45.
MỘNG HUYỄN KHÔNG HOA, HÀ LAO BẢ TRÓC
Dịch
Việc
mộng huyễn như hoa đốm trên không, đâu cần nắm bắt cho
mệt nhọc!
Lời
khai thị:
Mai
rùa đen (vô minh), người ta dùng mai rùa để bói. Ở đây
dùng ý thức để suy tìm, có tìm ra được cũng như trống
rỗng. Không phải như trái cân thật cứng chắc. Nếu dùng
ý thức để đi tìm, học hỏi có kiến giải cao siêu cho là
chân lý cũng vô dụng.
Chỉ
có Mộc thượng tọa tức là cây tích trượng của Tu sĩ,
chẳng có cảm tình phân biệt. Không có phân biệt thì không
bị xuyên tạc của người khác. Xuyên tạc là lấy tâm đi
tìm giải thích. Người kiến tánh thì tự do tự tại, làm
gì cũng được.
Người
thường hay ham giàu có để hưởng thụ, muốn sống lâu. Nếu
ở trong rừng lấy gì để hưởng thụ? Tuy có nhiều tiền
đi đến Dương Châu, Thượng Hải… để hưởng thụ đầy
đủ. Nhưng tạm thời không có cứu cánh. Tự tánh của mình
có tất cả đầy đủ, hưởng không hết. Còn người đời
giàu sang phú quí hưởng bao nhiêu, rồi cũng có giới hạn.
“Sáng
cưỡi trâu Thiểm Phủ, chiều cưỡi hạt Dương Châu”. Có
ý người đời dù có hưởng thụ bao nhiêu, thì người kiến
tánh đều có hết. Người kiến tánh được tự do tự tại,
mà người đời không bằng được. Vì người đời giàu sang
bao nhiêu, có thế lực bao nhiêu đều bị hạn chế. Như có
thế lực bằng vua, có tiền nhiều hơn cả nước, thì cũng
không được tự do tự tại, vì không muốn già nó cũng già,
không muốn bệnh nhưng cũng phải bệnh, không muốn chết rồi
cũng phải chết. Tự mình làm chủ cho mình không được. Nếu
làm chủ không được, làm sao được tự do tự tại!
Người
kiến tánh biết mình là cái gì, thì làm chủ được mình,
nên được tự do tự tại, không còn các khổ, ở trong
tâm sẵn sàng có đầy đủ tất cả, muốn đi đâu đều được.
Người kiến tánh là đã về quê nhà, còn gọi là đã đập
bể hư không; tức là hưởng thụ công đức của mình, chứ
không cần người khác. Nếu còn cần người khác thì còn
có ỷ lại, nên không được tự do tự tại.
Nếu
chưa kiến tánh tức là chưa về quê hương, như mây bay trên
trời, ngôi sao lặng đối với mình đâu có liên quan. Cho nên,
ngài Trung Phong muốn mình kiến tánh, làm cái gì cũng được.
Nếu chưa kiến tánh dù có kiến giải cao siêu cũng là vô
dụng.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Việc mộng huyễn như hoa đốm trên không, đâu
cần nắm bắt cho mệt nhọc”! Người nghĩa giải dẫn trong
kinh nói: “Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng,
sương, lộ, điện chớp, nên tác quán như thế”. Sáu thứ
này ở trong kinh Kim Cang không có tự thể, không có thật,
chỉ tạm thời hiện ra, nếu chấp thật là sai lầm.
Lại
dẫn chứng ngài Vĩnh Gia nói: “Buông tứ đại, chớ nắm
bắt, trong tánh tịch diệt cứ ăn uống, các hạnh vô thường
tất cả không, tức là Như Lai đại viên giác”. Tứ đại
gồm địa, thủy, hỏa, phong là bốn thứ hợp thành thân thể
của mình, cũng không phải thật, cho nên phải buông bỏ.
Tự
tánh của mình thì tịch diệt; tịch diệt này không phải
là đoạn diệt. Đây hình dung không có bản thể, nhưng cái
dụng thì tự động, như đói ăn, mệt ngủ. Lúc ăn cơm không
thấy mình ăn, lúc ngủ không thấy mình ngủ, gọi là tánh
tịch diệt, chứ không phải không có gì! Chỉ vì các pháp
là vô thường.
Chữ
“hành” là biến đổi, như thân thể này do tứ đại hợp
thành tức là từ nhỏ biến thành lớn rồi lớn biến thành
già cho đến biến thành đất; nó mỗi phút mỗi giây đều
biến mãi, không có giây phút nào không biến đổi. Mặc dù
mình ngủ nó vẫn biến đổi, thì tất cả đều như thế!
Nói
đến không là hiện ra cái dụng, chứ không phải không có
gì cả. Cái dụng đó là Như Lai Đại Viên Giác. Đại Viên
Giác là hình dung cái dụng tự động của Tự tánh. Viên là
tròn, thêm không được, bớt cũng không được. Nếu thêm
được là dư, bớt được là thiếu, không phải là viên giác.
Giác
là gì? Là biệt danh của Tự tánh. Như Lai cũng là biệt danh
của Tự tánh. Nếu tất cả không có chấp Phật, tức là
quét sạch trống rỗng, thì tự nhiên hiện ra cái dụng của
Tự tánh. Nhưng những người chưa kiến tánh, không hiểu ý
Phật, không hiểu ý Tổ, lấy hai lời này ở trong kinh Kim
Cang của Phật, lời của Tổ ở trong Chứng Đạo Ca, để
dẫn chứng rằng: “Tất cả đều không có”, làm ác, phá
giới đều không sợ, chấp vào cái không, thì lọt vào cú
thứ nhì, đã làm tội địa ngục mà tự mình không hay biết.
Tịch
nghĩa giải:
Nhưng
lời nói trên chưa được, ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Nhưng
chẳng biết ngay lúc buông lung tình ý, làm bậy. Quả thật
thấy cảnh sở duyên như mộng huyễn không hoa hay không? Nếu
thấy là không hoa, thì chẳng nên đeo đuổi để hưởng thụ.
Nếu trong tâm mình còn chút tìm kiếm để hưởng thụ, cũng
không gọi là mộng huyễn không hoa. Phải biết, muốn làm
Phật làm Tổ cũng là mộng huyễn không hoa; làm Phật, làm
Tổ còn mộng huyễn không hoa, huống là những việc khác thấp
hơn ư!
Ngay
cái thuyết “đâu cần nắm bắt cho mệt nhọc”! Đã rơi
vào mộng huyễn rồi. Vậy việc này phải làm sao mới được?
Nếu chẳng đích thân chứng ngộ, mà theo lời Phật lời Tổ
để giải thích thì chẳng phải ngu si là gì! Cho nên, lời
nói cao siêu là vô dụng, lý giải cao siêu cũng là vô dụng,
nên phải thân chứng mới được.
Kệ
kết thúc:
Thích
Ca nửa đêm thấy ngôi sao,
Cùng
hiện bóng nghiệp trước gương đài.
Làm
thành
một thứ mộng điên đảo,
Chẳng
biết ai là đắc tiện nghi.
(Hai
câu trên nói sự tích Phật Thích Ca. Phật Thích Ca ở núi
Tuyết Sơn tu hết sáu năm, ngồi dưới gốc cây bồ đề 49
ngày, đến nửa đêm thấy sao mai mà ngộ đạo; sau khi ngộ
đạo, biết mình là cái gì rồi.
Nếu
không biết cái gì thì tùy nghiệp xoay chuyển; trước gương
nghiệp đã biết mình là cái gì tức là đã thành Phật, làm
chủ được chính mình, được tự do tự tại, vĩnh viễn
giải thoát tất cả khổ. Nếu bị thời gian, số lượng hạn
chế thì không gọi là tự do tự tại. Khi đã thành Phật
mới biết trước kia tất cả đều là mộng tưởng điên
đảo.
Không
những ban đêm nhắm mắt chiêm bao, mà ban ngày cũng là mở
mắt chiêm bao, đều là điên đảo mộng tưởng. Nhắm mắt
chiêm bao có lúc phải tỉnh giấc, còn mở mắt chiêm bao không
biết bao giờ thức tỉnh! Đến chừng nào kiến tánh rồi,
thì mở mắt chiêm bao được thức tỉnh.
Vì
do bệnh chấp thật nên có chiêm bao, làm cho mình không biết
là cái gì, nên không làm chủ được mình. Đã không biết
mình là cái gì, mà còn ai biết tiện nghi! Nói được tiện
nghi là do lòng tham của mình mới có tiện nghi. Sau khi chết
chôn thành đất thiêu thành tro, vậy ai được tiện nghi? Vì
mình chấp thật là do ba độc của tham, sân, si.
Cho
nên, ý Tổ muốn mình biết mình là cái gì, thì phải tham
thiền; nghi tình thành khối sẽ có ngày biết mình là cái
gì, mới làm chủ cho mình. Lúc đó biết ai đã được tiện
nghi).
46.
ĐẮC THẤT THỊ PHI, NHẤT THỜI PHÓNG KHƯỚC
Dịch
Đắc,
thất, thị, phi, đồng thời buông bỏ.
Lời
khai thị:
Đạo
tràng của Ngưỡng Sơn có 1500 người tham thiền. Tuyết Phong
giữ nhiệm vụ vo gạo nấu cơm.
Một
hôm Tuyết Phong đang vo gạo, Quy Sơn gặp hỏi Tuyết Phong:
Vo
gạo bỏ đất cát hay bỏ gạo?
Tuyết
Phong đáp: Gạo và đất cát đều bỏ.
Quy
Sơn nói: Vậy, đại chúng ăn cái gì?
Tuyết
Phong lật úp thúng gạo.
Quy
Sơn nói: Căn cơ của ông đến Đức Sơn mới thích hợp.
Tuyết
Phong gặp Đức Sơn hỏi: Sự kiến tánh thành Phật, người
học Phật là tôi có phần hay không?
Câu
nói vừa dứt, thì cây phản của Đức Sơn liền đập trên
đầu của Tuyết Phong, ngay đó Tuyết Phong ngộ đạo, phá
được sơ quan. Cây phản của Đức Sơn có tiếng bên Tổ
Sư thiền gọi là Đức Sơn phản.
Có
người đến hỏi đạo, thì Tuyết Phong dùng trái cầu bằng
gỗ, có cột sợi dây rồi quăng ra; đây là thủ đoạn của
Tuyết Phong.
Phổ
Hóa giúp cho Lâm Tế để hoằng dương Tổ Sư thiền. Đến
khi Ngài gần nhập tịch, Phổ Hóa nói: Tôi cần một chiếc
áo. Mọi người đem áo lại cho, Sư nói không phải. Chỉ có
Lâm Tế làm cho một cái hòm, rồi Phổ Hóa nhận và vác cái
hòm ra thành Trấn Châu có bốn cửa: Đông, nam, tây, bắc.
Ngày
đầu tự mình vác hòm đến cửa đông và nói với mọi người
đi theo coi rằng: Đến cửa đông, tôi tự mình vào cái hòm
nhập diệt. Khi đến nơi, Tổ nói: Hôm nay chưa được, đợi
đến ngày mai vào đến cửa nam rồi nhập diệt.
Sáng
ngày mai, Tổ vác hòm đi, cũng có số người đi theo, khi đến
nơi, Tổ lại nói: Hôm nay cũng không được, đợi đến ngày
mai đi cửa tây mới được.
Sáng
mai đó, Tổ vác hòm đi chỉ có vài người theo đến nơi,
Tổ nói: Cũng chưa được, chưa có tốt; đợi ngày mai nữa
mới được.
Rồi
ngày mai ấy chỉ có một mình Tổ vác cái hòm đi đến cửa
bắc, chẳng có ai theo. Khi đến nơi, rồi tự mình vô hòm
mà thị tịch. Mọi người xung quanh thấy Tổ cầm chuông sắt
đi ở trên không mà rung, đi đến lúc không còn thấy.
Hai
Tổ ở trên là đại cơ đại dụng, mục đích độ chúng
sanh được ngộ ngay. Nếu không ngộ cũng phải phát khởi
lên nghi tình, sau này sẽ được ngộ. Mặc dù Tổ làm như
thế không có gì, nhưng đó là cơ dụng của Tổ. Tuy là đại
dụng đại cơ, nhưng mà kết quả là tạo tác, tức là có
ý muốn làm như vậy.
Đâu
bằng Nam Tuyền là Vương Lão Sư còn gọi là Vương Thái
Phó. Ngài dạy học cho thái tử và tự xưng là Vương Lão
Sư. Ngài ngộ triệt để là vô sanh vô diệt. Vô sanh thì không
có thiện không có ác.
Người
ta hỏi: Thế nào là đạo?
Tổ
đáp: Tâm bình thường là đạo.
Không
có gì lạ, chỉ là đói bụng thì ăn cơm, ăn no buồn ngủ
thì ngủ, đó là tánh của người ta vậy. Cứ ăn no rồi ngủ,
khoái lạc tiêu diêu tự do tự tại.
Có
một ông Quan hỏi Thiền sư: Cách tu hành của Ngài như thế
nào, nói cho tôi biết, đặng tôi học theo?
Thiền
sư nói: Đói bụng thì ăn cơm, buồn ngủ thì ngủ.
Ông
quan nói: Như vậy, người nào cũng tu hành hết, vì ai cũng
đói bụng thì ăn cơm, buồn ngủ mà ngủ.
Thiền
sư nói: Không phải! Khác. Tôi ăn cơm chỉ ăn cơm, còn các
vị ăn cơm thì phân biệt đủ thứ. Tôi ngủ cứ ngủ, còn
các vị ngủ mà suy nghĩ đủ thứ, đâu có giống.
Nếu
mình đã kiến tánh thì vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở
sợ, lúc đói ăn cơm buồn ngủ thì ngủ. Có ai đến hỏi
Tổ Sư thiền, bảo họ xem Huỳnh Phan Xước.
Huỳnh
Phan Xước là cố vấn cao cấp của nhà vua Đường Minh Hoàng.
Lúc An Lộc Sơn phản loạn, vua Đường Minh Hoàng sợ bỏ lánh
nạn ở Tứ Xuyên cùng với Huỳnh Phan Xước.
Khi
lúc trời mưa có cái Linh rung kêu, nhà vua có tâm trạng chán
nản hỏi Huỳnh Phan Xước: Cái linh nói gì vậy?
Huỳnh
Phan Xước trả lời: Tam Lang đừng thối chí.
Qua
câu chuyện trên, ý muốn mình chưa kiến tánh đừng thối
chí. Như Đường Minh Hoàng bị đánh bại không còn tinh thần,
chán nản. Mình phải có chí khí dũng mãnh tiến lên tham cứu
khi nào ngộ mới thôi.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Đắc, thất, thị, phi, đồng thời buông bỏ”.
Người nghĩa giải rằng: Trong nhất chân Pháp giới (pháp giới
rộng hơn vũ trụ, vũ trụ thì vạn hữu, pháp giới thì vạn
hữu và vạn vô) thì ở trong tự tánh của mình bao gồm pháp
giới tức là Phật tánh. Vậy tất cả ở trong pháp giới
đâu có cái gì ở ngoài pháp giới.
Cho
nên Phật pháp thường nói: “Ngoài tâm không có Phật,
ngoài tâm không có pháp”. Không có trong, không có ngoài thì
đâu có đắc đâu có thất, chẳng có thị chẳng có phi, chỉ
vì do vọng tình sanh lên. Vọng tâm khởi lên mới có phân
biệt đắc thất, thị phi, cho là khác nhau gọi là dị kiến.
Đáng lẽ không có đồng không có khác, vì vọng tâm khởi
lên phân biệt, khi không sanh ra đủ thứ khác nhau. Ở trong
không có đắc thất mà sanh ra đắc thất, ở trong không có
thị phi mà sanh ra thị phi.
Do
đó Tổ sư bảo chúng ta buôn bỏ hết đã là không đúng rồi.
Như mình trần đụng vào mặt bén của con dao, tự mình làm
đứt mình, chứ không phải người khác. Tâm mình cũng vậy,
khi không vọng tâm mình làm ra tự bó buọâc, đâu có ai làm
cho mình đắc, thất, thị, phi!
Đã
vốn không có đắc, thất, thị, phi mà còn buông bỏ cái gì?
Cho nên buông bỏ là không đúng. Nếu nói có lý do để buông
bỏ, thì đắc, thất, thị, phi buông bỏ ở chỗ nào?
Phật
pháp là phá ngã chấp, nếu ngã chấp không có thì ai đắc,
thất, thị, phi? Nói vậy đúng lắm, rất có lý; nhưng ngài
Trung Phong còn phải phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Hử!
Có thể buông bỏ cũng đáng ăn gậy, nói không thể buông
bỏ cũng đáng ăn gậy. Tại sao? Vì ông chưa thoát được
đắc, thất, thị, phi. Vậy, đã lọt vào tứ cú rồi.
Đắc
là cú thứ nhất, thất là cú thứ nhì, chẳng đắc chẳng
thất là cú thứ ba, cũng đắc cũng thất là cú thứ tư. Thị
phi và buông bỏ cũng vậy. Vì vậy có buông bỏ cũng đánh
gậy, không buông bỏ cũng đánh gậy.
Vậy
thế nào để khỏi bị đánh gậy? Chỉ có tham thiền, khởi
nghi tình miên mật thì không lọt vào tứ cú, mới đưa đến
chỗ giác ngộ triệt để.
Kệ
kết thúc:
Hai
tay xòe ra chẳng một việc,
Thị,
phi, đắc, thất thảy đều quăng.
Muốn
đem cái này thoát sanh tử,
Con
rắn siết chặt đôi chân ông.
(Hai
bàn tay buông ra không có việc gì, tại mình nắm chặt là
do chấp thật, nên có đắc, thất, thị, phi. Nếu thị, phi,
đắc, thất đều bỏ hết, vậy đúng hay không? Cũng chưa
đúng. Tại sao? Muốn lấy buông bỏ để siêu việt sanh tử,
như bị rắn quấn siết đôi chân thì không thể đi.
Bởi
vậy, không có đắc, thất, thị, phi, tại vọng tâm mình chấp
thật mới có. Nếu nói buông bỏ thì buông bỏ cái gì? Sự
thật không có cái gì để cho mình buông bỏ. Nếu khởi niệm
buông bỏ là sai lầm, như tự mình lấy dây bó buộc mình
vậy.
47.
NHÃN NHƯỢC BẤT THÙY, CHƯ MỘNG TỰ TRỪ
Dịch
Mắt
nếu không ngủ, chiêm bao tự dứt.
Lời
khai thị:
Quanh
năm ngồi kiết già, suốt ngày miệng như câm, hai mắt ngó
trên vách, chẳng biết mong muốn gì? Tham cứu tự kỷ; tham
thiền phải quyết tử mà tham, đặt tham thiền trên đời
sống, trên tất cả mới hy vọng kiến tánh. Nếu có nửa
nghi nửa tin, thì nghi tình không được nặng; mà thấy lời
cổ nhân, câu thoại đầu hình như có hình như không có; tháng
ngày trôi qua, năm cùng khí tận, lẩn quẩn qua ngày, giống
như leo cây bắt cá.
Bắt
cá phải xuống nước, leo cây làm sao bắt được! Đâu bằng
quét cho nó sạch, muốn quét sạch phải dùng nghi tình nặng.
Nghi tình là cái chổi automatic quét sạch hết. Gặp ma quét
ma, gặp Bồ tát quét Bồ tát, gặp Phật quét Phật, rồi dạ
minh châu Tự tánh của mình hiện ra.
Hạt
dạ minh châu ở trong đêm tối hiện ra ánh sáng thấy được
mọi thứ. Như Tự tánh mình hiện ra, thì biết mình là cái
gì, tất cả vũ trụ vạn vật đều biết rõ hết. Lúc đó
đạt được tự do tự tại, không còn tất cả khổ nữa.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Mắt nếu chẳng ngủ, chiêm bao tự trừ”. Người
nghĩa giải cho rằng: Hai câu này là lấy con mắt để thí
dụ, câu sau để hợp câu trước. Nếu vọng tâm không có
chấp thật, thì bình yên vô sự, chẳng có việc gì, tại
do tâm mình chấp thật, mới có phân biệt đủ thứ. Ở đây
thí dụ, nếu hai con mắt mở lớn không ngủ, thì thấy rõ
ràng, hôn trầm làm sao có! Vì thế nó tự trừ. Đã không
có hôn trầm thì chiêm bao cũng không có.
Theo
nghĩa giải thì đúng, nhưng ngài Trung Phong còn phải phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Nếu
có thí dụ không bằng không có thí dụ. Có thí dụ như thế,
thì Tổ Tăng Xán cũng đáng ăn phản. Tại sao? Nói nhắm mắt
có chiêm bao, còn mở mắt cũng là chiêm bao. Hiện nay tôi đang
thuyết pháp, các vị đang nghe pháp, cũng là chiêm bao vậy.
Vì sao?
Giáo
môn có độc đầu ý thức biến hiện là một mình ý thức
biến hiện chiêm bao, thì nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ngưng
hoạt động, chỉ có thức thứ sáu luôn luôn hoạt động,
ngủ quên nó vẫn hoạt động hiện ra thân chiêm bao. Nhân
vật trong chiêm bao có người quen có người không quen, thế
giới trong chiêm bao, như: Nhà, cửa, xe cộ đều có. Người
trong chiêm bao gặp nhau cùng nói chuyện, người chiêm bao bị
đánh cũng biết đau, biết vui biết khổ, ăn uống đều biết
ngon, khóc trong chiêm bao cũng ra nước mắt, trong chiêm bao sợ,
lúc thức dậy, trái tim thấy đập mạnh.
Vì
chấp nhắm mắt chiêm bao là thật, nên khổ vui đều có, giống
như khổ vui bây giờ không có chiêm bao vậy. Trong chiêm bao
không cần cái thân, đụng nóng lạnh đều biết nóng lạnh,
tất cả là do thức thứ 6 hiện ra.
Bây
giờ, không có nhắm mắt chiêm bao, nhưng có mở mắt chiêm
bao, gọi là đồng thời ý thức biến hiện. Tại sao gọi
là đồng thời ý thức biến hiện? Như tiền ngũ thức: Nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân đang hoạt động bình thường. Con mắt
thấy cái gì thì thức thứ 6 đồng thời nổi lên. Nhĩ thức
nghe được tiếng, nhưng không biết tiếng gì, tiếng người
hay tiếng chim… phải có thức thứ 6 đồng thời khởi lên,
mới biết được tiếng người hay tiếng chim; lại phân biệt
được tiếng đàn ông, đàn bà hay trẻ con… đều phân biệt
rõ ràng.
Nếu
không có nhĩ thức, thì thức thứ 6 không nghe tiếng, nên không
phân biệt được. Nếu có nhĩ thức không có thức thứ 6
đồng thời khởi lên, chỉ nghe được tiếng không biết tiếng
gì. Cho nên phải có 2 thức đồng thời khởi lên, gọi là
đồng thời ý thức biến hiện.
Độc
đầu ý thức và đồng thời ý thức đều là chiêm bao. Cho
nên, kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Tức
là nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao đều do tâm tạo,
cũng là do ý thức tạo ra. Chẳng qua nhắm mắt chiêm bao là
chỉ một mình ý thức tạo. Mở mắt chiêm bao là 2 thức cùng
tạo, đều do tâm tạo cả, chứ không có khác. Biết rằng
nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao là 2 thí dụ, nếu
Tổ Tăng Xán chấp cho là thật, thì Tổ cũng đáng ăn gậy.
Kệ
kết thúc:
Kim
cang chánh nhãn chưa từng ngủ,
Chẳng
biết mộng lớn bao giờ thức.
Gởi
lời Thiền khách cửa Tổ sư,
Chớ
cho hạt hót là oanh ca.
(Kim
cang chánh nhãn cũng là một biệt danh của Tự tánh. 2 chữ
“kim cang” là vật ở thế gian cứng nhất, phá hoại tất
cả vật, nhưng không bị tất cả vật phá hoại. Dùng cái
đó để hình dung Tự tánh. Ở đây chánh nhãn là phân biệt
tà nhãn.
Tà
nhãn coi cái gì cũng sai lầm, không phải thật mà chấp là
thật, không phải giả nhưng chấp là giả. Không phải có
mà chấp là có, không phải không nhưng chấp là không. Chánh
nhãn thì ngược lại, phân biệt rõ ràng, không lọt vào tà
kiến. Như kim cang phá hư được tất cả, nên gọi là kim
cang chánh nhãn.
Tự
tánh của mình không khi nào ngủ, vậy mình nói ngủ là không
đúng. Nhắm mắt chiêm bao, khi ngủ đã thức dậy thì hết
chiêm bao. Còn mở mắt chiêm bao, không biết bao giờ thức
tỉnh; chỉ có tham thiền đến kiến tánh mới thức tỉnh,
ngoài ra không bao giờ thức tỉnh.
Cho
nên, lời của Thiền sư Trung Phong cách đây gần 1000 năm,
nhắn gởi cho đại chúng biết: Đừng cho tiếng hạt là tiếng
hoàng oanh.
Thức
tỉnh nhắm mắt chiêm bao như là hoàng oanh kêu. Thức tỉnh
mở mắt chiêm bao như là tiếng con hạt kêu. Thức tỉnh nhắm
mắt chiêm bao vẫn còn cái khổ, còn thức tỉnh mở mắt chiêm
bao thì hết khổ. Aáy là khác rất xa, nên đừng có lầm.
48.
TÂM NHƯỢC BẤT DỊ, VẠN PHÁP NHẤT NHƯ
Dịch
Nếu
tâm chẳng cho là có khác, thì muôn pháp chỉ là một “Như”.
Lời
khai thị:
Chỗ
hành của đạo nhân như lửa tan băng (nghi tình tự động
quét sạch, gặp ma quét ma, gặt Phật quét Phật, như lửa
tiêu băng). Trái lại, trước mặt Nạp Tăng như băng tiêu
lửa (tại sao gọi là Nạp Tăng? Nạp là cái áo từ vải vụn
ở các nơi khâu thành tấm vải gọi là nạp y, không phải
lấy vải nguyên cắt ra mà khâu lại.
Phong
tục an táng đám ma của Ấn Độ thời xưa gồm có 4 thứ:
Thổ táng, thủy táng, hỏa táng và điểu táng. Ở Việt Nam
chỉ có thổ táng và hỏa táng, không có thủy táng và điểu
táng.
Thủy
táng là bỏ xác chết xuống nước cho cá ăn. Điểu táng là
đem xác chết lên núi, chỗ có xây bốn bức tường, để
cho cầm thú ăn thịt, còn lại quần áo rách, rồi Tu sĩ lượm
vải đó về khâu lại làm nạp y. Cho nên, cái tên vẫn còn
gọi là Nạp Tăng, chỉ cho người xuất gia, nhưng đây chỉ
cho người tham thiền xuất gia).
Bỏ
hết băng và lửa, buông bỏ phàm thánh (tức là không phân
biệt phàm thánh, lửa băng. Tham thiền đề câu thoại đầu,
khởi lên nghi tình. Nghi tình là cái chổi tự động quét sạch),
như Đạo sĩ không tay vẽ bùa quỷ (vì nó tự động). Xà
Lê mù mắt đọc kinh Phật (cũng là tự động khỏi cần coi,
2 câu này là hình dung tham thiền, nghi tình tự động, khỏi
cần quét mà tự quét. Vọng tưởng lên bao nhiêu mặc kệ,
nghi tình tự động quét sạch).
Lại
còn một chỗ đáng tin cậy. Tò vò nuốt cả hồ Động Đình
(Tò vò là con trùng rất nhỏ, còn hồ Động Đình thì rất
lớn. Trong Thiền Thất Khai Thị Lục, ngài Lai Quả thí dụ:
Nghi tình thành khối, dù khối này rất nhỏ, nhưng tất
cả vật, núi, sông, đất, nước… đều ở trong đó).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Nếu tâm chẳng cho là có khác, thì muôn pháp chỉ
là một Như”. Người nghĩa giải cho rằng: Vạn pháp vốn
như, do tâm mới thành khác. Ví như núi chẳng tự cao, tâm
cho là cao; nước chẳng tự sâu, tâm cho là sâu. Tâm này cho
là khác thì muôn ngàn sự vật đều thành khác. Cổ và lưng
vốn cùng một thân mà xem nó như nước Sở và Việt, anh em
cùng giống nòi mà coi như trời với đất. Vì sự khác nên
tình chí thân còn phải khác, huống là phàm với thánh, người
với vật. Muốn dung hợp thành một, chẳng sanh yêu ghét này
nọ, đâu có thể được.
Kinh
nói: “Chưa đạt cảnh duy tâm, khởi đủ thứ phân biệt”
(tức là chưa đạt tất cả cảnh, như vũ trụ vạn vật đều
do tâm tạo. Nếu thấu được rồi thì không có phân biệt).
Như
bọn mù mò voi (mỗi người mù rờ voi mỗi chỗ khác nhau,
rồi cho con voi là thế này thế kia, chẳng biết mới chỉ
rờ một bộ phận của con voi, mà cho là toàn thể con voi,
thì sao đồng được!).
Như
thấy bóng cung trong nước nghi là rắn… (người khách Quảng
Đông uống nước trà, trong nhà có treo cây cung, ánh sáng đèn
chiếu cây cung vào tách trà của người khách, hình giống
như con rắn. Khi uống trà xong, người khách tưởng mình uống
con rắn vào bụng. Từ cảm giác đó cái bụng mỗi ngày lớn
lên, không có thầy thuốc nào chữa được. Người chủ biết
người khách bệnh là do hiểu lầm bóng cây cung cho là con
rắn.
Lại
một hôm, người chủ mời người khách đến uống trà, cây
cung và tách trà vẫn chỗ cũ, cũng thấy bóng cây cung trong
tách trà, ánh đèn chiếu vào. Người chủ chỉ cho người
khách thấy, rồi lấy cây cung đem đi chỗ khác, người khách
thấy trong tách trà không còn bóng cây cung cho là con rắn nữa,
thì biết mình đã hiểu lầm cây cung cho là con rắn. Từ đó
bệnh không còn nữa. Câu chuyện đó gọi là Quãng Khách Nghi
Xà).
Như
vậy, chứng tỏ là do tâm tạo, ở trong không có đồng không
có khác, mà sanh ra có đồng có khác. Như mắt bệnh mới thấy
hoa đốm trên không, nếu trị lành bệnh mắt, thì hoa đốm
trên không đâu còn nữa.
Sơn
hà đại địa vạn vật đủ thứ trong pháp giới bao la, làm
sao dung hợp nhất như được? Nếu có dung hợp được như
gương soi gương, cũng còn là gương. Nếu chuyển sơn hà nhập
vào tự kỷ, như không hợp với không cũng là không. Đến
đây các duyên đều tịch lặng, thì nhị kiến không sanh như:
Sáng tối, có không, thông nghẽn… tất cả đối đãi đều
không sanh khởi, nên nhất pháp ấn định. Vậy mới phù hợp
cái định của Tổ sư và khế hợp tâm của Phật.
Giải
thích trên rất có lý, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Lời
này tạm gát qua một bên. Nay trước mắt sáng, tối, thông,
nghẽn, thành, trụ, hoại, không, gọi cái gì là tâm bất dị?
Như sắc tượng có gọi là thành, tồn tại một thời gian
gọi là trụ, bắt đầu hư gọi là hoại, tiêu mất không
còn gì gọi là không.
Động
vật có sanh lão bệnh tử, tất cả cảnh vũ trụ pháp giới
hiện ra đủ thứ sai biệt, gọi cái gì là tâm không sai biệt?
Nếu chỉ không ra thì làm sao được? Nói có lý mà chỉ không
ra thì có lý gì? Hoặc có người nói: “Mặc cho các pháp
bày ra trước mặt, ta chỉ dùng cái lý “bất dị” để
chiếu soi thì được rồi”. Thì ngài Trung Phong nói: Ứ! Nếu
mà như thế, chiếu chừng nào sai biệt chừng nấy.
Vậy
làm sao không có sai biệt? Chỉ có nghi tình khởi lên mới
không có đủ thứ sai biệt nổi lên.
Kệ
kết thúc:
Tâm
chẳng khác biệt đồng vạn pháp,
Nắm
tay chỉ thể dọa trẻ con.
Cứ
theo hình vẽ đồ cho giống,
Lừa
gạt người đời khi nào thôi.
(Nếu
tâm không khác thì vạn pháp đồng nhất. Nói như thế, cũng
như trong nắm tay không có gì, lại gạt con nít ở trong đó
có cục kẹo. Nếu như thế mà dạy người ta, tuy nói có lý,
nhưng sự thật chẳng có ích cho người và mình. Cứ mãi mãi
gạt người ta chừng nào thôi! Tức là thầy gạt trò, đời
này sang đời khác, liên tiếp khi nào hết.
Nói
ăn mà chẳng ăn thì không no, nói ăn mà ăn thì no. Như mình
nghiên cứu chén cơm, trong đó có bao nhiêu chất bổ, biết
rõ ràng không sót chút nào. Nhưng sự nghiên cứu biết đó,
không thể nào no được, không bằng người ngu si không biết
nghiên cứu, mà chỉ ăn cơm là được no.
Tham
thiền đề lên câu thoại đầu, khởi lên nghi tình thì tự
nhiên đạt đến chỗ tự do tự tại, giải thoát tất cả
khổ. Nếu không, chỉ nghiên cứu giáo lý cao siêu, nói hay
thì đối với việc giải thoát sanh tử không có liên
quan.
49.
NHẤT NHƯ THỂ HUYỀN, NGỘT NHĨ VONG DUYÊN
Dịch
Một
chữ “Như” thể tánh huyền diệu, cùng tột bình đẳng,
bặt nhân duyên đối đãi.
Lời
khai thị:
“Thiền
thiền thiền, lìa lý giải”. Nói đến thiền thì không thể
lý giải, dùng lời nói không thể lý giải, vì cần lìa lý
giải. Hiện giờ có một số sách thiền phổ biến, họ lại
giải thích công án là nghịch ý Tổ sư, vì giải thích thì
hết nghi, tham thiền là cần nghi.
Nếu
lấy thiền để giải thích, theo giới luật thì người đó
phải đọa địa ngục, tức là làm lấp bít cửa ngộ của
người tham thiền, tức là không cho người tham thiền được
ngộ. Ngộ là Phật, độ vô lượng chúng sanh.
Có
người hỏi tôi (Duy Lực): Thiền là cái gì vậy?
Tôi
nói: Thiền không phải là cái gì; nếu thiền là cái gì thì
không phải thiền. Vậy làm sao để giải thích?
Ông
già Thích Ca truyền pháp cho Ma Ha Ca Diếp chưa được một
nửa. Tổ Đạt Ma đem thiền này truyền qua Trung Quốc, một
vạn thì còn thiếu tám ngàn. Ngài Lâm Tế danh tiếng hét,
dù hét cho đến muốn bể miệng, ngài Đức Sơn đánh phản
cho đến tay phồng lên… những cơ xảo này rất hay, nhưng
đối với thật tế vẫn cách xa như trời với đất.
Tại
sao? Dù Phật, Tổ hay như thế nào cũng không truyền cái ngộ
cho mình được. Người ta nói truyền tâm ấn, vậy làm sao
truyền? Không thể truyền được, mà chỉ truyền cách thực
hành tham thiền, rồi tự mình ngộ.
Câu
chuyện người thợ mộc đẻo bánh xe và Tề Hoàng Công:
Tề
Hoàng Công ở thời xuân thu (Trung Quốc). Tề Hoàng Công ở
nhà trên, còn thợ mộc ở nhà dưới đang đẻo bánh xe. Thời
xưa dùng cây để làm bánh xe.
Thợ
mộc đẻo bánh xe rất giỏi hỏi Tề Hoàng Công: Ngài coi sách
gì vậy?
Tề
Hoàng Công đáp: Coi sách Thánh hiền.
Thợ
mộc hỏi: Thánh hiền nói gì vậy?
Tề
Hoàng Công nói: Thánh hiền lấy cái kinh nghiệm dạy cho mình
Thợ
mộc hỏi: Thánh hiền ở đâu?
Tề
Hoàng Công nói: Thánh hiền đã chết.
Thợ
mộc nói: Thánh hiền đã chết, thì lời nói của Thánh hiền
như mây khói, vậy có dùng gì được!
Tề
Hoàng Công phát giận nói: Sao ông dám nói vậy? Dám phỉ báng
Thánh hiền! Vậy ông phải cắt nghĩa cho tôi nghe, nếu có
lý thì ta tha, còn vô lý phải bị chém đầu.
Thợ
mộc nói: Tôi đẻo bánh xe, tôi ngộ được cách đẻo bánh
xe, nếu đẻo bánh xe lỏng một chút, bánh xe dễ sút ra nên
rất nguy hiểm; nếu chặt quá thì bánh xe quay không được.
Tâm tôi đã ngộ, dùng tay cầm búa đẻo vào bánh xe cho
vừa vặn không lỏng không chặt. Tôi đã ngộ nghề này, muốn
truyền cho con tôi; con tôi cũng là thợ mộc khéo, nhưng truyền
không được. Tôi chưa chết, cầm búa dạy cho con tôi đẻo,
tôi cầm tay con tôi cũng đẻo không được; huống là lời
Thánh hiền, mà Thánh hiền đã chết từ lâu thì có ích gì!
Tôi còn sống, búa và bánh xe còn đó truyền không được,
chẳng phải lời của Thánh hiền là mây khói sao!
Tề
Hoàng Công nói: Có lý. Thôi! Tha chém đầu.
Bánh
xe có hình tướng còn truyền không được, huống chi Tự tánh
không hình tướng, làm sao truyền được? Cho nên Phật, Tổ
rất hay chỉ được phân nửa, Tổ còn thiếu tám ngàn.
Nếu
mình tiến tới trước trước mắt, như vạch sóng tìm nước;
nếu thối lui như cuốc đất kiếm trời. Nếu không tới lui
muốn cầu tương ưng với Tự tánh, thì cần tham 30 năm nữa
mới được.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Một chữ Như thể tánh huyền diệu, cùng tột bình
đẳng, bặt nhân duyên đối đãi”. Người nghĩa giải cho
rằng: Thể Tánh của chữ Như, huyền diệu lại thêm huyền
diệu. Chẳng do nhân duyên mà có, chẳng phải tự nhiên mà
thành.
Như:
Con gà và trứng gà. Nếu nói con gà và trứng gà do nhân duyên
mà có. Nhân duyên thì phải có sự bắt đầu nhân thứ nhất.
Nhân thứ nhất con gà hay nhân thứ nhất trứng gà? Nếu nhân
thứ nhất là con gà, thì không có trứng gà, làm sao nở ra
con gà? Nếu nhân thứ nhất là trứng gà, thì không có con
gà, làm sao đẻ ra trứng gà? Thì vô lý! Lý nhân duyên không
đủ lý do, nên không đúng.
Nếu
cho tự nhiên mà thành; nói nhân thứ nhất là tự nhiên sanh
ra. Nếu tự nhiên thì không cần nhân duyên, thì tự nhiên
ở trên trời rớt xuống con gà hoặc trứng gà. Tại sao bây
giờ con gà do trứng gà nở ra và trứng gà do con gà đẻ?
Vậy tự nhiên cũng vô lý, lý này không thành lập được.
Cho
nên, Phật dạy mình lìa tứ cú tuyệt bách phi. Vì tất cả
đều không đúng, có đối đãi là tứ cú. Như tôi thuyết
pháp cũng lọt vào tứ cú. Tham thiền cũng lọt vào tứ cú,
còn cái gì không lọt vào tứ cú? Chỉ có khởi lên nghi tình
thì không lọt vào tứ cú, lìa tứ cú và tuyệt được bách
phi.
Vậy
con mắt của Phật cũng không thấy được, tâm của Phật
không thể suy lường. Nên quăng đại thiên thế giới ra ngoài
hư không, cuốn pháp giới thành sợi lông, tức là một không
thì tất cả đều không, chẳng cần mổ xẻ; Nếu một có
thì tất cả đều có, đâu cần tạo tác mới có. Chẳng thể
lấy số cát sông hằng cho là nhiều và cũng không cho một
sợi lông là ít.
Nói
“tuyệt nhân duyên, bặt đối đãi”, tức là thể tánh huyền
diệu của một chữ “Như” vậy. Nói như thế, thì lý cao
siêu nhưng ngài Trung Phong còn phải phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Nói
thì nói gần giống, ngươi chứa lời này trong lòng, muốn
tương ưng với thể tánh huyền diệu của của chữ Như, chẳng
khác nào ôm lửa trong lòng mà cầu cho đừng cháy, vậy làm
sao được? Tức là đạo lý cao siêu hơn Phật cũng vô dụng,
chỉ cần mình tự tham tự ngộ mới được.
Kệ
kết thúc:
Nói
Như ngoài Như đâu còn Như?
Núi
khe trùng điệp ẩn nhà xưa.
Mặt
trời lên cao ngủ mới dậy,
Nhàn
thấy mục đồng cưỡi ngược lừa.
(Nếu
không có cái Như thì đâu cần Như, cũng như mình cất nhà
lá ở trên núi, có suốt có khe. Một chùm núi thì có một
dòng nước, mình muốn ngủ cho đến mặt trời lên 3 sào,
đâu có ai đánh thức dậy. Có ý là mình muốn nghiên
cứu giáo lý cao siêu hơn Phật, cũng không làm chủ được
thân mình.
Muốn
đạt tự do tự tại thì phải làm chủ. Muốn làm chủ thân
phải biết mình là cái gì? Cần phải tham thiền, hỏi câu
thoại đầu khởi lên nghi tình sẽ đưa đến chỗ ngộ, thì
làm chủ cho mình được tự do tự tại.
Hiện
nay không biết mình là cái gì? Không làm chủ cho mình, mình
không muốn già cũng phải già, không muốn chết cũng phải
chết, bị sanh tử nên không được tự do. Nếu nói vậy,
có người lại hỏi: Tại sao Phật Thích Ca, lịch đại Tổ
sư, chứng ngộ rồi cũng phải chết? Sao nói là sanh tử tự
do?
Thí
dụ có 2 loại người:
Người
phạm tội ở trong tù; người làm việc ở trong tù. Người
phạm tội ở trong tù không được tự do đi ra vô; người
làm việc trong tù tự do đi ra vô. Hai hạng người này dụ
cho sanh tử vậy.
Người
ngộ đạo được tự do, người chưa ngộ đạo không được
tự do. Nếu người làm việc ở trong tù không thích làm việc
nữa, thì xin nghĩ việc rời khỏi nhà tù. Như sự chết của
Phật, Tổ khác hơn người thường, vì được tự do. Mình
chưa ngộ không được tự do, thấy thì giống, nhưng sự thật
lại khác; như 2 loại người ở trong tù thì giống, nhưng
sự tự do có khác.
Nếu
được tự do tự tại, như cất căn nhà lá ở trên núi sâu,
mình ngủ mặt trời lên 3 sào, cũng không có ai nói đến;
dù thế lực nhà vua cũng không có ảnh hưởng đến mình.
Vậy mình tự do tự tại, xem thần tiên cưỡi ngược lừa.
Tự
do ai cũng muốn, nhưng phải có cách? Phật và Tổ sư dạy
mình tham thiền rất công hiệu đạt đến tự do tự tại.
50.
VẠN PHÁP TỀ QUÁN, QUI PHỤC TỰ NHIÊN
Dịch
Muôn
pháp cùng quán một lượt, tất cả trở về Tự Tánh.
Lời
khai thị:
Phật
pháp khỏi cần trừ vọng tâm, tham thiền đâu lìa trung đạo
và nhị biên. Vì không có nhị biên để lìa và cũng không
có trung đạo để lìa. Do tâm chấp thật nên có nhị biên
và trung đạo để lìa. Nếu khởi lên tâm tìm cầu thì xa
cách Tự tánh mình 10 vạn 8 ngàn dặm, tức là rất xa, mà
tìm chừng nào xa chừng nấy. Cho nên nói: “Vô sở đắc,
vô sở cầu, vô sở sợ”. Nếu lấy tâm đi tìm hiểu là
hồ nghi, chứ không phải chánh nghi, không phải tham thiền.
Tông
Lâm Tế nói: “Một câu đủ tam quyền, một quyền đủ tam
yếu, gọi là tam quyền tam yếu”. Nhưng Thiền sư Trung Phong
là con cháu của Lâm Tế, ở đây quét tam quyền tam yếu. Nói
có gì đâu mà tam quyền tam yếu! Tự tánh của mình không
có hình tướng, cả bóng cũng không có nữa. Vì bản thể
Tự tánh còn lìa ngôn ngữ giải thích. Nếu lấy ngôn ngữ
để giải thích thì lọt vào tứ cú, làm sao Tự tánh hiện
ra được?
Vậy
người tham thiền làm sao còn cầu tương ưng? Tương ưng là
cú thứ nhất, không tương ưng là cú thứ nhì, chẳng tương
ưng chẳng không tương ưng là cú thứ ba, cũng tương ưng cũng
không tương ưng là cú thứ tư. Nếu cầu tương ưng thì lọt
vào tứ cú. Như vậy, không được cầu; từ xưa đến nay
Tự tánh đâu có mất! Nếu Tự tánh mất thì bị sanh diệt.
Vì Tự tánh chẳng sanh chẳng diệt, nên hiện tiền, do vọng
tâm chấp thật mình không thấy.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Muôn pháp cùng quán một lượt, tất cả trở về
Tự Tánh”. Người nghĩa giải dẫn chứng Giáo môn nói: “Tùy
duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Bởi vì tùy duyên,
chơn như là vạn pháp; bởi vì bất biến, vạn pháp là chơn
như.
Lại
nói: “Ngoài tâm không có pháp”, kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhất
thiết duy tâm tạo”, nghĩa là tất cả đều do tâm tạo ra,
làm sao ngoài tâm có pháp được? Ngoài tâm không có pháp,
thì đâu có pháp nào để làm duyên cho tâm? Tất cả nhân
duyên do pháp có pháp không đều do tự tâm sanh ra, lại làm
tướng cho tâm. Nếu tâm chấp tướng có thì hiện ra tướng
có; nếu tâm chấp tướng không thì hiện ra tướng không.
Lời
này so với cái lý “vạn pháp tề quán” của Tổ sư cũng
chẳng cách xa vậy; hoặc nói “tề quán” cũng là cái bóng
của “chẳng lựa chọn”, nếu còn lựa chọn thì chẳng
thể cùng quán.
Tuy
lời giải thích rất có lý, như ngài Trung Phong còn phải phủ
nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Dẫn
chứng thì chẳng phải không đúng. Như mặt trời mọc, mặt
trăng lặn, ban đêm tối, ban ngày sáng, rõ ràng chẳng thể
lẫn lộn. Vậy có cái gì để nói tề quán? Lìa khỏi lời
này, xin cho một tin tức tốt hơn thử xem?
Vậy
Tổ sư muốn mình tề quán còn cách nào nữa? Ngoài ra câu
thoại đầu khởi nghi tình thì không biết tối, không biết
sáng, không biết mặt trời mọc, không biết mặt trăng lặn,
thì đã tề quán rồi.
Kệ
kết thúc:
Vạn
pháp làm sao khiến cho bằng?
Đâu
thể trở về lúc tự nhiên.
Xưa
nay tri âm rất khó gặp,
Bá
Nha, Tử Kỳ đi đâu tìm?
(Người
tham thiền thì tri âm rất ít, không những tri âm ít, mà không
chịu tri âm, lại muốn phá hoại phỉ báng. Sự tham thiền
rất cần cho mình, vì mình đã ở trong sanh tử luân hồi,
đã chịu biết bao khổ cực. Nay gặp được chánh pháp tham
thiền, như Cổ Đức nói: “Gặp được chánh pháp thì kiếp
này phải độ thân này, chứ đợi kiếp nào nữa”!
Tham
thiền là tự độ cho mình và độ cho người, để đạt đến
tự do tự tại, vĩnh viễn hết tất cả khổ. Bây giờ đề
câu thoại đầu, khởi nghi tình, cứ tham! Tri âm có hay không
cũng không biết, vạn pháp bằng nhau hay không cũng không biết,
tự nhiên hay không tự nhiên cũng không biết; khi nghi tình
vỡ thì ngộ đạo. Không tự nhiên nó cũng tự nhiên, không
tề quán nó cũng tề quán, không có tri âm thì tất cả đều
tri âm. Ý của ngài Trung Phong là vậy.
