chính là Pali và Sanskrit, và hiện nay đã được
dịch ra hầu hết các ngôn ngữ chính trên thế giới. Thứ
ba, nó có một giáo đoàn tăng sĩ, chấp nhận và thực hành
mọi quy tắc được Phật chế định ngay lúc khi Ngài còn
tại thế, và được ghi lại trong giới bổn Patimokkha.
2. Phật
luôn luôn khuyến cáo đệ tử là phải tin ở sức mình, ở
khả năng của mình thành tựu đích giác ngộ và giải thoát
tối hậu. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình,
Phật nói với tôn giả Ananda, người đệ tử thân cận của
mình như sau: "Hãy dựa vào bản thân mình, như là ngọn đèn
sáng cho chính mình. Hãy dựa vào sức của bản thân mình là
chính. Hãy dựa vững vàng vào Chánh Pháp. Ðừng có tìm một
chỗ dựa nào khác ngoài bản thân mình".
Có thể nói, đặc
sắc của Phật Thích Ca như là một giáo chủ, là không áp
đặt một quyền lực nào hết lên trên con người. Phật không
bao giờ cường điệu tính yếu hèn, tính tội lỗi nơi con
người, trái lại, Phật luôn luôn nhấn mạnh con người có
đầy đủ bản chất hướng thiện, đồng thời có đầy đủ
khả năng tự hoàn thiện mình. Tự mình cố gắng và phấn
đấu, thì mình sẽ được giác ngộ và giải thoát. Ðó là
lời khuyên thường được nhắc đi, nhắc lại của Phật
Thích Ca.
3. Phật
Thích Ca không phải là một nhà cách mạng và hoạt động
xã hội theo ý nghĩa hiện đại của từ đó, nhưng quan điểm
xã hội của Phật rất rõ ràng. Phật không tán thành chế
độ đẳng cấp xã hội ở Ấn Ðộ. Giáo hội Tăng già do
Phật sáng lập không phân biệt đẳng cấp xã hội. Phật
nói: "Hỡi các Tỳ kheo, cũng như các con sông lớn, sông Hằng
Hà, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarabhu, sông Mahi, khi chúng
đổ vào biển thì chúng mất tên gọi trước đây của chúng,
và được gọi cùng một tên là biển cả mà thôi, cũng như
vậy, bốn đẳng cấp Sát đế lợi, Bà la môn, Vệ xá, và
Thủ đà la, một khi họ đã đến với Pháp và Luật do Như
Lai giảng thuyết, từ cuộc sống gia đình đến cuộc sống
không nhà thì họ cũng đều mất tên gọi trước đây của
họ, bộ lạc cũ của họ, và được gọi cùng một tên là
tu sĩ".
Trong hàng ngũ
đệ tử của Phật khi Phật còn tại thế, xuất gia cũng như
tại gia, đều có đủ các hạng người thuộc đủ mọi đẳng
cấp, từ các vua chúa lớn nhất của các vương quốc hùng
mạnh tại Ấn Ðộ thời bấy giờ như vua Bimbisara, vua Ajatassattu,
vua Pasenadi v.v.. cho đến các giáo sĩ Bà La Môn nổi danh là
thông minh, cao đạo như anh em Kassapa, hai ông Sariputta và Moggalana
cho đến anh thợ cạo thuộc bộ tộc Sakya là Upali, ngưòi
dâm nữ nổi danh tài sắc thành Vaisali là Ambapali, tên cướp
khét tiếng tàn ác là Angulimala ở Kosala.
Tất cả mọi
người, không kể trí, ngu, sang, hèn, nếu thành tâm cầu đạo,
ăn năn lỗi trước, đều có thể tu đạo, và chứng đạo,
trở thành bậc Thánh giữa chúng sanh, chứng ngay Niết Bàn
trên cõi thế. Phật luôn luôn nhấn mạnh tính bình đẳng
giữa người và người với nhau. Phật nói về những người
thuộc đẳng cấp Bà La Môn, vốn thường tự xem mình là tầng
lớp xã hội thượng đẳng: "Là Bà La Môn hay là tiện dân
không phải là do sinh đẻ mà là do hành động của bản thân
mình. Người Bà La Môn hay là tiện dân không phải là do sinh
đẻ mà là do hành động của bản thân mình. Người Bà La
Môn không phải sinh ra từ lửa, nhờ có hai thanh gỗ ma xát
nhau, cũng không phải từ trên trời rơi xuống hay là từ gió
bay ra, cũng không phải từ dưới đất chui lên. Những người
Bà La Môn cũng sinh ra từ bụng mẹ hoàn toàn giống nhau như
người Thủ Ðà la vậy. Mọi người đều có quan năng trong
cơ thể tương tự nhau, không có gì khác nhau cả. Sao lại
có thể có những người tự cho mình thuộc loại hay giống
như người đặc biệt?".
Phật không có
thành kiến về giới tính, tuy rằng Phật cho rằng bản chất
người phụ nữ là yếu đuối, và Phật đã tỏ ra dè dặt
khi cho thiết lập đoàn thể nữ tu sĩ đầu tiên. Nhưng sau
khi xuất gia, nhiều nữ tu sĩ đã trở thành nổi danh về đạo
đức cao khiết và học lực uyên thâm. Cũng như hai ông Sariputta
và Moggalana là Thượng thủ của Tăng chúng thời Phật, hai
bà Khema và Gotami cũng được tôn là Thượng thủ của Ni chúng.
Hai bà cũng đều chứng quả A la hán.
Giáo hội Tăng
già do Phật Thích Ca sáng lập ra là một đoàn thể thật sự
dân chủ. Giáo hội đó không biết đến giáo quyền. Giáo
hội đó dựa trên tinh thần đoàn kết, tương thân, tương
ái, gọi là lục hòa (sáu điều hòa hợp).
4. Phật
Thích Ca là một giáo chủ rất rộng lượng và khiêm tốn,
Phật thường ví Phật Pháp như cái bè qua sông, như ngón tay
chỉ mặt trăng hay là con đường dẫn tới Chân lý, chứ bản
thân Phật pháp không phải là chân lý tối hậu. Ðã là cái
bè qua sông thì có thể có nhiều thuyền, nhiều bè khác nhau
cùng qua sông; đã là ngón tay chỉ mặt trăng thì có thể có
nhiều ngón tay cùng một lúc chỉ mặt trăng; đã là con đường
dẫn tới chân lý thì có thể có nhiều con đường khác nhau
dẫn tới đích là Chân lý tối hậu.
Hai nữa, giác
ngộ và giải thoát là một thực nghiệm cá nhân, nghĩa là
không ai có thể giác ngộ hay giải thoát thay cho ai được
cả. Có những điều mình làm được nhưng người khác không
làm được, mình làm dễ nhưng người khác làm khó, trong hoàn
cảnh này làm được, nhưng trong hoàn cảnh khác lại không.
Một tôn giáo tầm cỡ thế giới như đạo Phật không thể
cứng nhắc hay hẹp hòi được. Ðấy là một lý do vì sao
trong đạo Phật, có lắm tôn nhiều phái, và giữa các phái
với nhau, trong quá khứ cũng như hiện nay, tuyệt đối không
bao giờ có sự lấn áp trên thế mạnh dù rằng có nhiều
lúc Phật giáo có ưu thế hơn, được chính quyền trọng đãi
như quốc giáo (như trong hai triều đại Lý, Trần ở Việt
Nam).
Những Tăng Ni
Phật giáo, nếu sống đúng theo giới luật nhà Phật, là những
người vô sản hoàn toán. Họ không có quyền lực, cũng không
có tiền bạc. Họ chỉ có hai điều: lòng Từ bi và Trí tuệ.
Nhưng với hai vũ khí đó, đạo Phật trong một thời, đã
từng chinh phục trái tim và khối óc của đại bộ phận nhân
dân thế giới cổ đại và phong kiến [*], và hiện nay nó
vẫn là một tôn giáo thế giới với hàng trăm triệu tín
đồ.
[*] Toàn
bộ thời kỳ từ nửa thế kỷ IV đến cuối thế kỷ VIII
sau Công nguyên có thể được gọi là kỷ nguyên Phật giáo
của lịch sử Trung Hoa. Trên thực tế, có thể gọi đó là
kỷ nguyên Phật giáo cuả lịch sử châu Á. Và có thể nói,
của cả thế giới, bởi lẽ vào thời kỳ đó, khoảng hơn
một nửa dân số thế giới là tín đồ đạo Phật. Ðạo
Phật trải rộng trên toàn khắp châu Á, trừ hai vùng Siberi
và Cận Ðông, tạo thành cho cả châu lục này một sự thống
nhất về văn hóa chưa từng có. (East Asia-The Great Tradition,
- Ðông Á - Truyền thống vĩ đại, tr. 147-148, Edwin O Reischauer
and John K. Faichanks, Harvard University)
Trên đây là 4 đặc
điểm về nhân cách của Phật Thích Ca, như là một giáo chủ.
Các Tăng sĩ, tu sĩ Phật giáo của bất cứ một nước nào,
trước đây cũng như hiện nay đều phải lấy đó làm gương.
Không thể tưởng tượong được một Tăng sĩ Phật giáo,
dù cao niên, dù bác học đến đâu mà có thái độ và giọng
nói giáo quyền, sống không giản dị, không thiểu dục, trí
túc, lại kích động, chống đối và bạo loạn, vì những
mục đích danh lợi cá nhân, bày trò dị đoan để lôi kéo
quần chúng, trong khi Phật Thích Ca tuyệt đối ngăn cấm không
được làm như vậy, cho rằng đó là một việc làm xấu hổ,
không nên làm.
Tăng sĩ phải
là gương sáng của đạo đức và trí tuệ, là người thầy
dạy giáo pháp và đạo đức và giới luật. Nhà chùa phải
là trung tâm của trí tuệ và đạo đức, chứ không phải
là nơi chỉ có cúng kiến và lễ bái. Kinh sách Phật phải
được giảng diễn cho người đời hiểu và làm theo, chứ
không phải để riêng cho giới tu sĩ đọc tụng. Ðó là hướng
tiến tới của đạo Phật chân chính sẽ còn tồn tại lâu
dài trong lòng người Việt Nam, trong cuộc sống của người
Việt Nam, trên đất nước Việt Nam chúng ta.
Nam
mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tỳ kheo
Thích Minh Châu