70.
NHẤT TỨC NHẤT THIẾT, NHẤT THIẾT TỨC NHẤT
Dịch
Một
là tất cả, tất cả là một.
Lời
khai thị:
Hai
lần năm là mười, hai lần năm cũng là bẩy, pháp vốn chẳng
định, lãnh hội do người. Gọi chúng sanh là chư Phật, bản
thể đâu có sai; gọi chư Phật là chúng sanh lý chẳng mất.
Bỗng có người ra nói: “Chúng sanh tự chúng sanh, chư Phật
tự chư Phật, đâu thể thánh phàm lẫn lộn”! Khiến cho
ông già Thích Ca khi không bị oan, chỉ cần nói với ông ta:
“Vô thỉ vọng lưu chuyển, đều do sự chấp này”.
Định
tánh phàm phu bị Phật quở,
Thiên
thủ Quan Âm xô chẳng ra.
(Vì
vậy, kinh Đại thừa liễu nghĩa đều phá chấp thật của
chúng sanh. Nói đến chấp thật, nhiều người mới nghe tưởng
là chỉ không chấp cái có là thật, còn cái không có không
phải thật! Nếu chấp không có là không có, thì bệnh chấp
nặng thêm. Nếu chẳng chấp chơn lại chấp vọng, thì
bệnh càng nặng thêm, rất khó trị.
Vì
có bệnh chấp thật nên bị luân hồi sanh tử từ vô thỉ
đến nay. Nếu chấp thật mà không theo lời của Phật, Tổ
mà tu. Mặc dù, Bồ tát Quán Thế Âm đại từ đại bi muốn
đẩy ra khỏi biển khổ cũng không thể được).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói “Một là tất cả, tất cả là một”. Hoặc có người
dẫn chứng kinh nói: “Một là một của tất cả, tất cả
là tất cả của một, nơi một chẳng ít, nơi tất cả chẳng
nhiều, đây là tâm pháp cùng khắp, một với nhiều dung thông
nhau, chẳng do thần thông làm ra, ấy là pháp vốn như thế”!
Thuyết này ghi đủ trong sách, chẳng cần dẫn chứng, nói
nhiều thêm phiền, nơi đạo vô ích.
Phải
biết, Tổ sư trước tác Minh này, đến chỗ “bất nhị giai
đồng, vô bất bao dung”, e kẻ hậu học chẳng thông đạt
lý viên dung, trước dùng “dài ngắn tương tức (hỗ tương)”,
kế dùng “lớn nhỏ tương tức”, kế nữa dùng “hữu vô
tương tức”, nay lại dùng “một nhiều tương tức”, đem
vô biên thế giới dung thành pháp môn bất nhị, khai thác vũ
trụ của vạn vật, mở rộng quê hương của chúng sanh, giúp
cho kẻ hậu học chẳng cất bước mà đến, chẳng cách mảy
trần mà nhập, chẳng ra sức mà thành, chẳng nổi niệm mà
chứng, nguyên đại từ thỏa mãn, công giáo hóa cũng cùng
khắp rồi.
Lời
của Tổ muốn mình ngộ liền, cho nên ngài Trung Phong còn phủ
nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Dù
vậy, kẻ mang bức tranh ngựa đi tìm ngựa, ngày càng thêm
nhiều, lại tìm không ra. Nếu muốn được ngựa thật, phải
quày đầu trở về. Tức là đừng có hướng ngoài mà tìm,
để tự biết mình là cái gì? Khi triệt ngộ rồi, luôn chấp
Tổ sư cũng đuổi đi; mới là tri ân báo ân Tổ sư dạy cho
mình được ngộ.
Tổ
sư không có giải thích đạo lý cao siêu cho mình biết, để
cho mình đi tìm cầu ở ngoài. Nếu không tự ngộ được,
như đuôi con rùa dính đất, muốn làm sạch đất thì càng
dính đất nhiều thêm. Do sai lầm của mình làm cho chư Tổ
phải bị liên lụy.
Kệ
kết thúc:
Đại
địa vò lại bằng hạt gạo,
Công
khai đánh trống mọi người xem.
Mạt
vàng trong mắt nếu chưa hết,
Muốn
biết trắng đen cũng khó khăn.
(Hai
câu đầu diễn tả cảnh giới kiến tánh, như đại địa
vò thành, tức là lớn biến thành nhỏ, không có phân biệt.
Đánh trống cho mọi người nghe, tức là khi kiến tánh thì
lục căn hỗ dụng, dùng con mắt để nghe.
Mặc
dù vàng rất quý, nhưng mạc vàng rơi vào mắt sáng, thì cũng
làm cho hại mắt. Tổ đã ngộ nói ra giáo lý thì rất quý,
nhưng mình chấp thật vào đó, đâu có khác gì mạc vàng rơi
vào mắt, rất có hại. Nếu không chịu trị cho hết, thì
con mắt sẽ đui, lúc đó muốn phân biệt trắng đen cũng không
ra).
71.
ĐẢN NĂNG NHƯ THỊ, HÀ LỰ BẤT TẤT
Dịch
Nếu
được như thế, lo gì chẳng xong.
Lời
khai thị:
Đại
tâm chẳng trụ, đại hóa chẳng dấu tích, đại cơ xảo chẳng
cần làm, đại nhiệm vụ chẳng ra sức (đại tâm, đại hóa,
đại cơ xảo, đại nhiệm là biệt danh của Tự tánh
thì vô trụ. Nếu có trụ thì làm chướng ngại cái dụng
tự động của Tự tánh. Bốn chữ đại ở đây không phải
đối với tiểu mà nói đại, là siêu việt số lượng).
Chỗ
muôn pháp toàn hiển bày, ánh sáng và hình bóng đều tiêu
diệt (nếu thấy được không phải là cái dụng của Tự
tánh). Lúc một mảy lông chẳng hiện ra, lại chất đầy như
núi. Mối trắng ăn lũng tâm Phật sắt, ruồi xanh đạp lũng
lưng trâu vàng (cái dụng Tự tánh thì tự động, nên phàm
phu không thể hiểu được, vì lục căn không thể tiếp xúc
được).
Triệu
Châu thấy ông buông chẳng xuống, Yển Khê lại từ chỗ này
vào.
(Có
vị Tăng hỏi Triệu Châu: Không mang theo vật gì, lúc đó như
thế nào?
Triệu
Châu đáp: Buông xuống đi.
Tăng
lại hỏi: Một vật không đến, buông xuống cái gì?
Triệu
Châu đáp: Buông xuống không được thì gánh lên.
Tăng
ấy liền ngộ.
Có
vị Tăng hỏi Tổ Yển Khê: Người học mới vào Tòng lâm,
xin Thầy khai thị làm sao nhập?
Yển
Khê đáp: Từ chỗ này nhập).
Tùy
tay đem đến tùy miệng nhổ ra, trí đâu thể biết, thức
đâu nhận được.
Bao
người ngó nhằm bị mù mắt,
Bất
tài thừa kế uổng hứa khả.
(Nhiều
người sai lầm dùng mắt để xem, xem đến mắt bị khô, cũng
không nhìn được. Nếu người con không được truyền gia
tài, thì bị điểm tráng. Ở Trung Quốc có cửa Long Môn, có
con cá lý ngư, tới mùa sóng có 3 cấp. Nếu con cá lý ngư
nhảy qua đó được thì biến thành rồng. Nếu nhảy không
qua thì bị điểm tráng thối lui. Ý ở đây mình là con nhà
thiền, thì mới nối tiếp mạng mạch của Tổ. Còn không
phải thì bị điểm tráng thối lui).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: "Nếu được như thế, lo gì chẳng xong". Người nghĩa
giải cho rằng: Kinh Pháp Hoa nói: “Nay ta vì ông bảo
nhậm việc này, trọn chẳng hư dối”. Nếu theo lời của
Phật mà thực hành, quét hết bệnh chấp thật của mình,
thì sẽ kiến tánh thành Phật. Việc này chân thật không có
hư vọng. Lời của Tổ cũng vậy, như: "Nếu được như thế,
lo gì chẳng xong ", cái ý cũng vậy. Vì người học mà khích
lệ để tinh tấn tham thiền, là thành ý của Tổ được thấy
rõ ở đây.
Quyết
tử tham thoại đầu sẽ được kiến tánh, chứ khỏi lo không
xong việc. Phật ở trong kinh Pháp Hoa có khuyến khích mình
tinh tấn và Tổ Tăng Xán ở hai câu này cũng khích lệ mình
tinh tấn tu giải thoát.
Như
trên rất có lý, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Dù
vậy, ông đã được như thế hay chưa? Tức là kiến tánh
chưa? Nếu chưa kiến tánh mà theo lời của Tổ trả lời liền,
hay học theo hành động của tổ gật đầu 3 cái của Giáp
Sơn, thì đã trể 8 khắc (1 khắc = 15 phút), vậy lâu quá rồi!
Chúng
ta phải tự ngộ, nếu chưa ngộ mà bắt chước hành động
của Tổ, bị Tổ mắng là: “Con chó ăn cứt của người
ta, không phải là con chó tốt”.
Hôm
qua có người học theo của Tổ. Lại nắm tay tôi (Duy Lực)
hỏi: Có chăng?
Tôi
nói: Không, không.
Người
ấy xách gói đi ra. Tôi thấy vậy chỉ cười thầm mà thôi.
Người
đó học theo cũng không giống, muốn làm con chó không đủ
tư cách. Vì có qua bộ óc suy nghĩ một chút cũng không được;
giống như thuyền đang đi, làm rớt kiếm, rồi khắc dấu
trên thành thuyền, để đi tìm!
Kệ
kết thúc:
Như
thế, như thế cứ như thế,
Việc
xong lúc nào tìm hỏi ai?
Gở
được nhiều lớp da mặt sắt,
Đường
về quê hương vẫn xa xôi.
(Theo
lời nói: Như thế, như thế cứ như thế! Như thế chừng
nào mới xong việc? Lúc xong việc từ đâu mà đến? Nếu mình
không tự ra sức tham thiền, mà ăn cắp lời của Tổ cho là
của mình, thì không biết mắc cở! Cứ mang mặt nạ sắt
nhiều lớp, dẫu cho lột hết nhiều lớp mặt nạ sắt, có
mắc cở, nhưng đối với về hương còn cách xa 3000 ngàn dặm).
72.
TÍN TÂM BẤT NHỊ, BẤT NHỊ TÍN TÂM
Dịch
Tin
tự tâm là bất nhị, bất nhị phải tin tự tâm.
Lời
khai thị:
“Tâm
là căn, pháp là trần, hai thứ như vết bụi trên gương”
ngài Vĩnh Gia nói quá lố, muốn đục mở con mắt trời người,
còn như cách biển (mở mắt trời người là kiến tánh. Ngài
Lai Quả nói: “Người chưa kiến tánh như người mù bẩm
sinh, không biết bùn sình, cứt chó, hầm cầu. Đi đường
đạp nhầm cứt chó cho là tốt. Đến chừng kiến tánh tức
là mắt sáng, không có đạp cứt chó nữa”. Chứng Đạo
Ca của ngài Vĩnh Gia tuy rất hay, nhưng đối việc kiến tánh
còn xa như biển rộng).
Không
bằng nói ngược lại: “Tâm phi căn, pháp phi trần, cùng chuyển
Như Lai chánh pháp luân! (Tâm là lục căn, pháp là lục trần.
Không được chấp thật căn với trần. Chánh pháp của Phật
phá chấp thật).
Bỗng
có người nói: “Lời Vĩnh Gia như cách biển, lời ông là
biển cách”, đâu bằng Tam Tổ nói: “Tín tâm bất nhị,
bất nhị tín tâm”. Hai câu này như trái cân sắt, muốn đục
chẳng lũng. Chỉ nói với y rằng: “Im đi, im đi! Kêu đến
chảy máu cũng vô dụng, không bằng ngậm miệng qua xuân tàn”.
(Như
con ve sầu ở trên cây, ngày đêm kêu hoài không dứt, kêu
đến chảy máu cũng vô dụng, không bằng ngậm miệng lại,
đợi mùa xuân đi qua).
Lời
nghĩa giải:
Hoặc
có người giải nghĩa ý của Tổ sư rằng: Chúng sanh mê tâm
này đã lâu, nơi một pháp vọng sanh phân biệt, mỗi mỗi
phân biệt đều là nhị. Nay thấy mình là tự, ắt thấy người
là tha, ấy gọi là cái nhị của tự tha.
Từ
đây sanh khởi vô số phân biệt, nhị lại thêm nhị, dùng
toán số thí dụ cũng chẳng thể biết được số lượng,
cho nên lòng từ bi của Tổ sư thái quá, đề ra 2 câu: “Tín
tâm bất nhị, bất nhị tín tâm” làm chánh ấn (con dấu
chánh pháp), ngay đầu thiền giả dùng ấn ấn định, như
nắm bâu áo thì cả áo đều xuôi theo.
Sấm
sét đánh thức người mê mộng, nắng trời rọi khắp đường
tối tăm, khiến người mù thấy, người điếc nghe, người
nghèo thành giàu, người ngu thành trí. Chẳng lìa căn nhà chiêm
bao, cao đăng quốc độ chơn giác. Dùng thân huyễn thẳng chứng
bản thể kim cang, đáng xưng là thuốc thần trị bệnh sanh
tử, là bậc đạo sư hướng dẫn từ phàm vào thánh.
Rất
hay, Rất hay.
Lời
tán thán ở trên rất hay, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Khen
ngợi tạm ngưng đi! Chính ngay lúc ngộ, cái thuyết “bất
nhị” này, còn có chỗ dung nạp hay không? Nếu không có chỗ
dung nạp, thì Tổ sư đến đây cũng đáng ăn gậy.
(Nhưng
sự thật không phải lỗi của Tổ, là bệnh chấp thật của
chúng ta, chấp lời của Tổ là thật, mới làm cho Tổ bị
ăn gậy, chứ không phải lời của Tổ sai. Lời của Tổ muốn
chúng ta ngộ, chứ không muốn chúng ta chấp vào lời của
Tổ.
Lời
của Tổ là cái ngộ của Tổ, nếu chấp lời của Tổ là
cái ngộ của mình, giống như mình lượm con dấu bằng vàng
của người khác, để đóng dấu làm bằng chứng cho mọi
người, thì mình không khỏi tránh tai họa về sau).
Kệ
kết thúc:
Thánh
phàm mê ngộ đều bất nhị,
Thấu
rõ vốn từ tín tâm ra.
Tâm
chẳng sanh diệt ai mê ngộ?
Khi
không nhảy vào hầm lửa hồng.
(Phàm
đối với thánh, ngộ đối với mê; vì mình chấp thật mới
có phàm có thánh. Chúng sanh là mê, chư Phật là ngộ; vì có
phàm mới có thánh, có mê mới có ngộ. Nếu tham thiền được
ngộ triệt để, thì thấy vốn không có mê, làm sao có ngộ?
Cho nên, mê ngộ, phàm thánh đều quét sạch. Vì mê ngộ, phàm
thánh là nhị pháp tương đối. Nếu quét sạch hết pháp tương
đối, mới được bất nhị thì hiện ra cái dụng Tự tánh.
Khi
ngộ triệt để, thấy vốn không có mê ngộ, vì do bệnh chấp
tâm mới có. Kỳ thật, Tự tánh không phải là Phật, cũng
không phải là chúng sanh. Được ngộ cũng từ tín tâm sanh
ra, tức là tin tự tâm ở đoạn trước nói, tin tâm này là
Phật là chánh tín, tin ngoài tâm có Phật là tà tín. Tổ sư
nói: “Tin có 10 phần thì nghi có 10 phần, nghi có 10 phần
thì ngộ có 10 phần”.
Trước
hết phải có lòng tin tự tâm. Như ngài Bác Sơn nói: “Nếu
tin pháp môn tham thiền này 100% cũng là không được, chỉ
có ½ thôi. Tại sao nói ½? Vì chỉ tin pháp môn chưa tin tự
tâm”. Phải tin tự tâm mới là chánh tín, vì tất cả đều
do tự tâm mà sanh ra. Đến khi ngộ chứng tỏ là như vậy.
Chứng
tỏ Bản tâm không có sanh diệt; đã không có sanh diệt thì
ai mê ngộ? Tại chấp mê nên cần ngộ, ngộ rồi thì không
có mê, không có mê thì không có ngộ. Cũng như không có trói
buộc thì không có giải thoát.
Cho
nên Pháp Bảo Đàn nói: “Thiền định giải thoát không phải
Phật pháp, là pháp nhị, Phật pháp là pháp bất nhị”, bởi
vì không có tán loạn, làm sao có thiền định? Không có bó
buộc, làm sao có giải thoát? Vì còn trong tương đối là nhị.
Vì Bản tâm bất nhị không có sanh diệt.
Nếu
chấp thật như nhảy vô hầm lửa, tức là làm oan cái khổ
sanh tử từ vô thỉ đến bây giờ, phải ở trong lục
đạo luân hồi.
Phật
ở trong kinh Viên Giác có 4 thí dụ, gom lại thành một thí
dụ.
Ai
cũng thấy có sanh tử rõ ràng, tại sao Phật nói không có
sanh tử? Vì thấy có sanh tử là vọng tâm ngày đêm hoạt
động không ngừng. Thí dụ thân xoay thì cảm thấy căn nhà
xoay. Căn nhà xoay dụ cho sanh tử luân hồi, căn nhà ngưng xoay
dụ cho cứu kính Niết bàn (niết là không sanh, bàn là không
diệt).
Vì
vọng tâm ngày đêm hoạt động; ban đêm vọng tâm hoạt động
gọi là độc đầu ý thức biến hiện cảnh giới nhắm mắt
chiêm bao. Ban ngày hoạt động gọi là đồng thời ý thức
biến hiện cảnh giới mở mắt chiêm bao. Tất cả do tâm tạo
tức là ý thức biến hiện. Những cảnh chiêm bao ấy không
phải thật, nhưng lại chấp cho là thật, nên phải chịu các
khổ.
Vì
căn nhà không có xoay, do thân mình xoay, nên có cảm giác sai
lầm căn nhà xoay. Vậy muốn căn nhà ngưng xoay, mà thân không
ngưng xoay thì không thể được, nên thân phải ngưng xoay.
Căn
nhà ngưng xoay dụ là Niết bàn; nếu thật có căn nhà xoay
thì nói căn nhà ngưng xoay mới đúng. Căn nhà vốn không có
xoay, mà không thể nói là ngưng xoay! Vậy nói căn nhà ngưng
xoay là sai lầm).
73.
NGÔN NGỮ ĐẠO ĐOẠN, PHI KHỨ LAI KIM
Dịch
Đường
ngôn ngữ chấm dứt, chẳng phải quá khứ hiện vị lai.
Lời
khai thị:
Nói
đến Tự tánh, Bản tâm không có tên, gọi là tâm chỉ tạm
thời. Nếu không đặt tên là tâm lấy gì để nói, nhưng
sự thật vốn không phải là tâm, nên gọi là phi tâm phi tâm.
Vì không có hình tướng để cho mình thấy, cũng như điện,
con mắt không thể thấy, nhưng tay đụng đến nó thì biết
có điện.
Giở
đầu lên kéo chẳng dứt, buông xuống lại khó tìm. Vậy lời
nói dây dưa không biết đầu đuôi. Nói về Tự tánh từ 2000
trước, ở bên Aán Độ, do Phật Thích Ca nói ra. Tính theo
lời ngài Trung Phong nói, cho đến bây giờ hơn 3000 năm, nhưng
Phật lịch bây giờ mới có 2525 năm. Kỳ thật, Tổ sư bên
Thiền tông truyền qua 3010 năm, khi Phật Thích Ca đưa cành
hoa lên, truyền pháp môn Tổ Sư thiền, 28 Tổ ở Ấn Độ.
Đạt Ma là Tổ thứ 28 Ấn Độ sang Trung Quốc làm sơ Tổ,
rồi truyền đến Huệ Năng là Tổ thứ 6 Trung Quốc, cũng
là Tổ thứ 33 của Thiền tông Ấn Độ và Trung Quốc.
Thiền
tông từ Tổ Huệ Năng mới mở rộng; trước Tổ Huệ Năng
chỉ truyền ít người. Đệ tử của Tổ Huệ Năng kiến tánh
có 43 vị, đến cháu của Tổ Huệ Năng là Mã Tổ có 139 người
kiến tánh. Từ đó đến ngài Trung Phong có 1700 vị kiến tánh.
Vì Thiền tông phá chấp thật, nên gọi là 1700 thằng ngu si,
không phải khinh hay phỉ báng Tổ. Vì không cho người ta chấp
thật. 1700 vị kiến tánh giáo hóa người ta, tùy theo căn cơ,
dùng thủ đoạn cho người ta được kiến tánh.
Có
muôn thứ trừ mãi chẳng hết, kéo nhánh dẫn dây thẳng đến
ngày nay, biến ra lò rèn trui phàm luyện thánh, làm ra việc
huyễn. Cũng như tôi giảng và các vị nghe đều là huyễn,
chư Tổ cũng vậy.
Chúng
sanh nhiều tâm, như: Tâm phàm phu, tâm tiểu thừa, tâm trung
thừa, tâm đại thừa, luyện thành một tâm bất nhị, tức
là từ phàm luyện thành thánh. Cái lò đó đều là việc huyễn
của Tổ sư làm ra như trò chơi. Ví như ngâm thơ, ca hát, đánh
đập, chửi mắng… bày ra đủ thứ.
Những
việc của Tổ sư làm là lòng từ bi tha thiết. Nhưng dị kiến
đua nhau sanh khởi, dị kiến là đối đãi tức là không chấp
chơn thì chấp giả, không chấp giả thì chấp trung đạo,
tương đối đó không lọt bên này thì lọt bên kia, cũng gọi
là biên kiến.
Nếu
có dị kiến (thấy sai khác) thì cái chứng có sai khác. Bản
tánh không có sai khác, vì do kiến giải của chúng sanh có
sai khác, nên công kích lẫn nhau, ông nói tôi sai, tôi nói ông
sai, vì không có chứng triệt để.
Lấy
thuốc của Sư trị bệnh, lại thêm bệnh nhiều hơn, Mặc
dù thuốc đó quý, nhưng không trúng bệnh. Chánh pháp còn không
thể chấp, huống chi tà ma ngoại đạo còn độc hại
hơn nhiều, thì bệnh vô phương cứu chữa, nhưng cũng cố
gắng trị cho đến cùng.
Im
lặng giây lâu nói: “Thuốc cơ xảo gật đầu 3 cái để
tỏ ngộ, ngoài ngôn ngữ câu được cá lý ngư”. Cơ xảo
còn gọi là cơ phong; Tổ sư kiến tánh triệt để, thì cơ
dụng rộng khắp. Nếu kiến tánh chưa triệt để, thì cơ
dụng không rộng khắp.
Ý
của Tổ sư không phải ở trong lời nói, mà ở ngoài lời
nói, cũng như Phật lấy ngón tay để chỉ mặt trăng, mặt
trăng không phải ở trong ngón tay, mà ở ngoài ngón tay. Nhưng
không được lìa ngón tay, phải nhờ ngón tay chỉ mới thấy
mặt trăng. Tuy ngoài lời nói nhưng không bỏ lời nói.
“Tam
điểm hoạt, nhất câu trầm”, nhất và tam là số lượng.
Không gian và thời gian là khái niệm của vọng tâm. Như Hư
Vân Niên Phổ có “Tiền tam tâm và hậu tam tâm”, nếu theo
con số mà tính thì sai, vì ý không ở trong con số, cho nên
nói ngoài lời nói, không được bỏ lời nói, cũng như không
được bỏ ngón tay, phải theo ngón tay chỉ mà nhìn mặt trăng.
Lời
nghĩa giải:
Người
nghĩa giải cho rằng: Đã là đường ngôn ngữ chấm dứt,
thì bài Minh này chẳng phải lời thừa hay sao! Bởi vì bài
Tín Tâm Minh là văn tự thay thế cho ngôn ngữ. Văn tự với
ngôn ngữ là một thứ, thì đọc bài Tín Tâm Minh để làm
gì? Chẳng phải thừa sao!
Nói
chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải
vị lai, thì cái mặt mũi của Tổ sư ở đâu? Mặt mũi của
mình do cha mẹ sanh, không phải bổn lai diện mục của mình,
mặt mũi của Tổ cũng vậy, không phải bổn lai diện mục
của Tổ.
Cho
nên, có câu thoại đầu: Khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn
lai của ta ra sao? Tham thiền là phát hiện mặt mũi bổn lai
của ta. Vậy nói chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại,
chẳng phải vị lai, mặt mũi của ta ra sao? Chúng ta cần phải
tự tham tự ngộ mới được.
Tịch
nghĩa giải:
Đừng
xuyên tạc bậy bạ, làm trò cười cho kẻ bàng quan, họ đâu
biết lý vốn viên dung, đạo chẳng thể lìa, đường ngôn
ngữ chấm dứt mà nói dài dòng đủ thứ, lời giải bừng
bừng như lửa cháy. Chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện
tại, chẳng phải vị lai, thanh tịnh pháp thân thường tịch
diệt, độc dược đề hồ khuấy thành một chén, vàng ròng
miểng ngói vò thành một viên, chỗ dùng không khác lại có
tiêu chuẩn, kẻ một chân đạp tới đáy chẳng có dấu vết
(tức là người ngộ triệt để, nếu còn Niết bàn, Bồ đề
thì chưa triệt để).
Người
bị đánh đập 2, 3 lần, không chịu quay trở về, cứ chấp
chặt sự tính toán của mình, tự gạt mình và gạt người.
Nếu nghe lời dạy của Tổ sư mà thực hành thì cũng trở
thành một vị Thánh sư suốt một đời làm tiêu chuẩn cho
trăm đời. Mặc dù, lấy lời của Tổ quý như tủy con phượng
hoàng, hay đồ ăn ngon của Thiền môn, như dùng lời nói để
nói cũng không phải thật.
Lấy
gân sư tử, dứt tuyệt tiếng vang nơi nhà chí linh, nhưng đó
cũng là lời nói thôi. Như vậy Tổ sư còn lấy làm cơm trà
để dùng hay không? Tất nhiên là không rồi, vì Tổ đã chứng
ngộ. Ví dụ như đường, nếu không ăn qua đường, nói trong
đó có bao nhiêu chất lượng vitamin A, vitamin B… nói đủ
thứ. Nhưng người nghe đâu biết ngọt là cái gì? Chỉ cần
thử qua một chút thì mới biết ngọt. Vậy, tham thiền cũng
thế, cần sự ngộ thật chứng của mình.
Những
kiến giải dây dưa cần phải dẹp bỏ, mặc cho người ta
luận bàn, vì lời nói đối với sự ngộ đạo thì vô ích.
Kệ
kết thúc :
Chim
vẻ chén sành hót nhạt xưa,
Lừa
mù đêm khuya đổi giọng ca.
Đường
ngôn ngữ dứt đạo chẳng dứt,
Mặc
kệ người đời loạn suy tư.
(Ngôn
ngữ, văn tự, tư tưởng, ở trong Phật học chỉ là một
thứ, đều là giả danh. Vì ngôn ngữ là văn tự có tiếng,
văn tự là ngôn ngữ có hình, tư tưởng là văn tự không
có hình và ngôn ngữ không có tiếng.
Lấy
ngôn ngữ để nói ra như người họa sĩ, vẽ cái chén đựng
nước giống như thật, hay vẽ ra con chim kêu giống như thật,
mặc dù thật giống nhưng không phải thật. Cũng như lời
nói của người xưa, hay Tín Tâm Minh giải ra thật có lý cao
siêu, nhưng đối với sự thật không có liên quan gì.
Vì
đó là do Tam Tổ ngộ, chứ không phải của mình. Lời của
Tam Tổ nói cho là lời của mình nói, thì cũng như lừa mù
nửa đêm kêu giọng khác, vậy nó đâu có hết mù! Lời của
Tam Tổ là xưa, còn mình nói lại là lời nay, đối với việc
giải thoát sanh tử luân hồi không có liên quan.
Nói
ngôn ngữ cắt đứt hay không cắt đứt đều là văn tự.
Cắt đứt đúng hay không cắt đứt đúng? Đối với việc
sanh tử không có liên quan. Nếu chấp ngôn ngữ để có người
nghe thì phân biệt sai lầm. Bởi vì ngôn ngữ văn tự không
phải thật, không phải sự ngộ của mình. Chư Tổ muốn mình
phải tự ngộ, như trên có thí dụ con sư tử và con chó.
Lời
của Phật, Tổ là của Phật Tổ ngộ, chứ không phải mình
ngộ. Chứ không phải để hiểu lời nói của Phật và Tổ,
hiểu cái đó là vô dụng đối với ngộ Tự tánh của mình
thì không có ích lợi. Vậy muốn tự ngộ cần phải tham thiền.
Nếu chưa ngộ, mặc dù giải thích cho thật giỏi có lý cao
siêu, nhưng không được giải thoát sanh tử.
Đoạn
tổng kết:
Cuốn
Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải này đã hết, phần tổng kết
ngài Trung Phong phê bình: Bài này mặc dù văn tự, nhưng chẳng
phải văn tự, nói là tín tâm, nhưng thật vô tâm. Nếu là
vô tâm thì tín cái gì! Vô tâm thì vô Phật, vì Phật do tâm
ngộ, cho nên chấp thật có Phật, có tâm cũng như lấy hư
không lấp hư không. Hư không làm sao bắt? Hư không làm sao
lấp? Cũng như lấy độc để trị độc thì vẫn còn độc.
Công
án của Tổ Tăng Xán hiện còn ở đây tức là bài Tín Tâm
Minh do Tổ làm ra, hiện nay mình đang đọc. Nếu không chấp
đó là thật, hiểu được ý mà thực hành, thì Thiếu Lâm
tông (Thiền tông) không bị suy sụp. Nếu chấp lời Tam Tổ
là thật, thì danh giá Thiền tông sẽ bị mai một.
Mặc
dù, tâm chẳng phải là tâm, mà cũng coi là Tín Tâm Minh. Chúng
ta đọc Tín Tâm Minh nhưng rất kỵ chấp thật, vì Tổ phá
bệnh chấp thật. Nếu mình còn chấp thật thì cái bệnh vẫn
còn nguyên, phá được bệnh chấp thật mới được kiến
tánh, tức là cái thùng sơn đen đã bị đập bể.
Kiến
tánh rồi, con kỳ lân ngọc mới được kéo về Tự tánh,
dù kỳ lân ngọc là quí, nếu hướng ngoại thì không có liên
quan gì, nên phải kéo nó về Tự tánh. Nếu không tham câu
thoại đầu mà đuổi theo lời nói của Tam Tổ hay lời nói
của Tổ sư khác, như mình lấy tâm ý thức để nghiên cứu
truy tìm, tìm hết đạo lý của Phật, Tổ. Dùng hết gia tài
của Phật để dạy người, làm cho người phải bị mù mắt.
Ý
của Tổ muốn mình phải tự tham tự ngộ, chứ không đuổi
theo văn tự. Vậy Tín tâm Minh này linh nghiệm ở câu nào?
Nếu đã hiểu ý Tổ thì phải tham câu thoại đầu của mình.
Nếu còn có ý lựa chọn ở trong bài Tín Tâm Minh này, có
câu nào linh nghiệm, thì bị Tổ mắng là con chó.
Hỏi:
Kinh
Kim Cang nói: Tu đà hoàn mà mình còn nghĩ Tu đà hoàn tức là
không phải Tu đà hoàn. Vậy, nếu Tu đà hoàn là thật, thì
không nghĩ là Tu đà hoàn phải không? Như thế, trong kinh đức
Phật đã thừa nhận cho người ta chứng đắc, điều này
có đi ngược với tinh thần Thiền tông hay không?
Đáp:
Nếu
tham thiền mà nói “ta tham thiền”, thì không phải tham thiền.
Tham thiền sẽ đạt đến giác ngộ, nếu có tâm cầu ngộ
thì vĩnh viễn không ngộ được. Tu đà hoàn là sơ quả của
thừa Thinh văn, nếu chấp quả mình chứng, nói là “ta đã
chứng quả Tu đà hoàn”, còn cái chấp đó nên chưa
được chứng. Cũng như Chợ Lớn đi Sài Gòn, Sài Gòn là mục
đích mình đến, thì mình cứ đi rồi sẽ đến. Đã đi rồi
thôi, rồi nói “ta đến Sài Gòn”, la lên làm chi! Cứ đi
sẽ đến.
Ngài
Trung Phong khai thị trong Trung Phong Pháp Ngữ rằng: “Tham câu
thoại đầu, khởi nghi tình, câu thoại đầu đã thuần thục,
mà còn biết thuần thục thì chưa đến thoại đầu. Nếu
biết không có thuần thục cũng không được. Mình biết chứng
quả Tu đà hoàn hay không chứng quả, đều không được. Biết
và không biết lọt vào tứ cú là đối đãi ở trong vọng.
Biết là vọng biết, biết không biết là vọng không biết,
đều là vọng.
Trong
Phật pháp từ Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa và Tối
thượng thừa đều phá ngã chấp. Nếu mình biết mình có
sở đắc, như biết đắc quả Tu đà hoàn thì không được,
cái được mà mình không biết, còn biết cái không được
cũng không được. Bỏ bên này chấp bên kia là biên kiến,
phải lọt vào 1 trong 5 thứ ác kiến.
Hỏi:
Theo
Thiền tông, khi phá được sơ quan thì khối nghi đã vỡ, nhưng
đến trùng quan còn phải nghi nữa, khối nghi đã vỡ làm sao
nghi nữa được?
Đáp:
Sơ
quan là bổn tham, phá được bổn tham thì hết nghi. Nhưng coi
công án của Tổ, có cái thấu được, có cái thấu chưa được.
Chỗ chưa được phải nghi nữa, vì nghi căn chưa cắt đứt,
còn có chỗ nghi, thì phải tiếp tục nghi nữa, cho đến ngộ
triệt để.
Hỏi:
A la
hán có kiến tánh không? Nếu không sao ra khỏi luân hồi? Vì
căn bản vô minh còn, còn như nói kiến tánh, thì thiền Tiểu
thừa không có nghi tình làm sao kiến tánh? Kính mong Thầy giải
đáp, theo lời Thầy nói: Có nghi mới có ngộ, không nghi thì
không ngộ.
Đáp:
Theo
lời của Tổ nói: “A la hán chưa được kiến tánh, chưa
phá được căn bản vô minh, nhưng phá được nhân ngã chấp,
được ra khỏi sanh tử luân hồi”. Sanh tử có 2 thứ: Phần
đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. A la hán dứt được
phần đoạn sanh tử, nhưng chưa kiến tánh, nên không dứt
được biến dịch sanh tử, ấy cần phải tiến lên nữa.
Nếu
chấp A la hán là thật, thì Phật mới quở là ngu si, vì họ
tưởng là cứu cánh Niết bàn, nhưng chưa phải. Sự thật
chỉ ở nửa đường. Phá được nhân ngã chấp ra được
phần đoạn sanh tử, nhưng pháp chấp chưa phá được, nên
bị biến dịch sanh tử.
Hỏi:
Theo
bài Bát Nhã Tâm Kinh Thầy đã giảng, trong ấy quét tri kiến
Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật. Vậy đã đến hàng
Thánh, sao chưa đạt được trí huệ Bát nhã? Mà còn kẹt
trong tri kiến, hay tri kiến này chỉ cho các trình độ phàm
nhân trong các giai đoạn học đạo?
Đáp:
Lời
Phật trong Bát Nhã Tâm Kinh là muốn mình không được chấp
cái nào là thật, tức là vô sở trụ. Không được trụ nơi
nào, như trụ nơi tri kiến phàm phu, tri kiến Thinh văn, tri
kiến Duyên giác, tri kiến Bồ tát, tri kiến Phật đều không
được.
Lời
của Tổ nói: “Trụ nơi Phật thì bị Phật bó buộc, trụ
nơi Bồ tát thì bị Bồ tát bó buộc…”, thì không phải
nghĩa vô trụ. Nghĩa vô trụ là hoạt bát vạn năng, nếu có
trụ thì hoạt bát vạn năng bị mất. Ví dụ cánh tay là hoạt
bát vạn năng, lấy kiến, lấy khăn, lấy tách,… đều được.
Nếu trụ vào cái gì thì hoạt bát vạn năng của Tự tánh
bị mất. Muốn lấy thứ gì cũng không được. Cho nên, phải
buông nó ra mới khôi phục lại sự hoạt bát vạn năng.
Trụ
đồ vật là pháp có, nếu trụ nơi pháp không, tức là ở
trong nắm tay không có gì, thì mất cái hoạt bát vạn năng,
muốn lấy thứ gì cũng không được, nên cần phải buông
ra, mới khôi phục lại cái hoạt bát vạn năng.
Tự
tánh cũng vậy, dù Phật cao nhất, nếu trụ thì mất cái hoạt
bát vạn năng của Tự tánh, còn có trụ thì chưa thành Phật,
vô sở trụ là chính thức thành Phật, vì thế trụ Phật
còn phải quét vậy. Đại tâm vô y là vô sở trụ, nếu nơi
có chỗ trụ thì không phải đại tâm, nên dụng tự động
của Tự tánh không hiện ra.
Vì
vậy, Bát Nhã Tâm Kinh phá tất cả chấp của mình, chấp cái
gì cũng không được, dù cao nhất là Phật cũng không được.
Vì còn chấp nên cái dụng của Tự tánh chưa có dùng ra. Nếu
chấp đã hết sạch thì dụng tự động của Tự tánh hiện
ra khắp không gian thời gian.
Lời
Phật hay lời Tổ thì không khác. Tất cả kinh Đại thừa
liễu nghĩa là trị bệnh chấp thật của mình. Nếu không
chấp có mà lại chấp không, không chấp chơn mà lại chấp
giả, thì chấp không chấp giả, bệnh chấp khó trị hơn.
Có
người nói thế giới này là huyễn, thì chấp cái huyễn,
bệnh chấp càng nặng thêm. Nói cái nào cũng là giả, lại
chấp cái giả, thì bệnh chấp này nặng hơn. Vì chấp huyễn
chấp giả thì trụ nơi huyễn nơi giả, như vậy trụ nơi
nào cũng không được.
Cho
nên, chấp nơi Phật còn không được, huống chi cảnh giới
nào mà được! Chấp chỗ nào thì chỗ đó chướng ngại,
nên cái dụng tự động của Tự tánh dùng ra không được.
Hỏi:
Tuần
rồi con nghe thầy giảng tu Thiền và Tịnh Độ, thầy nói
tu thiền đắc quả mau lẹ, có lẽ nói là tu tắc, theo pháp
môn Tịnh Độ thì lâu. Con thấy một số tu thiền lại bị
điên, pháp môn Tịnh Độ tuy chậm, nhưng không bị chướng
ngại, nghĩa là không đến tình trạng cuồng điên. Tuy niệm
Phật nhờ tha lực cầu vãng sanh, tuần trước thầy nói “niệm
Phật biết rõ ngày giờ chết, chưa chắc biết được vãng
sanh không!” Tại sao thầy biết như vậy? Ngồi thiền đến
thị tịch có ngộ đạo chưa, cúi mong thầy giải thích?
Đáp:
Tham
thiền không thể nào nhập ma được! Tôi có nói “chấp vào
tọa thiền mới bị nhập ma”. Kỳ thiền thất trước có
Truyền Nam tham thiền muốn gấp, có sở cầu 49 ngày thành
Phật, không ngủ làm thần kinh căng thẳng, lại quên tham thoại
đầu. Vì không nghe tôi dạy, căn bản tham thiền là “vô
sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” là để phá ngã chấp.
Nhưng không sao chỉ 2, 3 ngày ngủ được rồi sẽ hết.
Có
người niệm Phật nhập ma, học ra máu và lại bị điên.
Tại sao? Vì họ không phá ngã chấp, lấy danh hiệu Phật đè
nén vọng tưởng, đè nén lâu ngày thấy thanh thanh tịnh tịnh,
được định cũng có thần thông, nhưng ngã chấp càng lớn,
thì tham sân si càng mạnh, đè nén lâu ngày nên phản lực
càng cao. Cũng như đánh banh vào tường, càng đánh mạnh thì
trái banh càng phản lại mạnh; nhất là lòng tham nổi lên,
không thể khống chế lại được, lúc ấy lại bị phá giới.
Nếu
thần kinh căn thẳng ta phải vận động, nhảy lên nhảy xuống
hay xoa bóp, chà dưới lòng bàn chân cho nóng, thì sẽ bớt
căng thẳng hay tạt nước vào mình người bị thần kinh căng
thẳng sẽ hết, hoặc xô người ấy rơi xuống nước cũng
sẽ hết. Nếu chưa hết liền thì vài ngày sau rồi sẽ hết.
Tu
theo chánh pháp luôn luôn phá ngã chấp, tu không phá ngã chấp
là không phải chánh pháp. Chỉ lấy câu chú, danh hiệu Phật
hay sổ tức để đè nén vọng tưởng, có sức định cao thì
rất nguy hiểm.
Trong
Truyền Đăng Lục của Trung Quốc có ghi: “Từ đời Sơ Tổ
đến đời Mãn Thanh có 7000 Tổ kiến tánh”, các vị đó
có tên họ địa chỉ đàng hoàng, còn những người không
có ghi trong Truyền Đăng Lục không biết bao nhiêu. Như ngài
Hư Vân, 54 tuổi kiến tánh đến 80 tuổi gặp một người
kiến tánh, nếu không có ngài Hư vân thì không có ai biết.
Tịnh
Độ ở Vãng Sanh Lục và Thánh Hiền Lục, số người ghi trong
đó ít hơn các vị kiến tánh trong Truyền Đăng Lục; mà lại
có nhiều người không phải vãng sanh cực lạc, chỉ làm người
hay sanh cõi trời; họ cũng biết trước ngày giờ chết, người
ta tưởng rằng họ được vãng sanh; kỳ thật, chưa được
vãng sanh, nhưng cũng ghi trong sách cho là vãng sanh.
Ngồi
thiền đến lúc thị tịch ngồi, đắc đạo hay chưa? Cũng
chưa biết được. Như Thiền tông có phái Thủ Tọa, thầy
của ông là Thạch Sương đã kiến tánh có thị giả Cửu
Phong cũng kiến tánh. Sau khi Thạch Sương tịch, đại chúng
cử phái Thủ Tọa lên làm trụ trì. Thị giả Cửu Phong không
chịu và nói: “Nếu biết ý của Tiên sư thì tôi làm thị
giả thầy như làm thị giả cho Tiên sư vậy, nếu không biết
ý Tiên sư thì thầy không được làm trụ trì”.
Thủ
Tọa nghe vậy nói: “Tôi như thế chưa được sao? Nếu đốt
cây nhang cháy hết mà tôi chưa đi được (chết) thì không
được”. Đốt cây nhang một chút thì ông ngồi tịch.
Cửu
Phong nói: Tọa tịch không phải là không có, nhưng ý của
Tiên sư chưa biết được.
Đốt
cây nhang mới cháy một chút, muốn đi thì đi, mà còn chưa
kiến tánh, huống chi tọa tịch làm sao kiến tánh được?
Có
người kiến tánh khỏi cần ngồi tịch, nằm la om sòm: “Đau
quá! Đau quá!”, lại là người kiến tánh.
Thị
giả nói: Lúc thầy còn sống rất gan dạ, sao gần tịch lại
như vậy?
Thầy
mới ngồi lên nạt lớn thị giả: Ông săn sóc lâu năm, sao
không biết ý của tôi?
Cứ
tưởng như thế là thật, hành vi của Tổ mà cho vậy là sai
lầm. Ngài Trung Phong quét sạch nghĩa giải từ đầu đến
cuối, đều cảnh cáo mình đừng chấp bề ngoài, chấp lời
nói, chấp hành động của Tổ. Như gật đầu 3 cái cho là
kiến tánh, vậy ai không biết gật đầu 3 cái? Đưa ngón tay
hay đưa nắm tay cho là kiến tánh, vậy ai làm không được!
Nhưng Tổ kiến tánh thì làm được, còn chưa kiến tánh mà
bắt chước phải đọa địa ngục.
