37.
BẤT HẢO LAO THẦN, HÀ DỤNG SƠ THÂN
Dịch
Tốt
xấu không nên nhọc tinh thần, đâu cần phân biệt sơ hay
thân.
Lời
khai thị:
Triệu
Châu khám phá rồi (có một bà già ở giữa đường đi Ngũ
Đài Sơn, có ai đi ngang hỏi thăm, bà lão nói: “Cứ đi như
vậy”. Ngài Triệu Châu nghe nói, để ta đi khám phá, rồi
ngài Triệu Châu đến chỗ bà lão hỏi, bà lão ấy cũng nói:
“Cứ đi như vậy”. Rồi ngài Triệu Châu nói với chúng
Tăng rằng: Ta đã khám phá rồi).
Thủy
ngân không giả, Vân Môn lỡ lời rồi. A ngùy (phân người)
chẳng chơn. Tham thiền không linh nghiệm, đụng đâu mê đó
(tại vì gặp cái gì cũng muốn hiểu, hướng theo lời nói
của Phật, Tổ, nên Tổ mắng: “ Con chó đuổi theo cục xương”).
Sự
thấy là gai gốc trong mắt (thấy vấn đề gì đều là gai
gốc trong mắt). Ủa! Có việc như thế ư? (Theo hiểu biết
của mình có nghĩa gì đâu! Vậy, mình không thấy không nghe
sao? Vì mình hiểu không nổi. Nếu ngộ thì hiểu, còn không
ngộ thì không hiểu nên phải phát nghi tình, giữ nghi tình
đó sau này sẽ được ngộ. Cứ dùng bộ óc đi tìm hiểu,
hỏi là có việc như thế ư! Thì sai).
Chỉ
cần nói với họ; ngẩng mặt ngó ngoài trời xem ai ló đầu
ra? (Người nào ló đầu ra là ngộ, nếu không ngộ cứ giữ
không hiểu không biết thì sau này sẽ được ngộ).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Tốt xấu không nên nhọc tinh thần, đâu cần phân
biệt sơ hay thân”. Người nghĩa giải cho rằng: Do hệ niệm
thì trái với chân, đã trái với chân thì lao nhọc tinh thần,
vì nhọc tinh thần ắt phân biệt sơ thân. Phải biết hệ
niệm là cái nhân của sơ thân, sơ thân là cái quả của hệ
niệm (khởi một niệm thì khó phân biệt). Tổ sư nói hai
chữ “không cần” cũng như việc cắn rốn vậy (tự mình
không thể cắn rốn mình; ví dụ cho việc không thể làm được).
Tịch
nghĩa giải:
Lời
nghĩa giải trên tuy rất hay, cũng giống như theo hình mèo mà
vẽ con mèo, đại khái vẽ ra giống, nhưng chuột chết còn
chẳng bắt được, huống là chuột sống ư! Nếu chẳng đích
thân một dao cắt đứt mạng căn (chơn tham thật ngộ), thì
những lời nói trên chỉ giúp cho việc đàm luận mà thôi.
Kệ
kết thúc:
Tốt
xấu chẳng nhọc tinh thần,
Dùng
hết tinh thần càng chẳng thân.
Đâu
bằng kẻ ngốc nơi thôn dã,
Ăn
no nằm dài hợp thiên chân.
(Việc
tốt xấu đều nhọc tinh thần, tất cả chẳng nên. Nếu dùng
hết tinh thần để luận bàn càng chẳng thân. Đâu bằng kẻ
ngốc ở nơi thôn dã, ăn no nằm dài không có chuyện gì tự
hợp thiên chân, tức là hoàn cảnh bổn lai vốn như vậy,
khỏi cần thêm bớt, khỏi cần phân biệt).
38.
DỤC THỦ NHẤT THỪA, VẬT Ố LỤC TRẦN
Dịch
Muốn
chứng lấy nhất Phật thừa, chớ nên chán ghét lục trần.
Lời
khai thị:
Lục
căn đều là Pháp thân (kinh Lăng Nghiêm). Pháp thân không biến
đổi, tồn tại vĩnh viễn, không bị chết mất; thân này
bị chết mất, đem chôn biến thành đất, thiêu biến thành
tro.
Trong
này nói: Tánh nghe, tánh ngửi, tánh thấy, tánh xúc, tánh nếm,
tánh biết đều tồn tại vĩnh viễn, không theo xác thân mà
mất, không thể biến thành tro, biến thành đất. Cho nên gọi
là Pháp thân.
Muốn
chứng tỏ tánh thấy tồn tại vĩnh viễn. Phải chứng tỏ
sự thấy không phải là con mắt. Ai cũng cho sự thấy là con
mắt, nhưng thật tế sự thấy không phải là con mắt. Vậy
làm sao chứng tỏ? Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật đối đáp với
Tôn Giả A Nan.
A Nan
đại diện đương cơ cả triệu người nghe Phật thuyết pháp.
Phật
dùng cánh tay để thí dụ, nói với A Nan rằng: Ta có cánh
tay mới làm ra nắm tay, ngươi có con mắt thì thấy được
ta, hai việc này có giống nhau không?
A Nan
đáp: Giống nhau.
Phật
nói: Không phải, tại sao? Ta có cánh tay nên mới làm nắm
tay, không có cánh tay không thể làm nắm tay. Còn người không
có con mắt vẫn thấy được.
A Nan
hỏi: Người không có con mắt làm sao thấy được?
Phật
nói với A Nan: Ngươi đi hỏi người không có con mắt, trước
mắt có thấy gì không? Thì người ấy sẽ trả lời rằng:
Thấy trước mắt đen tối.
A Nan
hỏi: Thấy trước mắt đen tối, làm sao gọi là thấy?
Phật
muốn chứng tỏ thấy đen tối vẫn là thấy, nên thí dụ
thêm. Một người có con mắt sáng ở trong phòng đen tối,
không có ánh sáng nào cả, người có con mắt đó, phải thấy
trước mắt đen tối không?
A Nan
đáp: Phải.
Phật
nói tiếp: Vậy người có con mắt trong phòng đen tối với
người không có con mắt thấy đen tối, hai người đó thấy
có khác không?
A Nan
đáp: Không khác.
Phật
hỏi: Vậy người không có con mắt, bỗng nhiên có con mắt
sáng, phải con mắt thấy không?
A Nan
đáp: Phải.
Phật
nói: Vậy người có con mắt ở trong phòng đen tối, thình
lình được cây đèn đốt lên, thấy được cảnh tượng
trước mắt. Vậy phải cây đèn thấy không?
A Nan
không đáp được. Bởi vì được con mắt sáng thì nói con
mắt thấy, còn được cây đèn sáng thì phải nói cây đèn
thấy! Nếu cây đèn có tánh thấy, không gọi là cây đèn.
Còn cây đèn thấy được, có dính dáng với con người đâu?
Phật giải thích: Cây đèn thì hiển hiện sắc tướng, sự
thấy là con mắt, không phải là cây đèn. Con mắt cũng tác
dụng hiển hiện sắc tướng, sự thấy là tánh thấy. Kinh
Lăng Nghiêm nói là “kiến tinh, chứ không phải con mắt”.
Tác dụng con mắt và tác dụng cây đèn giống nhau, nó chỉ
là hiển hiện sắc tướng, không phải kẻ thấy; kẻ thấy
là kiến tinh hay tánh thấy, chứ không phải con mắt.
Thấy
đen tối là do thiếu ánh sáng; người có con mắt cũng thấy
đen tối vậy. Nếu nói thấy đen tối chẳng phải thấy, thì
sáng cũng chẳng thấy; nếu là thấy hai cái đều là thấy;
cũng như lúc sáng không thấy tối, lúc tối không thấy sáng,
thì hai cái đều chẳng thấy. Bởi vì lúc tối không thấy
sáng cũng là không thấy. Lúc sáng thì không thấy tối cũng
là không thấy. Nếu thấy sáng cũng là thấy, thấy tối cũng
là thấy, tại sao thấy sáng cho là thấy, mà thấy tối không
cho là thấy? Vậy có đúng với sự thật không? Đã chứng
tỏ sự thấy không phải con mắt, là do tánh thấy.
Phật
chứng tỏ tánh thấy tồøn tại vĩnh viễn. vua Ba Tư Nặc
hỏi Phật: Có phải ngoại đạo nói “khi con người
chết đi, không còn cái gì”, vậy có đúng không?
Phật
nói: Không phải. Cái nào có lay động thì có biến đổi,
có biến đổi thì có biến mất. Còn tánh thấy không có lay
động thì không biến đổi, không biến đổi thì không chết
mất, tồn tại vĩnh viễn.
Phật
nói với Vua: Vua có tánh thấy tồn tại vĩnh viễn có biết
không?
Vua
nói: Không biết.
Phật
nói: Để tôi chỉ cho biết.
Phật
dùng tay nắm buông, rồi hỏi A Nan: Ngươi có thấy tay ta nắm
buông không?
A Nan
đáp: Thấy.
Phật
hỏi: Vậy tay ta nắm buông hay tánh thấy của ngươi nắm buông?
A Nan
nói: Tay của Phật nắm buông, chứ tánh thấy của con đâu
có nhúc nhích, mà nói nắm buông!
Vậy,
tay của Phật lay động nắm buông, sau khi chết cũng tiêu mất.
Còn tánh thấy không lay động làm sao chết mất!
Phật
nói thí dụ chưa chính xác, vì thân của Phật và thân của
A Nan là hai thân khác nhau.
Phật
phóng hào quang vào vai bên phải của A Nan, thì A Nan xoay ngó
bên phải; Phật phóng hào quang vào vai trái của A Nan, thì
A Nan xoay ngó bên trái.
Phật
hỏi A Nan: Tại sao cái đầu của ngươi lay động ngó qua ngó
lại vậy?
A Nan
nói: Vì con muốn nhìn hào quang của Phật, nên ngó qua ngó
lại, cái đầu mới lay động.
Phật
hỏi: Đầu của ngươi lay động hay là tánh thấy của ngươi
lay động?
A Nan
nói: Đầu của con lay động, tánh thấy của con tịnh còn
không có, làm sao lay động!
Vậy
đầu của A Nan lay động, sau này biến thành tro, biến thành
đất; còn tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh xúc, tánh
nếm, tánh biết tồn tại vĩnh viễn, vì không lay động thì
không biến đổi nên không chết mất.
Có
Phật tử ở nước Úc hỏi: Sau khi con chết tánh thấy con
ở đâu? Tôi (Duy Lực) nói: Bây giờ ông chưa chết, tôi chưa
chết, làm sao nói chuyện sau khi chết được? Hiện tại ông
còn sống, ngồi đây! Tất cả tượng Phật, trái cây, bàn,
tủ do tánh thấy của ông thấy được phải không?
Người
ấy đáp: Phải.
Ông
còn sống, nói tánh thấy của ông, hãy chỉ ra ở đâu? Ông
ấy suy nghĩ chỉ không ra. Tại sao chỉ không ra? Vì tất cả
đều thấy một lượt. Nếu chỉ tánh thấy chỗ này chỗ
kia thì tánh thấy không thể thấy một lượt. Do cùng khắp
nên không có chỗ để chỉ. Bởi, Pháp thân cùng khắp không
gian thời gian, khắp không gian thì không có chỗ để chỉ;
khắp thời gian thì không có lúc để chỉ. Tại có chỗ thì
không cùng khắp.
Phật
ở trong kinh Lăng Nghiêm đã chứng tỏ: Tánh thấy, tánh nghe,
tánh ngửi, tánh xúc, tánh nếm, tánh biết tồn tại vĩnh viễn;
vì không lay động thì không biến đổi, nên không chết mất.
Lục
căn là dụng của tâm mình, ai cũng có sẵn sàng. Phật dạy
tham thiền là đạt được Bổn lai diện mục của tâm mình;
muốn hiện tâm mình không phải do lời nói, lời nói là chướng
ngại chỗ thật tế, chỗ thật tế cần phải ngộ. Cho nên,
muốn thành tựu nhất thiết chủng trí thì phải ngộ.
Nếu
chưa ngộ, chấp chặt xác thân, khi lúc tứ đại phân táng,
xương thịt tan rã, lục căn đều biến diệt, pháp thân đặt
ở chỗ nào? Pháp thân không có liên quan xác thân; nếu chấp
chặt xác thân thì pháp thân bị ẩn, không hiện ra được.
Cho nên, cần phải tham thiền cho đến ngộ, tự hiện pháp
thân của mình).
Việc
buồn chớ kể người buồn,
Kể
với người buồn, buồn chết đi!
(Ai
cũng ôm chặt cái thân này cho là ta không chịu buông, cái
thân này phải có phiền não, nếu người cứ chấp thân này
thì phải khổ).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Muốn chứng lấy nhất Phật thừa, chớ nên chán
ghét lục trần”. Người nghĩa giải cho rằng: Nhất thừa
là biệt danh của tự tâm. Lục trần, lục thức, lục căn
là biệt hiệu của tự tâm; đâu có thể chứng nhất thừa
mà ghét lục trần! Thế thì giống như yêu tay chân mà bỏ
vai lưng vậy. Phải biết, ngộ tâm này thì lục trần tức
là nhất thừa, mê tâm này thì nhất thừa tức là lục trần.
Bùi Tướng Quốc nói: “Nghịch nó tức phàm, thuận nó tức
thánh”.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “A Nan, ngươi muốn biết cái câu sinh vô
minh, là gốc thắt kết khiến ngươi luân hồi trong sanh tử;
ấy, chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác.
Ngươi lại muốn biết đạo Vô Thượng Bồ Đề khiến ngươi
mau chứng quả tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ,
cũng chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác”.
(Lời
nghĩa giải chấp theo thật tế, là ở trong mở mắt chiêm
bao. Nếu đuổi theo thì chướng ngại sự ngộ; mặc dù nói
rất có lý, như những người giảng kinh thuyết pháp, học
giáo lý đều theo lời nói văn tự để tìm hiểu. Nếu như
vậy không đến chỗ ngộ được.
Ngài
Trung Phong là Tổ thứ 18 của phái Lâm Tế thuộc Thiền tông,
là muốn mọi người đến chỗ chân tham thật ngộ, cho nên
quét sạch kiến giải. Tuy giải thích có lý rất hay, nhưng
không phải chỗ thật tế.
Pháp
thân cũng xuyên qua lục căn, các căn hiện sắc tướng; kẻ
thấy là tánh thấy, không phải con mắt; thì những căn còn
lại cũng vậy, chứ đừng chấp cái căn đó. Các căn sau khi
chết tan rã biến thành tro đất. Còn tánh nghe tánh thấy…
tồn tại vĩnh viễn, chấp và không chấp vẫn vậy. Nếu chấp
thì không thấy được).
Tịch
nghĩa giải:
Lý
giải cũng giống như rất đúng, nhưng cần phải biết: Nhất
thừa là hư vọng, lục trần là phỉ báng; ngoài hai lỗi này
còn tránh khỏi được vọng và báng hay không?
(Ngài
Trung Phong muốn sạch kiến giải, mặc dù kiến giải cao nhất,
rất có lý; nhưng chướng ngại sự ngộ, cho nên nói ở trên.
Vậy chỉ có ngộ mới được. Nếu chưa ngộ cứ dùng lục
căn đuổi theo lục trần để hiểu biết, thì phải chìm nổi
trong biển khổ sanh tử luân hồi).
Kệ
kết thúc:
Sắc,
thinh, hương, vị, và xúc pháp,
Lục
trần xưa nay hợp nhất thừa.
Tình
chấp lấy bỏ còn chưa dứt,
Lại
nơi đất bằng nổi sóng to.
(Lục
trần là sắc, thinh, hương, vị, và xúc pháp. Từ xưa nay,
lục trần đều hợp với nhất thừa, chỉ cần không trụ.
Nếu có tình chấp tức là có sở trụ. Hoặc lấy, bỏ chưa
dứt, thì lại nơi đất bằng nổi sống to, tức là đều
chướng ngại, nên chư Tổ cần mình ngộ mới được. Nếu
chưa ngộ mà dùng lục căn tìm hiểu là sai lầm).
39.
LỤC TRẦN BẤT Ố, HOÀN ĐỒNG CHÁNH GIÁC
Dịch
Chẳng
cho lục trần là tốt hay xấu, thì đồng như chánh giác.
Lời
khai thị:
“Ông
chủ!” Dạ, dạ, dạ! Có đường chẳng đi, không dây tự
trói. Nói “lục trần là phải thì trái với chân; nói lục
trần chẳng phải, lại thành lỗi lầm lớn”. Lầm thì lầm,
một cọng cỏ hiện thân vàng ròng, đảo ngược cưỡi hạc
bay lên trời.
(Có
vị Thiền sư mỗi ngày tự mình hỏi: “Ông chủ”, rồi
tự mình trả lời: “Dạ, dạ, dạ”. Ông chủ của mình
là bản tâm, không có số lượng, không có hình tướng, đang
dùng mà mình chẳng thấy. Ngài Long Thọ lấy hư không vô sở
hữu để biểu thị tâm mình. Vô sở hữu nghĩa là không có,
như hư không vô sở hữu thì không có hư không; mà thật tế
hư không là tâm mình, tức là do tâm tạo.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: Hư không là bọt nước ở trong biển giác
(Tâm), thế giới ở trong hư không tức là ở trong bọt nước.
Nếu bọt nước bể thì hư không tan nát nên thế giới cũng
tiêu, mình ở trong thế giới cũng mất.
Hư
không có thể đập bể tan nát, nhưng tâm mình tồn tại vĩnh
viễn, là vô sở hữu nhưng tất cả đều nhờ nó mà dùng.
Như mặt trời, mặt trăng, nhà cửa, đất nước… đều ở
trong vô sở hữu này.
Chúng
ta đang nói chuyện và nhìn thấy nhau, ăn cơm, mặc áo…
đều phải nhờ vô sở hữu này, mình mới hiển bày được.
Đang dùng tâm này mà mình không tự biết. Nếu không có vô
sở hữu này thì cuộc sống hàng ngày không thể có.
Tánh
thấy không thay đổi, nhưng chúng ta không thấy tánh thấy.
Tánh thấy là dụng của tâm mình, cũng là thể của tâm mình.
Người ta thường nói tâm là bộ óc. Bộ óc suy nghĩ hiểu
biết, sau này biến thành tro biến thành đất; chứ không phải
chân tâm, chân tâm không chết mất, là vô sở hữu mà mình
đang dùng.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Tự tâm buộc tự tâm”. Tự tâm mình vốn
vô sở hữu, mà mình lại muốn có sở hữu; như tiền, nhà
cửa… đã kiến lập sở hữu thì bị chướng ngại, trói
buộc mình. Cho nên nói: Lục trần chẳng phải là lỗi lầm
lớn, lục trần phải là trái với chơn. Phải và chẳng phải
là tương đối là chướng ngại, sai lầm.
Tham
thiền là phát hiện ông chủ của mình, tức là tự ngộ bản
tâm. Nếu ngộ là một cọng cỏ hiện thân sắc vàng ròng,
cũng như đảo ngược cưỡi hạc bay lên trời, tức là chỉ
cần mình ngộ, thì dụng bản lai diện mục không chỗ nào
và lúc nào thiếu sót).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Chẳng cho lục trần là tốt hay xấu, thì đồng
như chánh giác”. Người nghĩa giải cho rằng: Chẳng có lục
trần, cũng chẳng có chánh giác, đều chỉ là Diệu tâm sáng
tỏ. Gọi là lục trần cũng được, gọi là chánh giác cũng
được. Ông nếu ở nơi Diệu tâm sáng tỏ này, có chỗ không
rõ, thì gọi là chánh giác không rõ, đâu có việc gì khác?
Chỉ cái rõ và không rõ này, khiến Phật, Tổ nhọc lưỡi
mỏi miệng phân ra những điều hơn kém, đều do chẳng tin
tự tâm mà ra.
Lời
nghĩa giải tuy rất đúng, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Xưa
có một Tú Tài, thi cử nhiều lần không đậu, bèn đốt bỏ
bút mực, làm bài thơ “Trở về quê”, chê bai công danh như
đàm dãi. Nhưng đến kỳ thi năm tới, vẫn đi vào trường
thi cũ. Người nói lời này chẳng khác như vậy.
(Ngài
Trung Phong dùng chuyện này để thí dụ, như những người
trên giải thích rất hay, đâu khác gì người Tú Tài này,
tức là nói khác mà lại làm khác).
Kệ
kết thúc:
Chẳng
ghét lục trần đồng chánh giác,
Đường
vào cửa Thiền vẫn xa xôi.
Cần
phải ra tay bắt hư không,
Phật
cùng chúng sanh chôn một hầm.
(Nói:
“Chẳng ghét lục trần đồng chánh giác”, nói thì được;
nếu muốn vào chỗ ngộ, đường vào cửa Thiền thì vẫn
cách xa xôi. Cửa Thiền vẫn xa, huống là chỗ ngộ. Cần phải
ra tay bắt hư không, thì Phật cùng chúng sanh chôn một hầm.
Tại
sao? Vì người ngộ thấy chúng sanh và Phật đều không có.
Tại có chúng sanh là mê, nên có Phật là ngộ. Nếu ngộ rồi
thì hết mê, hết mê thì không có chúng sanh; hết mê thì không
có ngộ, hết mê thì không có Phật. Cho nên, Thiền tông nói:
“Ngộ rồi đồng như chưa ngộ”, nếu còn chấp ngộ vẫn
đồng mê. Vì vậy, Phật và chúng sanh cùng chôn một hầm).
40.
TRÍ GIẢ VÔ VI, NGU NHÂN TỰ PHƯỢC
Dịch
Người
trí tự tại vô tác, kẻ ngu dụng tâm tự trói.
Lời
khai thị:
“Dời
chỗ gồ để lấp chỗ trũng, cắt cái dài nối cái ngắn”,
Trang Tử nói lời này, tự cho là đúng. Nhưng kiểm điểm
lại, chỉ là sự sanh tính toán, so đo phân biệt. Duy có Mộc
thượng tọa (tích trượng) chẳng tốt chẳng xấu, chẳng
đúng chẳng sai, toàn thân chỉ là đen thùi lùi, suốt năm
dựa bên gốc thiền sàng.
“Dời
chỗ gồ để lấp chỗ trũng, cắt cái dài nối cái ngắn”,
Trang Tử nói lời này, tự cho là đúng, nhưng đúng trong tương
đối của phạm vi của ý thức, vì phạm vi của ý thức có
phân biệt tốt xấu, ngắn dài, cao thấp, lớn nhỏ… là pháp
đối đãi nhau.
Vì
có đối đãi nên bị sanh diệt, không tồn tại vĩnh viễn,
không phải chỗ thật tế. Chỗ thật tế không có sanh diệt,
không có pháp đối đãi, mà ý thức của bộ não không thể
đến được. Bởi vậy, ngài Trung Phong dùng cây tích trượng,
để thí dụ cho chỗ thật tế, cũng là bản tâm của chúng
ta.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Người trí tự tại vô tác, kẻ ngu dụng tâm tự
trói”. Người nghĩa giải cho rằng: Trí chẳng tự trí, do
ngộ mà trí; ngu chẳng tự ngu, do mê mà ngu. Người trí ngộ
tự tâm, tâm ngộ vốn vô tác.
(Vì
dụng của tự tâm vốn tự động, không khởi niệm, không
tác ý. Làm tất cả công việc không cần qua sự tác ý. Hiện
nay có một số Phật tử tham thiền, làm việc tay chân khỏi
cần qua bộ óc, làm việc bằng bộ óc mà không cần qua bộ
óc; chứng tỏ cái dùng của tự tâm tự động, bổn tánh
là vô vi; khỏi cần qua tác ý, suy nghĩ).
Tại
người ngu si không biết tự tâm, cho nên không làm chủ được
tự tâm, mới làm người ngu si. Vì tâm mê muội tự mình buộc
mình. Phải biết người ngộ cái vô vi; cái vô vi là bổn
tánh sẵn sàng như thế!
Mặc
dù lực lượng lớn của quỷ thần, không thể biến nó thành
hữu vi. Người mê mới tự buộc mình; dù có muôn ngàn Thánh
hiền, Phật, Bồ Tát có sức lực lớn, cũng không giải thoát
được sự ràng buộc của người đó. Vậy trí huệ và ngu
si đều do tự tâm biến hiện ra, chứ không phải do cái gì
ở ngoài tâm, làm cho ngu si, trí huệ. Tự tâm mê là ngu si,
tự tâm ngộ là trí huệ.
Tịch
nghĩa giải:
Tuy
lời giải trên rất cao siêu, nhưng ngài Trung Phong còn phủ
nhận.
Nếu
nói như thế chỉ thấy cái nhọn của đầu dùi, chứ chẳng
thấy cái vuông của đầu đục. Tức thấy một bên, lọt
vào biên kiến có đối đãi. Tại sao? Cần phải biết vô
vi cũng là tự buộc mình, thì lọt vào tứ cú. Như: Hữu vi
là cú thứ nhất, vô vi là cú thứ nhì, chẳng hữu vi chẳng
vô vi là cú thứ ba, cũng hữu vi cũng vô vi là cú thứ tư.
Như: Bó buộc là cú thứ nhất, giải thoát là cú thứ nhì,
chẳng bó buộc chẳng giải thoát là cú thứ ba, cũng bó buộc
cũng giải thoát là cú thứ tư.
Nếu
mình chấp thật thì lọt vào tứ cú, chứ không phải dụng
tự động của Tự tánh, cho nên cần phải quét.
Quả
thật có hai đường này, tự buộc và vô vi, thì cách Tổ
quá xa rồi. Vậy muốn gần được Tổ sư, chỉ có tham thiền,
đề câu thoại đầu, khởi nghi tình. Chính nghi tình đó không
lọt vào tứ cú, ngoài ra tất cả đều phải lọt vào tứ
cú. Nói đạo lý cao siêu, cũng lọt vào tứ cú, là càng nói
càng xa với Tổ sư.
Kệ
kết thúc:
Kẻ
ngu tự trói cần phải mở,
Người
trí vô vi trói chặt thêm.
Chẳng
dùng dao kiếm để cắt đứt,
Vì
thương đồng tử mất thiên chơn.
(Người
ngu tự bó buộc mình, nhưng cũng cần phải giải thoát. Nếu
không giải thoát bó buộc, thì bó buộc đến chừng nào hết,
như đi vào thai trâu bụng ngựa, không biết bao giờ khỏi.
Mặc dù, tự mình bó buộc mình, nhưng phải cần nhờ người
ta dạy cách giải thoát bó buộc đó.
Người
trí huệ mà trụ nơi vô vi, thì cái vô vi đó trở thành bó
buộc, mà rất lợi hại như “sát nhân”. Chữ “sát nhân”
là hình dung hết sức cùng cực. Nếu có trụ thì lọt vào
tứ cú, không được tự do tự tại. Nếu mình muốn tự do
tự tại thì không trụ ở một nơi nào cả.
Bó
buộc với giải thoát, hữu vi và vô vi đều cắt đứt; cắt
đứt không có tâm tạo tác, vì nó tự động không lọt vào
tứ cú.
Bản
tánh thiên chơn (Tự tánh) ai cũng có, không bị bó buộc, giải
thoát, hữu vi và vô vi làm chướng ngại. Bỗng nhiên, tự
mình tạo sự bó buộc, giải thoát, hữu vi và vô vi, không
được tự do tự tại. Nên Phật, Tổ dùng biết bao nhiêu
lời nói để giải bày, làm cho khô hết nước miếng, vì
để độ chúng sanh.
41.
PHÁP VÔ DỊ PHÁP, VỌNG TỰ ÁI TRƯỚC
Dịch
Pháp
chẳng là pháp, vọng tự chấp trước cho là pháp.
Lời
khai thị:
Toàn
thân là bệnh, toàn thân là thuốc. Tại sao vậy? Bệnh cũng
do tâm mình tạo, thuốc cũng do tâm mình tạo. Đoạn trên có
nói: “Tâm mê là bệnh, tâm ngộ là thuốc”. Sự thật do
vọng tâm chấp trước mà ra. Cho nên, mình có khởi tâm động
niệm sắp đặt thì không được, đã trái ngược thật tế.
Vậy thuốc tức là bệnh, bệnh tức là thuốc. Như ở trong
hư không nhào lộn cũng dễ.
Có
người hỏi Triệu Châu: Thế nào là Phật? Triệu Châu trả
lời: “Tôi ở Thanh Châu có chiếc áo nặng 7 cân” (để
cho mình tham). Chiếc áo 7 cân của Triệu Châu khó mặc lắm.
Người nào mặc được thì thành Phật. Mình mặc được nó
thì phải có công phu thành khối, ngày đêm 24 giờ, nghi tình
không có giây phút nào gián đoạn, gọi là lạc đường tự
tại, thì mới mạêc được chiếc áo này, gặp nhân duyên
liền ngộ.
Nếu
công phu chưa thành khối thì khó mặc, còn phải tham nữa,
chứ không lấy kiến giải mình để cho là…
Tại
sao trả lời chiếc áo nặng 7 cân? Trả lời cái áo với thế
nào là Phật? Đâu có liên quan gì! Nếu lấy tâm để giải
thích thì sai lầm, nghịch với ý Tổ sư. Kỳ thật tự tâm
của mình không có bệnh không có thuốc. Vì mình mê chấp
nên có thuốc. Tất cả vạn tượng thế giới không thể chia
hai được, toàn thể tự tâm là bất nhị.
Có
người hỏi Dương Kỳ: Thế nào là Phật?
Dương
Kỳ trả lời: Con lừa đi cà nhắc.
Nếu
người có công phu thành khối nghe được liền ngộ. Người
công phu chưa thành khối, nghe chẳng hiểu thì phải nghi. Chứ
không lấy ý thức của mình để giải thích, thì nghịch với
ý Tổ sư.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Pháp chẳng là pháp, vọng tự chấp trước cho là
pháp”. Người nghĩa giải cho rằng: Trúc xanh biêng biếc đều
là chơn như,
Hoa
vàng ngào ngạt đều là bát nhã.
Tất
cả thanh sắc trong hư không pháp giới, tìm một tướng đồng
nhau không thể được, tìm một tướng khác nhau cũng không
thể được, lìa 2 lối đồng và khác chẳng thể được.
Nếu
không hiểu thấu cái nghĩa này, thì bệnh chấp thật Phật,
bị Phật làm chướng ngại, chấp pháp thì bị pháp làm chướng
ngại. Phật và pháp còn bị chướng ngại, huống chi những
thứ chấp trước thấp hơn, làm sao khỏi bị chướng ngại?
Tuy
ở trên giải thích rất cao siêu, nhưng ngài Trung Phong còn
phải phủ định.
Tịch
nghĩa giải:
Pháp
nếu có khác thì chấp trước mới có khác, pháp đã chẳng
khác thì chấp trước cũng chẳng khác, vì sao lại nói vọng
tự chấp trước? Chỗ này nhìn Tổ sư không ra, thì những
lời trước đây là hý luận.
Kệ
kết thúc:
Pháp
chẳng có khác, thể vốn đồng,
Thể
đồng đâu có pháp để hoằng dương?
Đạt
Ma chín năm chỉ hướng vách,
Chẳng
biết lấy gì truyền gia phong.
(Pháp
không có khác nhau thì thể đồng, nhưng đồng thể làm sao
mở rộng hóa công (hoằng dương). Tổ Đạt Ma ở chùa Thiếu
Lâm
(Trung Quốc), 9 năm ngồi quay mặt vào vách, chờ Huệ Khả
để truyền pháp. Tất cả Phật quá khứ, hiện tại, vị
lai đều tham thiền ngộ đạo. Vì căn bản của Tổ Sư thiền
là nghi tình. Nghi là nhân, ngộ là quả. Ngộ tức là Phật.
Muốn
thành Phật phải có nhân “nghi” mới ngộ được. Tổ Sư
thiền có câu: “Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ,
bất nghi bất ngộ”, nghĩa là: Nghi lớn thì ngộ lớn, nghi
nhỏ thì ngộ nhỏ, không nghi thì không ngộ. Mình muốn tự
do tự tại thì phải giác ngộ; muốn giác ngộ thì phải tham
thiền. Cho nên, Tổ Sư thiền gọi là chân phong, chân phong
này phải có Phật, Tổ giáo hóa, chúng sanh được giáo hóa.
Vì
vậy không được chấp đồng hay chấp khác; nếu là chấp
đồng thì ai giáo hóa ai? Ai được ai giáo hóa? Nếu là khác
không phải Tự tánh. Vì Tự tánh là bất nhị, tức là không
khác. Nếu chấp đồng chấp khác, thì lọt vào tứ cú. Đồng
là cú thứ nhất, khác là cú thứ nhì, chẳng đồng chẳng
khác là cú thứ ba, cũng đồng cũng khác là cú thứ tư.
Muốn
không lọt vào tứ cú, thì phải làm bằng cách nào? Chỉ có
tham thiền, hỏi câu thoại và nhìn thoại đầu, tức là có
nghi tình thì không lọt vào tứ cú, ấy gọi là chân phong).
42.
TƯƠNG TÂM DỤNG TÂM, KHỞI PHI ĐẠI THỐ
Dịch
Đem
Tâm dụng Tâm, há chẳng phải lầm lớn.
Lời
khai thị:
Tâm,
tâm, tâm, khó tìm khó giải. Ông già Thích Ca 49 năm nói vuông
nói tròn, hoặc tiểu hoặc đại, chú giải chẳng được.
sau cùng cầm cành hoa lên khai thị đại chúng, ngài Ma Ha Ca
Diếp nhìn thấy mỉm cười. Phật ấn chứng cho ngài Ma Ha
Ca Diếp được ngộ. Chính là “đem tâm dụng tâm”, khó
tránh khỏi người ta nói “há chẳng khỏi lầm lớn”. Đến
đây đã là việc bất đắc dĩ, tạm đem cái “chánh pháp
nhãn tạng, niết bàn diệu tâm” để che lấp lỗi sai lầm.
(Tại
sao Phật truyền sang Trung Quốc, được 7000 Tổ sư giác ngộ,
mà Thiền sư Trung Phong nói là việc sai lầm rất lớn? Vì
Ngài muốn cho mình không chấp thật, nên nói ngược lại.
Tại sao? Vì Tự tánh là hoạt bát vạn năng; nếu trụ ở
nơi nào là chướng ngại cái dụng hoạt bát vạn năng Tự
tánh.
Lấy
tay thí dụ cho cái dụng hoạt bát vạn năng Tự tánh. Nếu
tay nắm chặt các pháp có như: bàn, ghế, tách, khăn,… thì
tác dụng của tay không còn, muốn lấy vật khác không được;
nên cần phải buông ra, thì cái dụng của cái tay bình thường
không bị chướng ngại, nắm lấy được mọi thứ.
Tay
đã không nắm vật gì, mà lại tự làm nắm tay, tức là chấp
pháp không, thì tác dụng của tay cũng không sử dụng được,
muốn lấy vật gì không được; muốn sử dụng tay bình thường,
thì cần buông nắm tay ra, mới nắm được mọi thứ.
Ở
nơi tâm mình chấp chặt pháp có nào, như: Buồn, vui, yêu,
ghét,… mà không buông, tức là có sở trụ, thì sức dụng
của Tự tánh không còn hoạt bát vạn năng. Muốn có hoạt
bát vạn năng của Tự tánh hiện ra, cần phải tự tâm không
trụ một pháp nào, như: Buồn, vui, yêu, ghét,…
Nếu
ở nơi Tự tâm không còn trụ pháp có nào, mà trở lại trụ
pháp không, tức là trong tâm chẳng có niệm gì, thì dụng
của Tự tánh không còn hoạt bát vạn năng nữa. Tức là sự
linh hoạt của tự tánh không rộng rãi cùng khắp không gian
thời gian.
Cho
nên, trụ ở nơi nào cũng không được, nếu chấp ở nơi
Phật truyền nhánh hoa, trụ nơi đó cũng không được, nếu
có trụ là sai lầm lớn; ở trên có nói: Chấp Phật là bị
Phật làm chướng ngại, chấp pháp là bị pháp làm chướng
ngại, chấp cái gì cũng không được. Vì vậy, kinh Kim Cang
nói: “Ưng vô sở trụ”, tức là giữ cái hoạt bát vạn
năng của Tự tánh, “nhi sanh kỳ tâm” là cái dụng
của Tự tánh.
Mình
phải luôn luôn ở nơi nào không có trụ, thì không lọt vào
tứ cú, cái dụng tự động hoạt bát vạn năng của tự tánh
hiện ra. Nếu có trụ ở bất cứ nơi nào thì bị chướng
ngại. Như mình đề câu thoại đầu, mà nói: “Ta là người
tham thiền, ta là người học đạo, ta phải thành Phật”,
tức là tâm bệnh. Vì mình còn chấp tham thiền, nên bị chướng
ngại gọi là tâm bệnh.
Lời
nghĩa giải:
Người
nghĩa giải cho rằng: Ông muốn thành Phật là đem tâm dụng
tâm, muốn làm Tổ là đem tâm dụng tâm, cho đến giải thoát,
trụ Niết bàn, chứng Bồ đề, dứt phiền não… đều chẳng
ra ngoài đem tâm dụng tâm.
(Lấy
tâm dụng tâm là sai lầm lớn, muốn thành Phật là sai lầm,
muốn làm Tổ cũng sai lầm, muốn giải thoát sanh tử cũng
sai lầm, muốn trụ nơi Niết bàn cũng sai lầm, muốn chứng
Bồ đề và dứt phiền não cũng sai lầm.
Vậy
tại sao sai lầm? Vì có sở trụ tức chấp thật, bị sự
chấp thật làm chướng ngại sức dụng của Tự tánh. Dụng
của Tự tánh là hoạt bát vạn năng, không trụ nơi nào).
Lý
giải trên rất đúng, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Tuy
vậy, ở trên chỉ đúng một nửa. Tại sao vậy? Bản thể
của tâm rộng lớn không có hạn lượng, không có số lượng.
Chữ ma ha của tiếng Ấn Độ, trong kinh Phật siêu việt số
lượng, nếu còn nằm trong số lượng không gọi là lớn được.
Nếu
viết ra con số lớn nhất thì không được; ở sau số đó
thêm số 0, thì đã lớn hơn 10 lần; nếu thêm tiếp theo số
0, lại lớn hơn 10 lần nữa. Cho nên, có số lượng là không
phải lớn nhất.
Bản
thể của tâm siêu việt số lượng; nếu không có hạng lượng,
làm sao diễn tả được! Cho nên Phật nói: “49 năm Ta chưa
từng nói một chữ”, như Tổ sư nói: “Người nào tiếp
xúc thì bị cháy”.
Dẫu
cho ông không muốn làm Phật làm Tổ, cũng không ra khỏi “đem
tâm dụng tâm”, vì muốn là cú thứ nhất, không muốn là
cú thứ nhì, chẳng muốn và chẳng không muốn là cú thứ
ba, cũng muốn và cũng không muốn là cú thứ tư, đều lọt
vào tứ cú.
Muốn
không lọt vào tứ cú, chỉ có khởi lên nghi tình, thì gieo
nhân Phật mới có quả Phật.
Kệ
kết thúc:
Tức
Phật là tâm, tâm là Phật,
Ngay
chỗ thừa nhận đã trái xa.
Ca
Diếp mỉm cười trước niêm hoa,
Vô
sự khi không bày đặt ra.
(“Tức
Phật là tâm, tâm là Phật”. Nếu theo lời nói đó mà chấp
thật, thì trái ngược ý của Tổ sư, tức là “chấp lời
nghịch ý”. Thí dụ của Tổ sư: Có người quăng ra cục
xương, thì con chó đuổi theo cục xương mà cắn; còn con sư
tử hướng vào người quăng cục xương mà cắn. Cục xương
là gì? Là lời nói của Phật của Tổ. Nếu hướng vào lời
của Phật của Tổ mà ngộ, bị mắng là con chó, hướng vào
Tự tánh mà ngộ là con sư tử.
Phật,
Tổ muốn mình làm con sư tử, chứ không muốn mình làm con
chó. Mặc dù, Tổ nói: “Tức Phật tức tâm, tâm là Phật”,
nếu hướng vào lời nói đó để ngộ, chỉ là con chó, tức
là ngộ ở ngoài. Câu nói ấy để cho mình ngộ tự tâm, chứ
không cho chấp lời nói đó để ngộ.
Trong
Thiền tông, từ sơ tổ Ma Ha Ca Diếp cho đến bây giờ, chỉ
có Mã Tổ là Tổ danh tiếng nhất, ở dưới của Mã Tổ có
139 người ngộ đạo, nhiều nhất so với các Tổ khác.
Có
người hỏi Mã Tổ: Tại sao Tổ nói ‘tức tâm tức Phật’?
Mã
Tổ nói: Vì ta gạt con nít cho nó nín khóc.
Người
ấy hỏi: Khóc đã nín rồi làm sao?
Mã
Tổ nói: Chẳng phải tâm chẳng phải Phật.
Phải
hiểu ý Tổ, chứ không phải hiểu trên lời nói; lời nói
là phương tiện để phá chấp của mình, chứ không phải
chấp lời nói đó. Nếu chấp lời nói đó cũng là bệnh chấp.
Cho nên, hướng vào lời nói của Tổ mà nhận lấy là xa với
ý Tổ.
Ma
Ha Ca Diếp nhìn thấy Phật đưa cành hoa, miệng mỉm cười.
Phật ấn chứng cho Ma Ha Ca Diếp ngộ đạo, làm mô phạm cho
người đời sau. Vì Tổ thấy cành hoa, không chấp cành hoa
nên ngộ đạo. Nếu chấp cành hoa thì không ngộ đạo, cũng
không làm mô phạm cho đời sau.
43.
MÊ SANH TỊCH LOẠN, NGỘ VÔ HẢO Ố
Dịch
Mê
sanh tịch lặng và tán loạn, ngộ chẳng tốt, xấu, yêu, ghét.
Lời
khai thị:
Lúc
mê là mê cái ngộ, lúc ngộ là ngộ cái mê; vì mê mới
có ngộ là đối đãi, cũng như con gà với trứng gà. Con gà
sanh ra trứng gà, trứng gà nở ra con gà. Nếu nói con gà có
trước tiên thì không được, nói trứng gà có trước tiên
cũng không được. Vì nó là đối đãi sanh nhau, chứ không
thể cái nào trước.
Mê
với ngộ cũng vậy; lúc mê là mê cái ngộ, lúc ngộ
là ngộ cái mê. Tham thiền thì mê với ngộ đều quên hết,
gọi là đả phá cái xác linh qui (con rùa). Người cho con rùa
là linh và dùng xác để bói. Khi xác linh qui đã phá trừ,
thì mê với ngộ đều quét sạch. Vì có mê có ngộ,
mới nói xác linh qui là linh. Mê với ngộ đã quét sạch rồi,
thì mê với ngộ đặt ở chỗ nào?
Dùng
ngói gạch để gõ cửa, mặc cho ông suy lường; suy lường
khi nào được? Như vậy chỉ có tham thiền, đề lên câu thoại
đầu và khởi nghi tình; sau đó đưa đến ngộ, chứ không
dùng ý thức để suy đoán.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Mê sanh tịch lặng và tán loạn, ngộ chẳng tốt,
xấu, yêu, ghét”. Người nghĩa giải cho rằng: Bản thể chơn
tịch, tất cả chẳng còn. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Vô lậu
chơn tịnh”. Tịnh là sạch đối với dơ; nếu còn cái
sạch thì còn cái dơ để đối đãi, không được gọi là
chơn tịnh; chơn tịnh thì luôn cả cái tịnh cũng quét sạch,
gọi là vô lậu chơn tịnh, là hình dung Tự tánh.
Trong
Tự tánh làm sao dung nạp vật khác được? Nếu chưa ngộ
thì trước mặt, không thấy tịnh, cũng phải thấy loạn;
không thấy động thì phải thấy tịnh. Không biết động
cũng là mê, cái loạn cũng là mê, cái tịnh cũng là mê, cái
tịch cũng là mê. Cho đến thấy mình tức khắc thành Phật
cũng là mê. Hễ thấu rõ được cái tâm mê này, thì ngay đó
giải thoát. Chỗ nào cũng thiên chơn, chỗ nào cũng minh diệu.
Thiên
chơn và minh diệu là biệt danh của Tự tánh. Tất cả kinh
sách của Phật nói chữ “diệu” là bất khả tư nghì,
không lấy ý thức của mình suy nghĩ đến được, không lấy
tâm mình tiếp xúc nó được, gọi là “diệu”.
Chữ
“minh”, nếu có đối đãi năng minh và sở minh, thì không
phải là minh diệu. Tức là cái minh đó không có diệu. Ánh
sáng mặt trời, mặt trăng, đèn… thì có năng có sở. Ánh
sáng mặt trời là năng chiếu, chiếu đến chỗ nào là sở
chiếu. Mặt trăng, đèn cũng vậy.
Còn
cái minh (ánh sáng) của Tự tánh, không có năng sở; nếu có
năng sở không gọi là diệu. Cho nên, cái minh của Tự tánh
không có năng minh và sở minh, gọi là minh diệu, không có
đối đãi, gọi là thiên chơn, nó tự nhiên, cái dụng Tự
tánh tự động, không có tác ý.
Nếu
được như vậy, thì không thấy loạn cũng không thấy tịch.
Hai đầu loạn với tịch đều quét sạch, thì trung đạo không
có kiến lập. Vì 2 đầu không có, nên chính giữa cũng không
thành lập được. Vậy làm sao còn cái thích và chán! Cái
thích và chán làm chướng ngại cho mình, nên Tự tánh không
hiện ra cái dụng. Nếu 2 đầu đều quét sạch, trung đạo
không lập, thì đối đãi thích và chán, làm sao chướng ngại
được!
Đoạn
trên giải thích rất cao siêu, nhưng ngài Trung Phong còn phải
phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Nói
lời này rất gần rồi, nhưng mê từ đâu đến, ngộ từ
đâu khởi? Nếu biết được cái mê, cái ngộ mà đến, thì
không cần trừ mà nó tự hết. Cái mê đã hết, còn cái ngộ
không chỗ đặt để; nếu không ngộ, cứ đem cái mê cái
ngọâ phân biệt khác nhau; phân biệt khác nhau không phải
bất nhị của Tự tánh. Rốt cuộc chỉ tăng kiến bệnh mà
thôi, làm sao đạt đến tự do tự tại cứu cánh giải
thoát được!
Kệ
kết thúc:
Xưa
nay thiên hạ ai từng ngộ?
Không
ngộ làm sao nói có mê?
Bỗng
nhớ Ôn Châu ngài Vĩnh Gia,
Có
gì một đêm ngủ Tào Khê.
(Từ
xưa đến nay có ai từng ngộ đâu? Nếu không có ngộ, làm
sao có mê? Bởi vì ngộ đối với mê, có mê nên mới có ngộ;
như con gà với trứng gà vậy. Nếu không có con gà, thì không
có trứng gà; nếu không có trứng gà, thì không có con gà.
Vì con gà và trứng gà là tương đối, đối đãi sanh ra. Nếu
một thứ không có thì thứ kia cũng không có. Cái mê và cái
ngộ cũng vậy.
Phật
ở trong kinh Lăng Già có thí dụ để giải thích: Cái mê là
sanh tử luân hồi, ngộ là sanh tử luân hồi ngưng, tức là
cứu cánh Niết bàn. Bát Nhã Tâm Kinh có 2 thứ đều quét:
“Vô lão tử, vô lão tử tận”, tức là quét sanh tử luân
hồi và “viễn ly điên đảo” tức là quét cứu cánh Niết
bàn.
Tại
sao? Phật nói trong kinh Lăng Già: “Khi thân mình xoay thì thấy
căn nhà xoay. Căn nhà xoay là dụ cho sanh tử luân hồi. Căn
nhà ngưng xoay dụ cho cứu cánh Niết bàn. Thân xoay là dụ
cho tâm mình hoạt động, ngày đêm thấy có sanh tử luân hồi
rõ ràng”.
Khi
thân xoay tròn hoài thì thấy căn nhà xoay. Muốn căn nhà ngưng
xoay, phải có cách nào? Vọng tâm mình hoạt động thấy có
sanh tử. Như tôi (Duy Lực) hiện nay già, rồi sẽ chết. Tại
sao nói không già không chết? Già chết là do cảm giác sai
lầm sanh ra, như thân xoay có cảm giác sai lầm, thấy có căn
nhà xoay. Vọng tâm mình ngưng hoạt động, thì sanh tử ngưng,
gọi là cứu cánh Niết bàn.
Thân
ngưng xoay thì căn nhà ngưng xoay; căn nhà ngưng xoay là
sai lầm. Tại sao? Căn nhà có xoay hồi nào! Mà nói là ngưng
xoay? Chừng nào căn nhà thật có xoay, mới nói căn nhà ngưng
xoay thì đúng. Căn nhà xoay là do cảm giác sai lầm mà ra, căn
nhà ngưng xoay cũng là do cảm giác sai lầm mà ra. Căn nhà có
xoay và ngưng xoay đâu? Thì cái mê và cái ngộ cũng vậy. Do
cảm giác sai lầm nên có mê ngộ. Nếu biết được thì ai
ngộ? Không có ngộ thì không có mê.
Không
có ngộ, tại sao Lục Tổ muốn Vĩnh Gia ở lại Tào Khê một
đêm để ấn chứng? Cũng là do cảm giác sai lầm mà ra. Cho
nên lời của Phật, Tổ mà chấp thật cũng không được.
Vậy cần phải ngộ mới được.
Nếu
hướng trên lời nói của Phật, Tổ để ngộ, Tổ gọi là
con chó, chứ không phải con sư tử. Phải ngộ vào Tự tánh
gọi là con sư tử; lúc đó không có mê có ngộ. Bây giờ
nói không mê, không ngộ thì còn sớm lắm, chưa được.
44.
NHẤT THIẾT NHỊ BIÊN, LƯƠNG DO CHÂM CHƯỚC
Dịch
Tất
cả nhị biên đối đãi, đều do đo lường suy đoán.
Lời
khai thị:
Mở
miệng nói nhằm, cất bước đạp phải, tất cả đều sẵn
sàng. Bởi vì tự tánh khắp hư không pháp giới; mình mở
miệng thì đụng Tự tánh, động chân cũng đạp nhằm Tự
tánh. Nếu một chỗ không có Tự tánh, thì Tự tánh không
có cùng khắp. Chưa ngộ mà nói đụng nhằm, đạp phải chỉ
ra cho xem? chỗ nào là Tự tánh? Thì chỉ không ra. Chỉ không
ra thì làm sao tin nổi! Không tin thì phải đi hành cước tham
học.
(Đời
xưa không có xe, đi hành cước tham học phải đi bộ, đi đến
đường cùng chẳng có chỗ dừng, lúc đó áo đã rách, đôi
giày cũng lũng. Như xỏ mũi con trâu kéo quày đầu; cái này
hình dung ngộ. Như tham thiền tới cùng cực là công phu thành
khối tức đến đầu sào trăm thước thình lình ngộ. Ngộ
rồi mới tin rằng: Từ xưa đến nay uổng công tìm).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Tất cả nhị biên đối đãi, đều do đo lường
suy đoán”. Có người bày đặt chú giải rằng: Vừa thấy
có loạn liền thấy có tịch, phải biết loạn chẳng tự
loạn, vì tịch nên loạn; tịch chẳng tự tịch, vì loạn
nên tịch. Do đó các pháp lăng xăng, mới có sự đối đãi
nhau sanh khởi. Nói hai chữ “châm chước” nghĩa giống như
hai chữ “giản trạch” chưa tiêu, thì đối với nhị biên
tịch loạn… kết thành niệm “châm chước”. Nếu chưa
trừ niệm này thì tất cả chẳng được bất nhị.
Nói
vậy rất đúng, nhưng ngài Trung Phong còn phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Cái
niệm “châm chước” là chướng ngại, sanh ra nhị biên,
tức là biên kiến ở trong năm ác kiến. Vậy có phương tiện
nào để khiển trừ cái niệm “châm chước” đó? Nếu không
biết cái phương tiện này, dầu cho nói lý cao siêu nhất,
cũng là do châm chước mà sanh, thì lọt vào nhị biên, lọt
vào tứ cú.
Vậy
phương tiện duy nhất đó là hỏi câu thoại đầu, khởi nghi
tình, mới quét sạch nhị biên tương đối.
Kệ
kết thúc:
Nhị
biên vốn chẳng cần châm chước,
Một
đạo bình đẳng cũng vọng truyền.
Gặp
việc chưa thoát ngoài ngôn ngữ,
Kiến
đồng Phật Tổ cũng xót thương.
(Tất
cả nhị biên không cần châm chước, quét sạch rồi gọi
là một đạo bình đẳng, thì bản thể Tự tánh hiện ra.
Lời nói cũng chưa có siêu việt ngôn ngữ, văn tự thuộc
về tri kiến. Dù tri kiến cao siêu bằng Phật, Tổ cũng không
đúng. Nếu chấp vào đó, nên đáng xót thương!
Tự
tánh là do tâm mình ngộ, như uống nước nóng lạnh tự biết;
nói ra thành tri kiến. Cho nên, Phật Thích Ca sau khi ngộ, thuyết
pháp 49 năm mà nói rằng: “Chưa từng nói một chữ ”. Lịch
đại Tổ sư ngộ cũng không nói được; có nói ra cũng là
văn tự lời nói, với bản thể Tự tánh thì rất khác xa.
Vậy
muốn thấy Tự tánh phải tham thiền, tự ngộ; nếu học theo
lời Phật, Tổ để nghiên cứu sâu xa cũng vô ích, gọi là
sở tri chướng, chướng ngại sự ngộ của mình.
