CHƯƠNG
6
TẤT
CẢ ĐỀU CÓ SẴN TRONG TÂM THỨC CHÚNG TA
6.
Tất cả đều có sẵn trong tâm thức chúng ta:
Nếu
chúng ta biết cách điều động hướng dẫn trí tưởng tượng
của chúng ta, chúng ta sẽ giựt mình nhận ngay rằng sức mạnh
kinh hồn của trí tưởng tượng linh hoạt trong mọi bình diện
đời sống, những điều lớn lao nhất trong đời đều có
sẵn trong chúng ta. Chính sức mạnh của trí tưởng tượng
có khả năng vô biên sáng tạo ra những cái cụ thể mà chúng
ta thường gọi là thực tại và thực tế. Tất cả những
điều chúng ta tưởng tượng mỗi ngày chính là đièu xô đẩy
mình (lúc chết) đầu thai vào những cõi tối tăm xấu ác
bi thảm. Biết tưởng tượng ra điều cao đẹp thì được
sống cõi cao đẹp.
Chuyển
hóa tâm thức cũng là một cách tích cực xoay chuyển trí tưởng
tượng mìn vào trên đỉnh núi, mở rộng tầm nhìn của mình
vọng thẳng lên bầu trời bao la mênh mông, quán tưởng, và
quán tượng vô số chư Phật và chư Đại Bồ Tát đang vân
tập như mây ngũ sắc đầy trời. Tất cả đều có sẵn trong
tâm thức của chúng ta, chỉ khi nào tâm được trống trải,
trống rỗng, sáng ngời, sáng rực thực sự, lúc ấy niềm
cực lạc xuất hiện trọn vẹn đồng lúc với sự thông đạt
vô ngại của Không Tính.
Phải
làm gì để đạt tới được sự xoay chuyển trọn vẹn của
tâm thức quay trở về lại Phật Tính?
Bước
đầu tiên là phải qui y Tam Bảo. Khi đã qui y Tam Bảo thì
không bao giờ trở lại qui y thế gian và qui y thế tục, không
bao giờ có thể qui y tà ma hay quỉ thần ngoại đạo, dù có
phải chịu tử hình hay bị phá hủy thân mạng cũng dứt khoát
không bao giờ từ bỏ Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), nhất cử
nhất động, mỗi một cử chỉ và mỗi một hơi thở đều
xoay hướng tạ ơn, ngưỡng mộ, và tôn kính Phật, Pháp, Tăng.
Một lúc nào đó, hơi thở sẽ trở nên thơm ngát như bông
sen.
CHƯƠNG
7
TAM
BẢO CHÍNH LÀ TÂM THỨC CỦA CHÚNG TA
7.
Tam Bảo chính là tâm thức của chúng ta:
Mỗi
lúc tâm thức mình bất ngờ được chuyển hóa toàn diện,
được lọc sạch trong sáng rực ngời, lúc ấy Phật, Pháp
và Tăng không còn là cái gì ở bên ngoài mình, không còn cách
biệt với mình: Tam Bảo trở thành bản thân và bản thức
của chính mình. Qui y Tam Bảo, tri ơn, ngưỡng mộ, tôn kính
Phật, Pháp và Tăng: đó là tri ơn, ngưỡng mộ, tôn kính "bản
lai diện mục" của mình. Mình thờ phụng, quì lạy liên tục,
cúng dường, sám hối, thỉnh cầu sự hiện diện thường
xuyên của tất cả những gì cao quí nhất.
Đời
người chỉ có ý nghĩa thực sự mỗi khi mình được thường
trực sống thở ngay vào bên trong lòng bông sen thơm trắng,
lúc thành Phật thì chính mình sẽ ngồi trên cái bông sen tinh
khiết ấy. Phật tử đúng nghĩa phải là người qui y Tam Bảo
và không bao giờ qui y tám pháp của thế gian, Phật tử đúng
nghĩa xa lìa dứt khoát tám điều dao động bản thân một
cách dữ dội nhất, gọi là tám cơn gíó chướng:
1)
Vui sướng khi được khen ngợi ca tụng.
2)
Đau đớn khi bị mắng chửi.
3)
Vui sướng khi được lợi lộc tài sản.
4)
Đau khổ khi mất lợi lộc tài sản.
5)
Vui sướng khi được nổi tiếng, khi được thành công.
6)
Đau khổ vì bị thất bại hay vô danh.
7)
Vui sướng khi được tiện nghi thoải mái.
8)
Đau đớn khi bị mất tiện nghi.
Nói
gọn lại: danh thơm, tiếng xấu, được mất, khen, chê, sướng,
khổ. Dù tu hành trọn đời cho đến 95 tuổi, lúc chết lại
bất ngờ bị một trong tám cơn gió chướng này thổi đến
làm dao động tâm thức, lúc ấy, vừa chết liền đọa ngay
địa ngục, vì đã đánh mất Bồ Đề Tâm.
Do
đó, điều quan trọng vô cùng, mỗi khi vừa qui Tam Bảo, phải
dứt khoát vững vàng, kiên định, bất lay chuyển trước tám
ngọn gió đời và phát nguyện thể hiện Bồ Đề Tâm.
CHƯƠNG
8
KHÔNG
CÓ BỒ ĐỀ TÂM THÌ CHẲNG CÓ PHẬT, PHÁP VÀ TĂNG
8.
Không có Bồ Đề Tâm thì chẳng có Phật, Pháp, và Tăng:
Nhà
đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã dịch "Bồ Đề Tâm" là
"lòng Bồ Đề", chữ "lòng" đã nói lên tất cả dị biệt
siêu việt của tiếng nói quê hương. Đạo Phật không xuất
thế và cũng không nhập thế: đạo Phật vẫn liên tục chuyển
thế trong từng giây phút trôi qua trên mặt đất và trong cả
toàn thể vũ trụ với hàng trăm tỷ thiên hà bao la.
Bồ
Đề Tâm là gì? Lòng Bồ Đề là tấm lòng sắt son quyết
kiệt chứng nhập Giác Ngộ viên mãn vì lợi ích mênh mọng
sâu rộng cho tất cả chúng sinh. Bồ Đề là bỏ mình cho người
khác.
Bỏ
mình cho tất cả mọi kẻ khác và cho tất cả sinh vật khác
một cách sáng suốt, trong sạch, trống trải, rực ngời, khỏe
mạnh. Điều này không phải chỉ nằm trong ý nguyện hay đại
nguyện thôi mà lại được thực hiện trọn vẹn ngay trong
từng bước chân của bực Bồ Tát trên con đường thu nhiếp
lại cứu cánh tối hậu: mỗi bước chân đã là lộ trình
trọn vẹn, chỗ đi tới đã lập tức được thực hiện trong
từng bước chân, vì chứng nhập rằng không có đến và không
có đi, mà Bồ Tát Hạnh có nghĩa là vẫn đi hoài, vì lợi
ích sâu rộng cho chúng sinh.
Khi
nào còn Bồ Đề Tâm thì còn Bồ Tát và còn Phật, Pháp và
Tăng. Tam Bảo sẽ bị tiêu diệt trên mặt đất này nếu tất
cả mọi người đều quên mất Bồ Đề Tâm. Lúc sáu bảy
tỉ người đều quên mất Bồ Đề Tâm, lúc ấy chỉ còn
một người duy nhất thể hiện chứng nhập Bồ Đề Tâm thì
Phật, Pháp và Tăng vẫn còn xuất hiện để cứu thoát nhân
loại. Bồ Đề Tâm hay lòng Bồ Đề là lòng phát hiện Giác
Ngộ viên mãn vì lợi ích phi thường cho tất cả sinh vật
của tất cả vũ trụ. Theo nghĩa bình thường, Bồ Đề Tâm
được thể hiện nơi lòng từ bi sâu rộng bao la. Theo nghĩa
phi thưòng, Bồ Đề Tâm được thực hiện qua sự chứng nhập
Không Tính: tất cả đều không có tự tính, tất cả đều
trống trải, rực sáng, vô ngại, cực lạc.
CHƯƠNG
CHÍN
TỪ
BI LÀ TRÍ HUỆ
9.
Từ Bi là Trí Huệ:
Mỗi
bưóc chân khởi đầu đã là chỗ đi tới rồi: Bất Nhị
luôn luôn là "lý nhất quán" của Phật Pháp. Bất Nhị là
vô tự tính, nghĩa là Không Tính, và Không Tính đã được
lưu động trong chân lý bình thường là Duyên Khởi. Về mặt
Duyên Khởi là Từ Bi, về mặt Không Tính là Trí Huệ. Từ
Bi Siêu Việt (Đại Từ Bi) và Trí Huệ Siêu Việt (Đại Bát
Nhã, Đại Trí Huệ) đã được thu nhiếp trong lực tự chân
ngôn thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát: "Om Mani Padmé Hum".
Mỗi khi tụng lên thần chú Om Mani Padmé Hum thì Quán Thế Âm
Bồ Tát xuất hiện ngay lập tức. Có người không thấy gì
hết, điều này cũng tốt: chỉ cần nói thầm Om Mani Padmé
Hum một lần thôi, dù mình không thấy gì hết, nhưng thực
sự trong cõi cực kỳ vi tế của tâm thức của chính mình
đã xuất hiện hạt giống tốt đẹp cho cả rừng cây dược
thụ tương lai.
Khi
đứng ở bình diện phi thường, sáu vần của câu thần chú
Om Mani Padmé Hum không phải nói về Quán Thế Âm Bồ Tát mà
lại chính là Quán Thế Âm Bồ Tát: Quán Thế Âm không khác
biệt với sáu âm thanh Om Mani Padmé Hum, và Om Mani Padmé Hum
không khác với Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát
tức là Om Mani Padmé Hum, và Om Mani Padmé Hum tức là Quán Thế
Âm Bồ Tát.
Lòng
Từ chỉ là lòng Từ vì đã có lòng Bi, và vì có lòng Từ
Bi mới có được Trí Huệ: có từ thì có bi, có bi thì có
trí, có trí thì có huệ. Thực ra tất cả đều xảy ra nhất
loạt, tất cả đều được xuất hiện và thực hiện đồng
lúc ngay lập tức. Lòng Đại Bi là phương tiện thiện xảo,
giống như con trai. Lòng Đại Bi nhập một với Trí Huệ mà
Trí Huệ (Không Tính) thì giống như con gái. Đại lạc xuất
hiện trong tính nhập giữa Từ Bi và Trí Huệ, cái chùy kim
cương (Từ Bi) và cái chuông (Trí Huệ); cái chùy kim cương
được thu lấy trong bàn tay phải và cái chuông được giữ
yên ở bàn tay trái của Đức Phật Kim Cương Tát Trụy (Vajrasattva)
trong Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng.
Chuyển
qua một bình diện khác, qua một luồng sánh sáng khác trong
sáng hiền hậu hơn nữa: cha mẹ của mình ôm nhau khăng khít
mặn nồng trong cơn hoan lạc vô biên (đại lạc), nhờ thế
mình mới được đầu thai ra đời. Tây Tạng gọi là yab-yum
(cha mẹ) trong sự thể hiện Phật Pháp một cách cụ thể
siêu việt sự hòa nhập giữa cha (yab) và mẹ (yum) là chứng
nhập Giác Ngộ (Đại Lạc) giữa lòng kết hợp; hội nhập
trọn vẹn từ thể xác đến tinh thần giữa cha là phương
tiện thiện xảo (lòng từ bi) và mẹ là Không Tính (trí huệ).
Cha bên phải (chùy kim cương bên phải bàn tay mặt của Đức
Phật Kim Cương Tát Trụy) và mẹ bên trái (cái chuông bên
trái của ngài Kim Cương Tát Trụy). Cha là Cực lạc và mẹ
là Không Tính; cha là tha lợi (vì lợi ích cho kẻ khác) và
mẹ là tự lợi (vì lợi ích cho chính mình); cha là tha lực
(Tịnh Độ Tông) và mẹ là tự lực (Thiên Tông); cha là sắc
thân (rupakaya) và mẹ là pháp thân (dharmakaya). Đó là ý nghĩa
phi thường siêu việt về những ảnh tượng Phật Cha và Phật
Mẹ ôm nhau giao hợp mà chúng ta thưòng được nhìn thấy trong
Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng. Có nhiều người đã hiểu
sai lạc về những ảnh tượng siêu việt ấy, thực ra chỉ
có Phật Giáo Tây Tạng là một truyền thống Phật Pháp duy
nhất hiện nay còn giữ lại tất cả tinh túy nguyên vẹn trong
sạch nhất của Phật Giáo Ấn Độ, sau khi Phật Giáo Ấn
Độ đã bị tiêu diệt trọn vẹn vào thế kỷ thứ mười
ba, do những thế lực tàn ác dã man của ngoại đạo ngoại
bang.
Tất
cả tinh ba tinh túy của Phật Giáo Đại Thừa Ấn Độ và
Phật Giáo Kim Cương Thừa Tây Tạng được thu gọn lại trong
sáu âm thanh linh thiêng của lục tự đại chân ngôn, lục
tự đại thần chú Om Mani Padmé Hum (Án Ma Ni Bát Di Hồng).
Sáu âm thanh linh hiện này đóng khép lại sáu cửa luân hồi:
người đọc tụng thần chú này thì nhất định sẽ không
bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, người, a tu
la, chư thiên. Thế là thoát vượt ra cõi luân hồi.
Om
tức A,U, M, nghĩa là thân khẩu, ý của chư Phật.
Mani
là ngọc như ý (tức là cha, nghĩa là phương tiện thiện xảo,
chính là lòng Đại Bi).
Padmé
là hoa sen, (tức là mẹ, nghĩa là Không tính, chính là Trí
Huệ).
Hum
là chủng tự bí mật nói lên sự Hòa Nhập, tính cách Bất
Nhị bất động giữa lòng Đại Bi và Đại Trí Huệ.
Có
nhiều vị thánh tăng Phật Giáo ở Hy Mã Lạp Sơn đã trì
tụng đại thần chú Om Mani Padmé Hum đến cả năm triệu lần
hoặc nhiều hơn nữa. Đối với chúng ta, có lẽ chỉ đọc
được khoảng 108 lần mỗi ngày và cũng đủ tự cho rằng
mình khá tinh tấn?
CHƯƠNG
10
PHƯƠNG
PHÁP THỰC TIỄN GIẢN DỊ ĐỂ TU HÀNH PHẬT PHÁP
10.
Phương thực tiễn giản dị để tu hành Phật Pháp:
Chúng
ta khó theo được sức mạnh tinh tấn dị thường của những
bậc thánh tăng như Milarepa và Shabkar. Ngay đến thế kỷ 20
này, vị thánh tăng Tây Tạng Deshung Rinpoche (1906-1987) mới
vừa mất cách đây mười năm, mỗi ngày, ngài thức dậy lúc
2 giờ sáng và thực hành đủ mọi pháp môn quán tưởng thiền
định mật tông (từ pháp môn quán tưởng Hevajra, Vajrayogini
cho đến Manjushri và Tara), rồi đến chiều thì quán tưởng
thiền mật về pháp môn Quán Thế Âm Bồ Tát, rồi qui y Tam
Bảo đến 108 lần mỗi ngày (vừa đọc chú, vừa quán tưởng,
vừa quì lạy), rồi sám hối theo pháp môn Kim Cương Tát Trụy,
rồi cúng dường, v.v... Tối trước khi ngủ, ngài lại thực
hành pháp môn du già lúc ngủ, rồi lại đọc tụng mỗi đêm
về Bảy Điểm Chuyển Tâm của truyền thống tổ sư tông
phái Kadampa mà người khai sáng là Tổ Sư Ấn Độ Atisa (A
Tỳ Sa).
Đó
là chưa kể đến việc trì chú thường xuyên của ngài, mỗi
ngày Deshung Rinpiche (Deshung Đại Bảo) trì chú Om Mani Padmé
Hum đến hai chục ngàn lần. Như thế, chỉ mười ngày thì
đã đến 200,000 lần, một trăm ngày thì đã tới hai triệu
lần, ngài sống đến 81 tuổi, như vậy, khó mà đếm được
mấy trăm triệu lần ngài đã trì chú Om Mani Padmé Hum!
Phương
pháp thực tiễn giản dị nhất để tập tu hành Phật Pháp
là noi theo gương của ngài Desung Rinpoche; còn nếu theo ngài
không được thì chúng ta cũng học được tính khiêm tốn,
khiêm nhường và ý thức trọn vẹn rằng mình chỉ là một
kẻ chưa hiểu biết gì về Phật Pháp cả. Nếu có học tu
hành chút ít chỉ mong đọc Om Mani Padmé Hum cho đến một ngàn
lần mỗi ngày, hoặc tệ nhất cũng 108 lần mỗi ngày.
Chúng
ta cũng không nên quên rằng một người mới bắt đầu khởi
sự tu hành Phật Giáo Tây Tạng, sơ khởi là phải quì lạy
500,000 lần (vừa đọc chú, vừa quán tưởng, vừa quì lạy):
một trăm ngàn lần qui y Tam Bảo, một trăm ngàn lần lạy
Phật Pháp Tăng, một trăm ngàn lần quán tưởng Kim Cương
Tát Trụy và làm nghi thức sám hối với chú bách tự của
Kim Cương Tát Trụy (Vajrasattva) phải trì tụng đến một trăm
ngàn lần, rồi lại cúng dường mạn đà la cho Tam Bảo đến
một trăm ngàn lần, rồi lại thực hiện quán tưởng du già
bản sư (guru yoga) cho đến một trăm ngàn lần nữa. Rồi sau
đó, tốt nhất là tự nhốt mình (nhập thất) để thiền
định quán tưởng trong hang động đến 3 năm 3 tháng 3 ngày,
hoặc sau đó lập lại 3 năm nữa, hoặc vài ba lần chu kỳ
3 năm ...
Khó
tình làm được như vậy, nhưng cả ngàn năm nay, trên núi
Hy Mã Lạp Sơn, có vô số tu sĩ, đạo sĩ đã thực hiện nhiều
việc tu hành Phật Pháp còn khó khăn gấp vạn lần trên: thí
dụ cụ thể là Milarepa và Shabkar mà chúng ta còn biết được
qua những tài liệu dịch từ tiếng Tây Tạng trong mấy chục
năm nay.
Bài
học lớn nhất về Phật Pháp, phương pháp thực tiễn giản
dị nhất để tu hành Phật Pháp là gì? Đó là pháp môn chuyển
hóa tâm thức mà Tổ Sư Ấn Độ Atisa đã truyền qua Tây Tạng
từ thế kỷ 11 và vẫn còn được tất cả chư tăng của
tất cả tông phái mật tông Tây Tạng áp dụng hành trì hằng
ngày hằng đêm cho đến ngày hôm nay.
Điều
thực tiễn giản dị đầu tiên để tu hành Phật Pháp chính
là lòng kiên nhẫn. Tổ Sư Thánh Tăng Ấn Độ Atisa đã dạy
như vầy: "Sự kiên nhẫn cao lớn nhất chính là lòng khiêm
tốn, khiêm nhường".
Một
hôm tại Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ vào năm 1974, một
bậc cao tăng vĩ đại thuộc tông phái dòng tổ Atisa, đức
Đạt lai Lạt Ma (Daila Lama) đã từng nói như vầy:
"Chỉ
cần biết một chữ của Phật Pháp thôi và đem chữ ấy vào
việc thực hành tu chứng, điều này đem đến những kết
quả tu hành sâu thẳm và đặc biệt, trái lại những kẻ
nào có thể tụng thuộc lòng một trăm ngàn quyển kinh luận
mà không thực hành tu chứng Phật Pháp thì chẳng chứng nghiệm
lợi ích bao nhiêu cả".
Vậy,
chúng ta chỉ cần kiên nhẫn khiêm tốn thực hành trì tụng
câu thần chú Quán Thế Âm Om Mani Padmé Hum đến vài ngàn lần
mỗi ngày, liên tục, đều đặn, và tất nhiên nhất định
tâm thức của mình sẽ chuyển hóa toàn diện.