58.
HƯ MINH TỰ CHIẾU, BẤT LAO TÂM LỰC
Dịch
Rỗng
sáng tự chiếu soi, chẳng lao nhọc tâm lực.
Lời
khai thị:
Đạo
cần mỗi ngày một bớt, như bữa nay 100, ngày mai còn 99, ngày
mốt còn 98, phải giảm lần lần. Tham thiền là cây chổi
tự động quét bớt, không còn cái gì để quét thì quăng
luôn cái chổi nữa, cái đó là hành đạo.
Học
bên giáo môn thì khác, mỗi ngày lại thêm, nay học câu kinh
này, mai học câu kinh khác. Một tháng, hai, ba tháng học một
cuốn kinh, học cuốn kinh này hết đến cuốn kinh khác, thì
phải từ ngày học thêm. Tham thiền mỗi ngày bớt tri kiến,
bớt đến như bông trên cây rơi xuống, chấp trước tiêu
mất.
Học
cần mỗi ngày một thêm, thêm đến đầy bụng tức ngực,
bỗng nhiên thêm và bớt đều quên hết. Tới lúc đó buông
tay về đây học tham thiền.
Diện
không bích (ngó vào vách) là cách giáo hóa của Tổ Đạt Ma.
Chứ không phải bảo mình đối diện với vách tường mà
ngồi như chết. Tham thiền là ôm chặt câu thoại đầu khởi
lên nghi tình, ngày đêm không mất tức là hướng vào không
bích.
Không
là trống rỗng, như không tướng của Bát Nhã Tâm Kinh. Không
chấp thật có gọi là không tướng, không chấp thật không
gọi là không tướng, không chấp thật chơn gọi là không
tướng, không chấp thật giả gọi là không tướng, tức là
không chấp gì cả gọi là không tướng. Tối ngày sáng đêm
giữ nghi tình, không có tướng gì gọi là không bích.
Nam
Tuyền tục gia họ Vương gọi là Vương Lão Sư là đệ tử
của Mã Tổ. Mã Tổ là Thiền sư xuất sắc gọi là đại
cơ đại dụng, độ được 139 người kiến tánh; từ xưa
đến nay chỉ có Mã Tổ được như vậy.
Nam
Tuyền làm hành đường lấy cơm cho đại chúng ăn.
Mã
Tổ hỏi: Trong thùng cơm có gì vậy?
Nam
Tuyền đáp: Bịt miệng con chó lại!
Cùng
tham học với nhau, người nào cũng sợ Nam Tuyền trả lời
một câu rất xuất sắc. Mặc dù đối với thầy mình, nhưng
trong Thiền tông có câu: “Đương cơ bất nhượng”. Lúc
đương cơ chẳng nhường, pháp là pháp, chẳng có nhân tình.
Thủ
đoạn của Nam Tuyền, người ta rất sợ, nhưng trong tâm rất
nhớ.
Tham
thiền thì không có ghi nhớ, ghi nhớ là chướng ngại. Rỗng
sáng tự chiếu soi là cái dụng tự động của Tự tánh, chẳng
phải do tâm lực. Ghi nhớ là bộ óc, không được rỗng sáng
chiếu soi. Nghi tình của tham thiền quét sạch tất cả ghi
nhớ. Vậy thì ghi nhớ đâu còn.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: "Rỗng sáng tự chiếu soi, chẳng lao nhọc tâm lực”.
Người nghĩa giải cho rằng: Tự tánh thanh tịnh khắp nơi,
ở trong đó không dung nạp vật khác thì gọi là hư. Hạt
châu tự hiện ra ánh sáng chiếu soi gọi là minh; đã hư mà
minh, như cái gương, vật gì đến sẽ thấy, nó sẽ chiếu.
Người lớn lại thì hiện hình người lớn, con nít lại thì
hiện hình con nít, người nam lại thì hiện hình người nam,
người nữ đến thì hiện hình người nữ. Cái gương không
muốn hiện hình ai hết, ai đến thì nó hiện gọi là tự
chiếu. Công dụng tự chiếu không cho lời nói. Ở đây nếu
có mảy may tâm lực thì không gọi là hư minh tự chiếu.
Như
trên rất có lý, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Dẫn
dụ rất là đúng lý, vậy ông thấy hư không chẳng tướng
mạo chăng? Ai cũng thấy thấy hư không chẳng tướng mạo,
mà có người nào nghe hư không nói: “Ta chẳng tướng mạo”
không? Giả sử hư không nói: “Ta chẳng tướng mạo” thì
hư không đó chẳng phải hư không. Vậy Tổ sư biết thí dụ
này, cũng không phải là Tổ sư.
Cũng
như xe tứ mã chạy nhanh nhất đuổi theo không kịp. Tức là
dù có nói cao siêu, ở đây cũng là sai lầm. Vì sao? Vì Tự
tánh mình phải tự ngộ. Muốn tự ngộ thì phải tự tham.
Tham đến ngày nghi tình bùng nổ, thì như người uống nước
nóng lạnh tự biết. Nếu theo lời Phật, Tổ để giải thích
đều là vô dụng.
Kệ
kết thúc:
Con
dấu vàng rồng tâm ấn tâm,
Cần
phải chư Tổ truyền thọ nhau.
Lén
lút lượm được cũng vô dụng,
Đâu
thể bắt chước nói diệu hiền.
(Tất
cả chỗ từ vua đến quan, rồi đến những cơ sở thương
mại, đều có con dấu riêng của mình, dùng để đóng dấu
để biểu thị cho người khác, giá trị của mình. Nếu của
người khác mặc dù làm bằng vàng, như con dấu của quan,
mình lượm được không phải con dấu đúng tư cách của mình,
mà đem ra dùng thì không được, có thể bị ở tù.
Nghĩa
là mình phải tự ngộ mới là của mình. Nếu mình lượm
lời nói của Phật, lời nói của Tổ đều vô dụng. Giống
như lượm được con dấu của quan, khác chi cây kim vá áo
không có lỗ, chẳng có tác dụng gì. Cho nên, chư Phật chư
Tổ muốn mình tự tham tự ngộ mới là của mình, còn ngộ
trên lời nói của Phật, Tổ là của người khác thì không
được).
59.
PHI TƯ LƯỢNG XỨ, THỨC TÌNH NAN TRẮC
Dịch
Chỗ
lìa suy nghĩ, tình thức khó lường.
Lời
khai thị:
Bột
trắng trong tuyết dễ phân, thức tức duy tâm. Mực đen trong
than khó biện biệt, duy tâm tức là thức (bình thường người
ta nói tâm thức hay tâm ý thức. Ở trong Duy Thức gồm có
8 thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân
thức, năm thức này gọi là tiền ngũ thức. Thức thứ 6 là
ý thức. Thức thứ 7 là mạt na thức. Thức thứ tám gọi
là a lại da thức. Thường gọi thức thứ 6 là thức. Thức
thứ 7 là ý. Thức thứ 8 là tâm.
Tất
cả 8 thứ thức đều bao gồm thức thứ 8, gọi là tạng thức.
Tâm nghĩa rộng, thức thứ 6 thức thứ 7 thứ thứ 8 đều
là tâm. Thức nghĩa hẹp, thường gọi là lục thức. Thức
thứ 6 có phân biệt tốt xấu. Thức thứ 8 không có phân biệt.
Cho nên, nói thức không phải tâm, nói tâm không phải thức.
Nhưng thức cũng bao gồm ở trong tâm.
Như
Thần Tú có bài kệ:
Thân
như cây bồ đề,
Tâm
như đài gương sáng.
Hàng
ngày phải lau chùi,
Chớ
để dính bụi trần.
Bài
kệ này còn phân biệt của thức thứ 6).
Dưới
ánh mặt trời xem trắng đen, trước đài gương sáng hiện
xấu đẹp (nếu có trắng đen, tốt xấu thì còn phân biệt
lọt vào thức thứ 6). Lời nói như thế, giống như lời giảng
Duy Thức Luận của Pháp sư, trước mặt Nạp Tăng làm sao
hiển lộ tin tức thật? (Theo Thiền môn quét hết, thì chẳng
phải tâm, chẳng phải thức; nếu quét trống bao nhiêu hiện
ra cái dụng tự động của Tự tánh bấy nhiêu).
Chẳng
phải tâm, chẳng phải thức, ban đêm chó sủa thôn Hoa, mùa
xuân oanh hót bờ liễu (những việc đó là lẽ tự nhiên,
không có gì lạ!), cá kình hút cạn sóng đáy biển (sự thật
nước biển làm sao hút hết được?), con rồng chạy vào vô
sanh quốc (vô sanh quốc là biệt danh của Tự tánh, tức là
không sanh không diệt).
Khiến
cho Đại Phạm Vương giựt mình thức dậy, thẳng lên đỉnh
trời sắc cứu cánh, tát cho hư không một bạt tai, rải xuống
long châu trăm ngàn hột, tia sáng lấp lánh rọi áo đẹp.
(Tất
cả cái này hình dung đều không có thật, nên đều quét sạch.
Nếu hư không là thật, làm sao đánh hư không một bạt tai
được? Hư không còn không phải thật, vậy còn cái gì là
thật nữa! Tất cả đều là cái dụng của Tự tánh mà hiện
ra. Cho nên, không phải thật thì không cho bộ óc suy nghĩ hay
thức phân biệt đoán ra được).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: "Chỗ lìa suy nghĩ, tình thức khó lường”. Người
nghĩa giải cho rằng: Thức là thức của nhà tâm, tâm là tâm
của nhà thức, hai thứ này như nước với sữa khó phân biệt.
Phải biết, thức là nước, tâm là sữa trong nước; nên Giáo
môn nói: “ Vua ngỗng chọn sữa, đâu đồng loài vịt”.
Trong nước đều có sữa, chỉ có vua ngỗng mới biết phân
biệt, ngoài ra các thứ thủy tộc khác đều chẳng biết.
Việc này dụ cho trong tất cả đều có chân tâm, chỉ có
Phật, Tổ mới rõ.
Cái
giác chiếu soi của linh tri gọi là tâm, những suy tư, ghi nhớ,
thủ xả, phân biệt… gọi là thức. Thức có tám thứ: Mỗi
căn của lục căn đều có một thức. Thức thứ bảy gọi
là mạt na, thức thứ tám gọi là a lại da, cũng gọi là Như
Lai Tạng, bảy thức trước là nhánh lá, thức thứ tám là
căn bản.
Trong
kinh nói: “Lúc đầu thai thì đến trước, lúc chết thì đi
sau, ngộ là Như Lai Tạng, mê là a lại da”. Thức này nơi
mê thì gìn giữ tất cả nghiệp thiện ác vô ký, xả thân
thọ thân từ vô lượng kiếp; nơi ngộ thì giữ gìn tất
cả hạt giống Bồ Đề, giải thoát, trí huệ từ lúc vô
thủy. Thức này từ mê vào ngộ. Chuyển thành Đại Viên Cảnh
Trí, đổi tên mà chẳng đổi thể.
(Tức
là cái gương tròn, nếu cái gương không tròn thì cái dụng
bị hạn chế, bên đây chiếu được, bên kia chiếu không
được. Cái gương tròn thì cái dụng chiếu khắp mười phương,
hình nào đến thì hiện hình đó, tự nhiên tự động chiếu
soi. Đại Viên Cảnh Trí là biệt danh của tự tánh thì cái
dụng vô lượng vô biên không hạn chế. Còn a lại da thức
thì cái dụng bị hạn chế).
Hiện
nay ở trong tứ đại, ngũ uẩn, các pháp thánh phàm, ghi nhớ
rõ ràng, tác dụng phân biệt, cho đến kiến văn giác tri,
tam giới rộn ràng, vạn pháp thăng trầm, mỗi niệm khởi
diệt, đều nương nơi thức này mà sanh. Cho nên nói “Vạn
pháp duy thức”. Khuê Phong nói: “Pháp sanh vốn không, tất
cả do duy thức”.
(Phật
nói các pháp là vô thỉ, vô thỉ là không có sự bắt đầu,
không có sự bắt đầu là vô sanh, thì tất cả vạn pháp
là không có sanh; do thức phân biệt có cảm giác sai lầm,
nên có sanh diệt; như do cái thân xoay mới thấy căn nhà xoay.
Thân ngưng xoay rồi, thì thấy căn nhà ngưng xoay. Thân này
ví dụ cho thức; thức hoạt động nên thấy có phân biệt.
Căn
nhà xoay và căn nhà ngưng xoay đều do cảm giác phân biệt
sai lầm sanh ra. Căn nhà vốn không có xoay và không có ngưng
xoay, đều do thức biến hiện gọi là tất cả do thức. Như
căn nhà xoay thì thấy sanh, căn nhà ngưng xoay thì thấy diệt.
Căn nhà có xoay hồi nào, mà nói xoay và ngưng xoay! Pháp sanh
vốn không là không có sanh. Như căn nhà không có xoay, tất
cả đều do thức biến hiện có cảm giác sai lầm vậy).
Học
giả ngày nay, chẳng thể đem mạng căn một dao cắt đứt,
đi khắp tòng lâm, chỉ biết đem cái thông minh của mình dùng
để dẫn thể tình thức, ôm những huyền giải ghi nhớ trong
lòng, gặp duyên mống khởi, chẳng biết huyền giải này là
thuộc về “tình thức y không”, lại chấp cho là khai ngộ.
Hoặc
lầm nhận cái cảm giác linh động rõ ràng trước mắt này,
biện luận thao thao cho là tự kỷ. Giống như kinh Lăng Nghiêm
nói: “Bỏ trăm ngàn biển lớn, chỉ nhận một bọt cho là
nước cả biển”.
(Chúng
sanh cũng vậy, chỉ chấp cái thân này là thật; không biết
cái thân này là một bọt nước của biển. Bọt nước đó
sanh rồi diệt, sanh cũng từ nước biển mà sanh, diệt cũng
trở về nước biển. Chỉ là một bọt nước biển, nhưng
ai cũng chấp thân này là thật, cho bọt nước là cả nước
biển, ấy là sai lầm).
Kinh
Viên Giác nói: “Tất cả đều là tập khí vọng tưởng phan
duyên lục trần, chẳng phải tâm thể chân thật”. Hòa thượng
Trường Sa nói: “Những người học đạo chẳng biết chơn,
chỉ vì xưa nay nhận thức thần”.
(Tức
là người học đạo Phật, không biết chơn tâm của mình.
Chỉ vì trước đây nhận thức thần, thức thần người thế
gian cho là linh hồn. Linh hồn không phải Tự Tánh, Tự Tánh
không có biến đổi. Linh hồn luôn biến đổi, cũng như con
nít có linh hồn con nít, người lớn có linh hồn người lớn,
người già có linh hồn người già, tất cả đều biến đổi.
Nhưng
người học đạo Phật chưa được kiến tánh chỉ biết nhận
thức thần cho là của mình, là sai lầm. Cứ chấp chặt linh
hồn phải bị sanh tử luân hồi, mà người ngu si gọi nó
là bổn lai của mình).
Vĩnh
Gia nói: “Tổn pháp tài, diệt công đức, tất cả đều do
tâm ý thức”… (Pháp tài là gì? Pháp tài là cái dụng vô
lượng vô biên của Tự tánh. Tài sản của người thế gian
là tiền bạc, gia tài…. tài của Tự tánh là pháp tài. Pháp
tài gồm có hư không pháp giới, biến hiện gì cũng được,
khỏi cần qua tác ý của bộ óc mà dùng được. Công đức
của Tự tánh cũng vậy, là cái dụng của Tự tánh tự động,
chẳng phải công đức của người thế gian; cũng như nói
tụng kinh có công đức, đó là không phải.
Pháp
tài và công đức là cái dụng tự động của Tự tánh, không
bị hạn chế, dụng vô lượng vô biên. Nhưng mình bị tổn
bị diệt là do ý thức chấp thật che lấp, làm cho pháp tài
công đức của Tự tánh không hiện ra được. Nếu tham thiền
triệt ngộ thì năng lực của mình không kém hơn Phật, Tổ,
tức là bằng với tất cả chư Phật. Người không tin thì
không tham thiền nên không có ngộ).
Chư
Phật chư Tổ đã có chỉ bày rõ ràng, mà trong mạt pháp bệnh
này càng ngày càng nhiều thêm! (Theo Phật pháp có chia: Chánh
pháp có 1000 năm, tượng pháp có 1000 năm, mạt pháp có 10000
năm, hiện nay là thời kỳ mạt pháp, ở trong thời kỳ này,
bệnh chấp thật của chúng sanh càng nhiều, bị bệnh này
làm cho mình không có chí học đạo chân chính. Căn bản không
chánh thì quả phải co khúc. Nếu tham thiền giải thoát sanh
tử, phải có chí hướng cương quyết mới được, thì cái
khổ sanh tử không còn.
Giải
thoát cái khổ sanh tử không được lấy thức tình phân biệt
để giải thích. Chánh nghi chỉ cho tâm nghi, lấy tâm đi tìm
hiểu gọi là hồ nghi không được ngộ đạo. Quyết chỉ
ôm chặt câu thoại đầu, khởi lên nghi tình miên mật đến
lúc bùng vỡ. Chứ không đem tâm đi tìm hiểu. Tại sao không
được kiến tánh? Tại vì một niệm đầu tiên muốn hiểu
thiền, hiểu đạo, hiểu pháp, mới thành bệnh này.
Thức
này như núi thiết vi rộng lớn, bao vây họ từ vô thỉ, cũng
như thiên binh vạn mã ngày đêm ở trước cửa lục căn, rình
sơ hở của họ. Nếu không đủ chí quyết định liễu sanh
tử, thì đâu cũng vào đó.
(Nếu
tham thiền ngày đêm không gián đoạn, thì tình thức thiên
quân vạn mã không thể làm hại được; nhưng có giây phút
gián đoạn thì nó đi vào, sanh tử ở chỗ này sanh khởi.
Cho nên, mình phải có chí liễu thoát sanh tử, quyết tử thì
tự nhiên sẽ được kiến tánh, đi tới đâu đều được
hết).
Tổ
sư làm bài Tín Tâm Minh này, là mở rộng cửa thiền cho kẻ
hậu học thoát bỏ tình thức, chỉ tin tự tâm, cất bước
liền vào. Nếu tình thức của học giả còn mảy may chưa
sạch, đọc bài minh này trở thành thuốc độc. Sự lợi hại
như thế! (Lời của Tổ muốn mình ngộ, chứ không phải muốn
mình hiểu).
Nên
2 câu đầu nói: “Chí Đạo vô nan, duy hiềm giản trạch”.
Chỉ 2 câu này, đem tâm với thức phân giải rõ ràng. Vì sao?
Nói “Chí Đạo vô nan” tức là chỉ chân tâm; “Duy hiềm
giản trạch” tức là tình thức, kẻ tình thức chưa quên,
thấy người nói lời này, bèn nói: “Tôi chẳng lựa chọn”.
Đâu biết chỉ cái “chẳng lựa chọn” này đã theo
tình thức rồi, huống là kẻ chấp có, gặp cảnh sanh tình
ư! (“chẳng lựa chọn” thì đã lựa chọn rồi, đã lấy
tình thức giải thích thì lọt vào tứ cú, lựa chọn là cú
thứ nhất, không lựa chọn là cú thứ nhì,…).
Nên
ý bài Minh này từ đầu đến cuối, nói đi nói lại chẳng
rời Bản tâm, chẳng qua vì giúp người học biện rõ tâm
với thức mà thôi. Cho nên nói: “Phi tư lượng xứ, thức
tình nan trắc”. (“Phi tư lượng xứ, thức tình nan trắc”
và“ Chí Đạo vô nan, duy hiềm giản trạch” ý giống nhau.
Ý Tam Tổ muốn cho người học phân biệt được tâm và thức,
cho nên nói: “Phi tư lượng xứ, thức tình nan trắc”).
Tịch
nghĩa giải:
Theo
lời nói “duy hiềm giản trạch”, nay lại ở trong pháp một
tâm, chỉ ra tình và thức, ấy là lựa chọn hay chẳng lựa
chọn? Nhưng tình và thức với một tâm quả là khác hay đồng
ư! Người chân thật học đạo, ở đây nếu chẳng thể xác
định, mà muốn thấy ý chỉ Tín Tâm Minh của Tổ sư, chẳng
phải còn xa xôi ư!
(Vậy,
ở trong một tâm làm sao có chia lựa chọn hay chẳng lựa chọn,
chia ra khác nhau hay không khác nhau, mà muốn phân biệt tâm
với thức thì đã sai lầm rồi, tức là có khác nhau là hai.
Tự tánh không có khác biệt, không có hai. Vậy nói lý cao
siêu cũng vô dụng, không phải là Tự tánh. Tự tánh là do
tự mình tham, tự ngộ).
Kệ
kết thúc:
Chỗ
lìa suy nghĩ rất khó lường,
Môn
đồ học Phật đều nên rõ.
Ngay
đó chẳng thiếu vật gì?
Thông
minh lanh lợi lại bị lừa.
(Chỗ
suy nghĩ không thể đến, thì ý thức không thể đoán ra được.
2 câu này, người học Phật pháp thâm sâu đều phải biết.
Vậy đến chỗ này chẳng biết cái gì? Nếu theo lời của
Phật, Tổ sanh ra tình giải, giải thích đạo lý cao siêu,
cũng như mình mở mắt thấy rõ ràng, mà bị người ta gạt
không hay; nói thiếu là như vậy đó! Cho nên, phải ôm chặt
câu thoại đầu, khởi nghi tình miên mật, cho đến kiến tánh
thì không còn thiếu và không bị gạt).
60.
CHÂN NHƯ PHÁP GIỚI, VÔ THA VÔ TỰ
Dịch
Chân
như pháp giới, chẳng người chẳng mình.
Lời
nghĩa giải:
Sư
Khoáng không lỗ tai (Sư Khoáng là nhà âm nhạc rất hay, có
thần hóa không do nhĩ thức phân biệt, rất hay không có ai
bằng được), chí thần (Tự tánh) không bản thể (nếu có
thể thì có hạn chế, không đến cực điểm được của
cái dụng Tự tánh), nguồn linh vô đáy (cũng là cái dụng
của Tự tánh, không có bản thể, cái dụng vô lượng vô
biên. “Không lỗ tai, không bản thể, không có đáy” thí
dụ cho Tự tánh).
Đạt
Ma truyền tủy đâu thể được! Xưa kia ở chung chẳng biết
tên, hôm nay gặp nhau chẳng phải ngươi (đã không có bản
thể thì lấy cái gì để truyền? Như Tổ Đạt Ma nói “ông
được cái tủy của ta”. Tự tánh của mình từ xưa tới
giờ, chưa rời khỏi thân mình một chút, mình đi đâu nó
theo đó, mà mình không biết nó là ai? Không biết tên gì?
Miễn cưỡng đặt cho nó là Phật tánh, Như lai, Thật tướng,
Pháp thân… đều là giả danh. Cho nên, ở đây nói ở chung
chẳng biết tên? Không biết nó là ai? Mà ngày nay nói là mày,
nếu có mày thì có ta. Tự tánh làm sao có ta và có mày?).
Bóng
trăng đẹp mà xuống nước chẳng chìm, gió lạnh lẽo mà
sáu cửa tự mở (như mặt trăng ở trên trời rọi xuống
sông, ao, hồ… thấy mặt trăng ở trong nước, chứ không
phải mặt trăng chìm ở dưới nước. Sáu cửa mở là hình
dung cho lục căn, cái dùng tự nó mở, không phải do sự tác
ý, tác ý là do vọng tâm, không phải dụng của chân tâm,
dụng của chân tâm tự động không qua tác ý).
Chẳng
phải tâm, chẳng phải Phật, dây dưa mục quấn kiếp không;
gió chẳng động, phướn chẳng động”, Huệ Năng đắc chí
nơi phòng giã gạo (nói là tâm chẳng phải tâm, nói là Phật
chẳng phải Phật. Chư Phật dùng phương tiện, phương tiện
cũng là dây trói buộc; nói trước kia chưa có trời đất
làm sao chứng tỏ được?
Như
Lục Tổ nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn
động, mà tâm của các ông động”. Nếu chấp thật “Tâm
của ông động” là sai lầm. Ở đây nói chẳng phải tâm,
làm sao chấp tâm là thật? Nếu chấp tâm là thật thì cũng
là bệnh chấp thật. Lời của Tổ là phương tiện lúc đó
thôi. Mục đích phá tâm chấp thật của mình, như phá tâm
chấp gió động, phướn động, nên Lục Tổ dùng tâm phá
chấp của 2 người. Lời lục Tổ nói như cái xác xương khô,
nên không được chấp thật).
Linh
chiếu rõ ràng ta chẳng biết,
Mây
trăng khe núi tự quen nhau.
(Tự
tánh của mình chiếu rõ ràng, nhưng mà ta không biết. Mây
ở trên trời, mặt trăng ở trên trời, dưới đất có sông
có núi; mây không biết trăng, trăng cũng không biết mây; sông
cũng không biết núi, núi cũng không biết sông. Mây tự biết
mây, trăng tự biết trăng, sông núi cũng vậy, tuy không biết
nhau, nhưng nó tự biết.
C
òn
mình tự biết được không? Không được. Mình không biết
mình là cái gì? Bây giờ có mắt thấy tai nghe, đều thấy
nghe ở ngoài. Tự mình là cái gì mà mình không biết! Không
biết mình là cái gì thì sao làm chủ mình được? Không làm
chủ thì không được tự do tự tại.
Cho
nên, chư Phật chư Tổ dạy cách tham thiền, muốn mình ôm
chặt câu thoại đầu cho đến khi ngộ. Lúc ngộ mới biết
mình là cái gì, gọi là thành Phật, được tự do tự tại,
giải thoát tất cả khổ. Dù mình thấy ở ngoài rõ ràng,
nhưng không có liên quan đến tâm mình).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Chân như pháp giới, chẳng người chẳng mình”.
Người nghĩa giải cho rằng: Chơn như pháp giới là tổng danh
của một tâm. Ngoài tâm chẳng pháp thì đâu có tên gọi tự
tha? Không những tự tha chẳng lập, cho đến núi sông, đất
đai, hữu tình, vô tình đều chẳng thể đắc lại thành có.
Dù
nói chẳng thể đắc mà có, cũng chẳng ngại an lập tự tha.
Vì sao? Chân như pháp giới dụ cho vàng, vật tượng tự tha
dụ cho bông tai, cà rá, dây chuyền… phải biết vàng là thật
thể, các đồ trang sức là quyền danh (tên gọi tạm). Thật
chiều theo quyền thì vật tượng tự tha chẳng ngại an lập,
dung quyền về thật thì chỉ thấy chí thể của nhất chân
pháp giới.
Vậy,
giả danh các thứ trang sức chẳng cần trừ mà tự mất rồi.
Kẻ mê muội chẳng thông đạt ý chỉ viên dung của Tổ sư,
cho là đoạn diệt, đọa nơi rỗng không, lập cái thuyết
“vô tha vô tự”, ở đây cần phải biện bạch cho rõ.
Giải
như ở trên cho là đúng, nhưng ngài Trung Phong không chấp nhận,
nên mới phủ định.
Tịch
nghĩa giải:
Biện
thì cứ biện, như trong chân như pháp giới còn dung nạp được
lời biện bạch này chăng?
(Nếu
còn dung nạp cái biện bạch này thì không phải là Tự tánh,
không phải chân như pháp giới. Cho nên, dù giải nghĩa lý
cao siêu, nhưng chưa được, không phải chơn như pháp giới
(Tự tánh). Vì Tự tánh không phải do lời giải nghĩa được,
phải do mình tham thiền tự ngộ).
Kệ
kết thúc:
Trong
chẳng tự kỷ, ngoài chẳng tha,
Cả
gan nuốt trọn trái bí kia.
Thẳng
tay tặng người chẳng nhận,
Rải
cát quăng bùn vẫn y xưa.
(Ở
trong chẳng có tự kỷ, ở ngoài chẳng có người khác, cũng
như nguyên trái bí vậy, chứ ở ngoài không có cái khác. Như
đoạn thứ 2 nói rất có lý; nhưng nói như vậy, người ta
không hiểu được. Tự tánh là gì? Chân như pháp giới là
gì?
Đừng
có nói Tự tánh vô hình vô tướng, nói không được, diễn
tả không được; còn chén cơm có hình có tướng, ăn thì
no. Nếu chỉ lấy lời nói diễn tả trong cơm có bao nhiêu
chất bổ… đều diễn tả hết, nhưng cũng không no, chỉ
là cái lý chứ không phải thật ăn cơm; thật ăn cơm khỏi
cần giải thích chất bổ trong cơm, chỉ cần ăn cơm thì được
no.
Chén
cơm có hình có tướng không thể lấy lời nói để thay thế,
huống chi Tự tánh không có hình tướng, mà muốn người ta
lấy lời nói để hiểu làm sao được? Muốn hiểu được
chỉ có cách tham thiền, đề câu thoại đầu khởi lên nghi
tình, tham đến chừng nào nghi tình bùng vỡ, thì Tự tánh
hiện ra rõ ràng, giải quyết được khổ sanh tử luân hồi).
61.
YẾU CẤP TƯƠNG ƯNG, DUY NGÔN BẤT NHỊ
Dịch
Muốn
gấp tương ưng, chỉ nói bất nhị.
Lời
khai thị:
Tự
tánh dụ cho biển lớn, tâm dụ cho đất lớn; tất cả không
ở ngoài tâm, không ở ngoài Tự tánh. Cũng như biển lớn
không thấy bờ; như trời không thấy biên giới của trời.
Dung nạp tất cả không gian, tức là 10 phương (đông nam, tây
nam, đông bắc, tây bắc, đông, nam, tây, bắc, trên, dưới).
Mười
phương thế giới làm sao biết hết? Biên giới thông suốt
tam thế (tam thế là quá khứ, hiện tại, vị lai). Tự tánh
(Tâm địa) bao gồm không gian thời gian, không có cái nào ở
ngoài không gian thời gian, thì tất cả vũ trụ vạn vật,
không có cái nào ở ngoài tâm.
Trước
nói “bất lạc”, sau nói “bất muội”, hồ ly đâu phải
2 con. Đây công án của Tổ Bá Trượng. Thiền sư Bá Trượng
mỗi ngày lên hội thuyết pháp. Có một ông già nghe pháp;
mỗi bữa thuyết pháp xong mọi người đi về, ông già cũng
đi về. Có một bữa người ta đã về hết, nhưng ông già
không về.
Bá
Trượng hỏi ông: Ông có chuyện gì?
Ông
già nói: Tôi không phải người là con hồ ly tinh (con chồn).
Trước Phật Ca Diếp, tôi cũng ở núi này, làm trụ trì hoằng
pháp.
Có
vị Tăng hỏi tôi: Người đại tu hành có lọt vào nhân quả
hay không?
Tôi
trả lời: Không lọt vào nhân quả.
Cho
nên bị đọa làm chồn 500 đời, đến bây giờ là đời thứ
500. Vậy xin Ngài thuyết pháp cho tôi được thoát khỏi thân
chồn này.
Bá
Trượng nói: Cứ hỏi đi.
Ông
già hỏi: Người đại tu hành có lọt vào nhân quả hay không?
Bá
Trượng nói: Nhân quả rõ ràng.
Ông
già nói: Tôi đã ngộ và thoát được thân chồn. Xin Ngài
đem tôi chôn như một Tăng sĩ.
Bá
Trượng chấp nhận và nói với đại chúng: Sau khi ăn cơm
xong, xin đại chúng đưa đám tang của một vị Tăng. Các người
ở trong chùa nghe ngạc nhiên. Bá Trượng không nói gì, ăn
cơm xong, Bá Trượng đi trước và các vị trong chùa đi sau,
phía sau chùa có một cái hang, có một con chồn chết, theo
lễ tang của Tăng sĩ mà chôn.
Vậy
trả lời một chữ mà bị đọa 500 đời con chồn. Nói đến
thuyết pháp không phải dễ đâu! Nếu Tôi (Duy Lực) nói sai
cũng có tội. Phật pháp không phải để nói chơi!
Hôm
qua nói “định”, hôm nay nói chẳng định”. Đây
công án của Phật Thích Ca. Có một ngoại đạo hỏi Phật:
Hôm qua Phật thuyết pháp gì?
Phật
trả lời: Thuyết pháp định.
Ngoại
đạo hỏi: Hôm nay thuyết pháp gì?
Phật
trả lời: Thuyết pháp bất định.
Ngoại
đạo hỏi: Tại sao hôm qua định, hôm nay bất định?
Phật
trả lời: Phải, hôm qua thì định, hôm nay bất định.
Tại
sao người ngoại đạo hỏi, mà Phật trả lời như thế? Phật
nói trong kinh Kim Cang “không có pháp định mà Như Lai thuyết,
vậy Phật pháp là pháp bất định”.
Phật
trả lời cho ngoại đạo như thế! Vậy ý của Phật ở chỗ
nào, sao lại có mâu thuẫn? Nhưng hiểu thì không có mâu thuẫn,
mà lại thiệt bất định. Nếu hôm qua bất định, hôm nay
cũng bất định thì vĩnh viễn bất định, thì pháp đã định
rồi, không gọi là bất định pháp.
Hôm
qua định, hôm nay bất định, tức là muốn định là định,
bất định là bất định, mới chân thật là bất định.
Nếu vĩnh viễn bất định là định rồi; định cũng được,
bất định cũng được, mới là bất định.
Người
ta hỏi: Thế nào là Phật?
Động
Sơn trả lời: Cục cứt khô.
Vậy
cục cứt khô là Phật sao? Tổ sư kiến tánh triệt để! Đây
là công án của Động Sơn.
Trong
kinh Duy Ma Cật, Phật sai các đệ tử đi thăm Duy Ma Cật bệnh
ở trong thành Tỳ Da Ly, ai cũng từ chối. Cuối cùng, Phật
sai Văn Thù đi và đại chúng cùng theo sau.
Duy
Ma Cật hỏi: Thế nào là nhập pháp môn bất nhị của Bồ
tát?
Mỗi
vị đều trình sở ngộ của mình, rồi đến ngài Văn Thù
đáp: Theo ý tôi, nơi tất cả pháp vô ngôn vô thuyết, vô
thị vô thức, lìa nơi vấn đáp, ấy là nhập pháp môn bất
nhị.
Ngài
Văn Thù hỏi rằng: Chúng tôi mỗi mỗi đã tự nói xong, nay
đến lượt nhơn giả nói: Thế nào là nhập pháp môn bất
nhị của Bồ tát?
Duy
Ma Cật im lặng, Văn Thù tán thán rằng: Lành thay, lành thay!
Cho đến chẳng có văn tự, lời nói mới là chân nhập pháp
môn bất nhị.
Tất
cả A la hán và Bồ tát đều biện tài không bằng Duy Ma Cật.
Biện tài của Duy Ma Cật như cái dùi nhọn. Văn Thù xưa kia
làm thầy 7 Phật, biện tài như kiếm bén. Chỉ có Văn Thù
và Duy Ma Cật mới tương ưng với nhau.
Nhưng
công án trên rất hay, đối với Thiền tông coi là những phương
tiện bó buộc, không có ích cho sự giải thoát. Tại sao? Mặc
dù nói có chí lý, nhưng Tổ Sư thiền quét hết chí lý. Chí
lý đó làm sao có bia đá để ghi? Cũng như cái mộ có cái
bia để ghi ngày sanh ngày chết. Chùa cũng có tấm bia để
ghi lại người sáng lập, gọi là bia ký.
Tự
tánh là chí lý đâu cần có bia để ghi! Chỉ cần tham thiền
phát hiện Tự tánh gọi là kiến tánh thành Phật. Lời của
Phật, Tổ, những công án tuy rất hay; nếu chấp thật chỉ
là dây trói buộc, đối với mình vô ích. Cho nên Thiền tông
có hai câu:
Tiếng
sóng ngàn sông chìm biển rộng,
Muôn
núi hùng vĩ kém đỉnh cao.
Tán
thán Thiền tông không có pháp môn nào bằng. Nên ngài Lai Quả
nói: “Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai đều
từ cửa Thiền tông này thành Phật; không có vị Phật nào
không do tham thiền mà thành Phật” bây giờ chúng ta gặp
được pháp môn tham thiền rồi, cứ ôm chặt câu thoại đầu
quyết tử tham đến kiến tánh thì tự do tự tại.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: "Muốn gấp tương ưng, chỉ nói bất nhị". Người
nghĩa giải cho rằng: Tổ sư phí sức phân biệt, trước nói
“chỉ chê lựa chọn”, kế nói “một cũng đừng giữ”,
“muôn pháp cùng quán”, “muôn pháp nhất như”… đều
là lý của hai chữ “chỉ nói”. Nhưng chư Phật và chúng
sanh, bản thể bất nhị, nói “thành Phật” đã là lời
thừa.
Bởi
vì, Phật và chúng sanh không khác, vậy ai thành Phật? Trong
kinh Viên Giác nói: “Tất cả chúng sanh đều chứng Viên Giác”.
Kỳ thật, bản thể của mình không phải là Phật, không phải
là chúng sanh. Vì phân biệt mới có Phật và chúng sanh.
Vậy
nói: “Muốn gấp tương ưng”, dường như thành hai đoạn.
Nếu quả thật có cái lý tương ưng và bất tương ưng thì
rõ ràng là hai rồi. Vì tương ưng là cú thứ nhất, bất tương
ưng là cú thứ nhì, là tương đối. Nói “duy ngôn bất nhị”
thì làm cho người ta không nghi cũng không được!
Như
trên rất có lý, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Chỉ
e cái nghi này chẳng chân thật, chẳng vững chắc, thì cái
nghi này sẽ có ngày tự bùng nổ. Nghi này nếu vỡ, thì nhị
và bất nhị của tương ưng hay bất tương ưng đã thấu rõ
trước cơ xảo, lãnh hội ngoài ngôn ngữ, mới biết ơn lớn
của Tổ sư khó đáp đền.
Xưa
Duy Ma Cật bảo chúng Bồ tát nói pháp môn bất nhị, mỗi
mỗi nói xong, lại bị chúng Bồ tát hỏi ngược lại thì
im lặng chẳng đáp. Lúc ấy Văn Thù tán thán rằng: “Chân
nhập pháp môn bất nhị”. Vậy lời tán thán của Văn Thù
sanh khởi từ chỗ nào? Nếu cho im lặng là pháp môn bất nhị,
thì ngữ ngôn cũng có thể gọi là pháp môn bất nhị, cho
đến đùa giỡn đều gọi là bất nhị, thì tại sao chỉ
khen một mình Duy Ma Cật?
Ở
đây cần phải thấu rõ ý chỉ mũi kim đụng nhau đúng khớp
của hai vị đại sĩ Văn Thù và Duy Ma Cật, thì lời nói tương
ưng hay chẳng tương ưng trong một tiếng cười đã tẩy sạch
rồi.
Nếu
không đích thân thấy tông chỉ đó, nói có lý gì đều là
hư vọng, đối với việc sanh tử không có liên quan gì. Muốn
đích thân thấy tông chỉ của Văn Thù và Duy Ma Cật, chỉ
có tham thiền đến kiến tánh mới thấy, ngoài ra không thể
thấy được.
Kệ
kết thúc:
Cửa
thiền Tổ sư tuyệt chi ly,
Đá
lửa, điện chớp vẫn chậm trì.
Muốn
gấp tương ưng nói bất nhị,
Bà
lão nhai cơm, mớm tiểu nhi.
(Tổ
Sư thiền này quét sạch tất cả, cũng như Bát Nhã Tâm Kinh
quét sạch từ phàm phu, Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa
cho đến Phật thừa. Điện chớp của đá lửa rất nhanh,
nhưng ở đây vẫn chậm trễ. Câu: “Muốn gấp tuơng ưng
chỉ nói bất nhị”, giống như bà lão không có răng nhai
cơm mà mớm con nít, thì chuyện này làm sao có! Cũng như tất
cả lời nói của Phật, Tổ, dù giải nghĩa ra có lý cao siêu,
đối với Thiền môn đều vô dụng. Thiền môn muốn mình
kiến tánh thành Phật, thì phải đề câu thoại đầu, phát
khởi nghi tình, ngày đêm miên mật, sẽ kiến tánh thành Phật).
62.
BẤT NHỊ GIAI ĐỒNG, VÔ BẤT BAO DUNG
Dịch
Bất
nhị chẳng phải đồng, nhị mới có bao gồm.
Lời
khai thị:
Tổ
Tổ tâm không, Phật Phật đạo đồng. Chư Tổ Thiền tông
đều do tham thiền kiến tánh. Nghi tình là cái chổi tự động
quét tất cả cho trống rỗng, gọi là kiến tánh thành Phật.
Thiền tông là “tâm không cập đệ” tức là “ tâm không
thi đậu”.
Chư
Phật cũng do tham thiền mà thành Phật. Cho nên, ngài Lai Quả
nói: “Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai đều
từ cửa Thiền tông mà thành Phật”. Tâm không cũng như các
ngôi sao cùng hướng về ngôi sao bắc đẩu. Đạo đồng cũng
như muôn dòng nước chảy về biển đông.
Hưng
Hóa là Tổ thứ 2 tông Lâm Tế. Một hôm có người mời Tổ
đi dự cúng dường ở trong làng, gặp mưa gió lớn, phải
ẩn tránh trong miếu. Đây là công án của Tổ Hưng Hóa.
“Đạo
ta nhất quán” là công án của Khổng Tử. Học trò của Khổng
Tử là Trang tử, hỏi đạo với Khổng Tử. Khổng tử nói:
“Đạo ta là nhất quán”. Trang Tử nghe ngộ liền, nói: “Dạ,
phải”.
Học
trò Trang Tử hỏi Trang Tử: Thế nào Khổng Tử nói Đạo ta
nhất quán?
Trang
Tử biết người ấy chưa ngộ, mới nói cửa thứ hai, rằng:
Đạo của Khổng Tử chỉ có trung với thứ mà thôi.
Nói
trung với thứ thì đã lọt vào hai, ba. Còn một phải tự
ngộ, chứ nói không được. Đạo của Khổng Tử còn như
vậy, huống chi Thiền môn muốn lấy lời nói làm sao được?
Chỉ cần mình ngộ, nếu nói là không phải rồi. Đạo của
Khổng Tử chỉ có Trang Tử ngộ, về sau không có ai ngộ nữa.
Cây
phản của Đức Sơn có tiếng, Tuyết Phong đến hỏi đạo
thì bị cây phản của Đức Sơn đánh liền ngộ đạo. Đức
Sơn đêm nay không trả lời. Đây là công án của Đức Sơn
(đã kể ở trên).
Sau
đây là hình dung thủ đoạn của Tổ sư rất mãnh liệt. Bắt
con cọp rất hung dữ. Muốn phân biệt con rồng hay con rắn.
Như người chân thật tham thiền là con rồng, người tu lôi
thôi là con rắn. Con mắt của Hải Thần chẳng phí chút sức
đã biết hạng người nào là rồng hay rắn.
Sức
lực của Tổ làm nổ sấm sét, phủ mây mù, làm tiêu mất
bao nhiêu gió của Long Vương. Tổ dùng mũi kim gọt sắt đè
chìm đại địa, vắt sợi chỉ mành ra nước, làm ngập khắp
cả hư không.
Còn
nói lý do thì không có cán nắm, tức là không có lý để
nói. Ở trên nói con sông không đáy, chỗ này nói con sông
không đò để đưa. Như Tịnh Độ thì có đò để mình
qua sông, còn Thiền thì không đò để cho mình qua, phải tự
mình qua.
Như
vách sắt không cửa nẻo, nhưng mình phải tự qua. Tự tánh
của mình lúc nào cũng theo mình ngồi, nằm, ngủ,… nhưng
mình không biết Tự tánh; chỉ có tham thiền đến kiến tánh
mới biết, muốn nhờ sức lực của ai cũng không được.
Cho nên, không có ghe để chở, chỉ có tự mình đi. Tuy vách
sắt không có cửa, nếu sức mạnh của mình tham đến mức
đó thì sẽ qua được.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: "Bất nhị chẳng phải đồng, nhị mới có bao gồm".
Hạng người hiểu theo văn tự cho rằng kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ
một sự thật này, ngoài ra đều chẳng chân”, còn nói: “Tất
cả chư Phật chỉ một Phật thừa, chẳng hai, chẳng ba”.
Nói
một là Diệu tâm sáng tròn, thể lìa tu chứng, dọc gồm tam
thế, ngang thấu mười phương; sắc không, sáng tối, lấy
đó làm nguồn; thánh phàm, mê ngộ lấy đó làm gốc. Cho đến
cùng khắp pháp giới, nếu thấy có mảy may chẳng do đó sanh
khởi, đều là sở chấp của ngoại đạo.
Cho
nên nói: “Sum la và vạn tượng do một pháp ấn định”
và lời “bất nhị giai đồng, vô bất bao dung” chẳng thể
ở ngoài nghĩa này. Như trên rất có lý, nhưng ngài Trung Phong
còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Nói
như thế, tất cả ngôn giáo đã ghi đầy đủ, đâu cần Tổ
sư từ Tây Trúc sang! Phải biết, ngôn giáo như bức tranh họa
của Triệu Sương, cao thấp xa gần, búp nở đậm nhạt, xem
rất đẹp mắt, nhưng chẳng phải hoa thật vậy.
Nếu
chưa thể nơi gót chân một dao cắt đứt cuộn chỉ rối,
thì đối với tông chỉ “bất nhị giai đồng” đâu thể
chỉ miệng nói tai nghe mà đắc được ư!
Bây
giờ nghe tôi (Duy Lực) giảng là tăng cường niềm tin để
tham thiền, chứ không có giáo lý cao siêu có ích cho mình.
Cũng như bánh xe xẹp không chạy được cần phải bơm, như
mỗi tuần lễ giảng để khích lệ tu giải thoát, chứ không
nhờ giáo lý cao siêu để giải thoát.
Kệ
kết thúc:
Vàng
ròng đúc thành trứng gà trống,
Đập
nát y xưa vẫn còn nguyên.
Chẳng
biết có gì bao trong đó,
Suốt
đêm khuya sáng gọi càn khôn.
(Gà
mái mới đẻ trứng, nhưng ở đây trứng gà trống lấy vàng
đúc thành. Vậy làm sao đập bể nó? Đập bể thì không được,
nó vẫn như cũ, chẳng biết trong đó bao cái gì? Nhưng ánh
sáng chiếu khắp trời đất; cái này hình dung, Tự tánh mình
thấy không được.
Nhưng
cái dụng Tự tánh khắp mười phương vũ trụ. Ý của ngài
Trung Phong muốn mình đừng theo đuổi lời của Tổ; cũng như
chấp lời thì nghịch ý, dù giải lý cao siêu hơn Phật đối
với việc sanh tử chẳng có liên quan gì.
Cho
nên Phật thuyết pháp 49 năm, tự nói chẳng có nói một chữ.
Tự tánh không có thể dùng lời nói để diễn tả, chỉ y
theo thực hành của Phật dạy hay Tổ dạy, thì sẽ phát huy
cái dụng khắp mười phương, nếu mình được ngộ).
