27
- CẢNH DO NĂNG CẢNH, NĂNG DO CẢNH NĂNG
Dịch
Cảnh
do năng thành cảnh, năng do cảnh thành năng.
Lời
khai thị:
Đại
tạng kinh điển là giấy vụn năm xưa (bao nhiêu kinh điển
đều không dùng được), 1700 công án là dây dưa mục nát
(Cảnh Đức Truyền Đăng Lục của Thiền tông có ghi 1700 công
án, đối với thật tế thì vô dụng), cũng như lá vàng gạt
con nít nín khóc (lá cây màu vàng, dối với con nít là vàng,
để con nít nín khóc; như tất cả kinh điển, công án lịch
sử Thiền tông, giống như lá vàng để gạt con nít nín khóc).
Khác
chi đốt ngọn đèn dưới ánh sáng mặt trời! (Dưới ánh
sáng mặt trời đốt đèn có nhằm gì!) Dẹp qua lớp này,
rồi lại có một lớp nữa, có mấy ông Tăng được thoát
khỏi những sự lừa gạt này? (Tất cả những vị Tăng đâu
có thoát những tri kiến, tìm hiểu nghiên cứu về Phật học).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Cảnh do năng thành cảnh, năng do cảnh thành năng”.
Có người y văn giải nghĩa rằng: Cảnh chẳng tự cảnh, vì
năng nên cảnh; năng chẳng tự năng, vì cảnh nên năng; năng
nhờ cảnh mà sanh, cảnh nhờ năng mà khởi. Phải biết ngoài
tâm chẳng pháp, sanh mà bất sanh; ngoài pháp chẳng tâm, khởi
mà chẳng khởi. Tổ sư đến đây đem nhất tâm vạn pháp
vò thành viên kẹo, chỉ muốn y vui vẻ nuốt vào.
(Nghĩa
giải như vậy là cao tột lắm rồi, ý cao nhưng chưa đến
thật tế, nên ngài Trung Phong phủ định).
Tịch
nghĩa giải:
Hỏi
ngược lại họ: “Ông đã đã từng nuốt được hay chưa?
Nếu chưa, thì cả thế giới có ai nuốt được chăng? E rằng
sau này viên sắt lửa hồng, chắc có phần cho ông! (Bởi vì
không giải thoát, phải chịu viên sắt lửa hồng của Diêm
La Vương, cho nên nói hay chẳng có dùng được. Vậy cần có
sự thật tế).
Kệ
kết thúc:
Vì
năng sanh sở, sở sanh năng,
Năng
sở đều quên, sanh “bất sanh”.
Ốc
trai hút cạn nước biển cả,
Trên
nhánh san hô nửa đêm trăng.
(Hai
câu cuối, việc đó không có thể xảy ra. Lời nói không có
thật tế, nên cần phải thật tế. Vì vậy Thiền tông chú
trọng thật tế, chứ không chú trọng hiểu biết và lời
nói).
28
- DỤC TRI LƯỠNG ĐOẠN, NGUYÊN THỊ NHẤT KHÔNG
Dịch
Muốn
biết “hai đoạn”, vốn là “một không”.
Lời
khai thị:
Không
mà chẳng không, cây gậy sừng thỏ chống bể núi bạc vách
sắt (thỏ không có sừng, mà nói cây gậy sừng thỏ, điều
đó không thể có); chẳng không mà không, phất trần lông
rùa, mở ra gió mát trăng thanh (rùa không có lông, làm gì có
phất trần! Điều đó không thể xảy ra).
Động
Sơn “ba căn mè”, dính da dính xương (có người hỏi Động
Sơn: Thế nào là Phật? Động Sơn đáp: Ba căn mè).
Vân
Môn “cục cứt khô”, kẹt vỏ kẹt ruột (có người hỏi
Vân Môn: Thế nào là Phật? Vân Môn đáp: “Cục cứt khô”.
Những câu trả lời của Tổ sư, mình không thể hiểu được).
Trước
mặt Nạp Tăng thả qua không được, dưới cửa Tổ sư tái
phạm khó tha (muốn được Tổ ấn chứng không phải dễ,
phải qua sự khám xét, thiệt ngộ mới được. Nếu người
chưa ngộ, không cho qua cửa ải, không có ấn chứng).
Thường
khiến trong bụng như kim chích, quăng xuống trong biển rộng
sóng to (tham thiền miên mật, khẩn thiết như cháy đầu, tất
cả những tri giải đều quăng ra sạch hết).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Muốn biết hai đoạn, vốn là một không”. Người
nghĩa giải cho rằng: Nói “hai đoạn” là chỉ tâm pháp
của đoạn trên. Nói “một không” chẳng phải là cái ngoan
không của thái hư (hư không chẳng có ý thức), cũng chẳng
phải cái “không” đoạn diệt của Tiểu thừa (chấp cái
không này chẳng có gì hết).
Là
cái chơn không vô tướng của Linh giác. Không này là nguồn
gốc của chư Phật, là mẹ của vạn linh. Chẳng tiếng chẳng
mùi, rõ ràng ở trước các vật. Chẳng hữu chẳng vô, hiển
bày bên ngoài lục trần (không này là tánh không của tâm
mình, không phải cái không đoạn diệt của Tiểu thừa, không
phải cái ngoan không chẳng có gì, cái không này là cái linh
giác. Mặc dù, không có âm thanh, mùi vị, nhưng rõ ràng ở
trong các vật, đều có cái tánh không này).
Lời
nghĩa giải trên, lý thì cao siêu, như chưa phải thật tế.
Tịch
nghĩa giải:
Đã
là không thì chẳng nên có biết, đã có biết thì chẳng nên
gọi là không. Nếu chưa từng nắm tay với Tổ sư (chứng
ngộ), đích thân đến biển giác Chơn không. Nếu chưa ngộ
thì nói chi ngôn ngữ này nọ! (Đều là lời nói, chẳng có
dính dáng gì hết).
Kệ
kết thúc :
Đào
được kho tàng trong chiêm bao,
Lại
cưỡi loan phụng lên bảo đài.
Suốt
đêm vui mừng không kể xiết,
Sáng
ngày tỉnh dậy dạ ngẩn ngơ.
(Mặc
dù, đào được kho tàng và cưỡi chim loan phụng trong chiêm
bao, nhưng vẫn ở trong chiêm bao, khi thức dậy thì không còn).
29
- NHẤT KHÔNG ĐỒNG LƯỠNG, TỀ HÀM VẠN TƯỢNG
Dịch
Nói
một cái không đã đồng với hai, một và hai cũng bao hàm
vạn tượng.
Lời
khai thị:
Một
lời nói vô tư, muôn người đồng ngưỡng mộ, so bằng vai
Tổ, cơ xảo qua bàn tay, Đại Điên đánh Thủ Tọa, gom tuyết
để chôn vàng (một lời nói không có riêng tư, nhưng so bằng
vai Tổ. Cơ xảo qua bàn tay thì lại khác. Như Đại Điên đánh
Thủ Tọa, không hiện ra ý gì, gom tuyết để chôn vàng làm
sao chôn được!).
Hưng
Hóa phạt Duy Na, ra tiếng để ngưng âm thanh (làm sao ngưng
âm thanh được! Lời nói của Tổ không có nghĩa lý gì).
Duy
có Thạch Cảm Đương quanh năm suốt tháng, ló đầu ra trước
trăm ngàn chúng, xưa nay chẳng ai biết tán thưởng (ở Việt
Nam không thấy. Bên Trung Quốc, người ta có để bia đá Thái
Sơn Thạch Cảm Đương để trị tà, nhưng đâu có ai để
ý tới).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Nói một cái không đã đồng với hai, một và hai
cũng bao hàm vạn tượng”. Người nghĩa giải cho rằng: Tâm
chẳng khác với pháp, là một không đồng hai; pháp chẳng
khác với tâm, là cùng hàm vạn tượng. Sở dĩ người xưa
nói: “Thấy sắc liền thấy tâm, chẳng sắc, tâm chẳng hiện”,
lại trong kinh nói “Sum la vạn tượng, do một pháp ấn định”.
Nên Tổ sư sáng tỏ nơi đây.
(Pháp
là tâm, sum la vạn tượng là vũ trụ vạn vật. Nếu không
có tâm, ai biết vũ trụ vạn vật? Vì có một tâm mới hiện
ra vũ trụ vạn vật. Nếu không có tâm thì không hiện ra vũ
trụ vạn vật. Không có vạn vật thì tâm cũng không hiện.
Vì tâm không có hình thể, do có vạn vật, nên nói có tâm
biết. Tâm biết cho là tôi biết; tôi biết đâu phải là thân
thể này. Nếu thân thể này chết thì đâu có biết! Vậy
cái biết đó là tâm.
Tâm
là cái gì? Chỉ là tên gọi, không có hình thể, mình chỉ
biết tâm là tâm. Tâm có tướng mạo gì? Không biết tự nơi
mình, mà lại muốn biết ở bên ngoài! Tức là mâu thuẫn.
Như
tâm biết cái tách này, vì cái tách có hình tướng. Tâm tự
không biết mình. Vậy cái gì để biết cái tách này? Phải
mâu thuẫn không! Vì có cái tách này, mới nói tâm biết cái
tách. Cái tách là cảnh sanh ra tâm biết; Tâm biết mới biết
cái tách là cảnh. Nhưng các pháp do tâm ấn định cái này
cái kia… như ấn định cái này là cái tách, cái bình…
nên Tổ sư sáng tỏ nơi này. Nói có lý, nhưng thật tế thì
mâu thuẫn, nên ngài Trung Phong phủ định).
Tịch
nghĩa giải:
Giảng
kinh thì cho ngươi giảng, nhưng muốn thấy ý Tổ sư, khác
gì đi Trịnh Châu ra cửa Tào Châu (Trịnh châu và Tào Châu
cách nhau rất xa).
Kệ
kết thúc:
Một
chẳng phải chiếc, hai chẳng đôi,
Trăng
lạnh đêm khuya, bóng in sông.
Ánh
sáng nuốt hết cả vũ trụ,
Còn
dời bóng mai lên cửa song.
(Theo
lẽ thường, một là chiếc, hai là đôi. Nhưng thật tế thì
chẳng phải vậy.
Ở
trên trời có một mặt trăng, thì bóng mặt trăng chỉ một.
Nhưng đem để mười thau nước, thì thấy mười bóng mặt
trăng; đem một ngàn thau nước, thì thấy một ngàn bóng mặt
trăng… vậy một đâu phải là chiếc, hai cũng không phải
là đôi. Mặt trăng ở trên không, bóng in dưới sông; nước
bao nhiêu, thì mặt trăng hiện bấy nhiêu. Chứ không phải
một mặt trăng hiện một cái bóng. Ánh sáng mặt trăng khắp
cả vũ trụ, bóng mai dời lên cửa song. Mặt trăng không có
biến đổi, như thấy cảnh có biến đổi).
Hỏi:
Thế
nào biệt nghiệp và cộng nghiệp?
Đáp:
Kinh
tế của nước Mỹ bị sụt, thì tất cả người dân Mỹ
chịu ảnh hưởng cộng nghiệp này. Có người trực tiếp
chịu thất nghiệp; người chưa thất nghiệp lo sợ, cuộc
sống cũng khó khăn; đáng lẽ làm 8 giờ, họ bắt làm 9 giờ,
mà không có tăng lương… việc này là cộng nghiệp cùng chung
trong kinh tế nước Mỹ.
Rồi
mỗi người mỗi khác, có người bị sa thải, có người chưa
bị sa thải thì tốt hơn, gọi là biệt nghiệp. Ở bất cứ
nước nào cũng có biệt nghiệp và cộng nghiệp, vì mình đã
tạo ở quá khứ, nên bây giờ phải chịu cái nghiệp này.
Hỏi:
Trong
một gia đình, người cha đi ăn cướp, người con thì không.
Như vậy người con có bị ảnh hưởng cộng nghiệp này không?
Đáp:
Người
con đã sanh trong gia đình người cha đi ăn cướp. Như vậy
người con kiếp trước gieo nghiệp không tốt.
Có
câu chuyện:
Nhà
vua có công chúa; công chúa nói với cha rằng: “Những gì
con có đều là của kiếp trước con tạo ra”. Nhà vua nghe
nói vậy thì giận lắm. Bèn mới gả công chúa cho một người
thật nghèo, rồi đuổi đi chỗ hoang vu không nhà cửa.
Hai
vợ chồng công chúa chọn đất, cất lên một túp lều che
nắng mưa. Thật may, vợ chồng công chúa gặp một hũ vàng
lớn, rồi xây cất nhà cửa to lớn, mua sắm ruộng vườn
thật nhiều, phương tiện sinh sống dư dả.
Theo
chuyện này, kiếp trước công chúa đã tạo nhiều phước,
cho nên kiếp này, sinh bất nơi đâu, cũng có phước báo giàu
sang. Vì vậy nói: Nhân nào quả nấy.
30
- BẤT KIẾN TINH THÔ, NINH HỮU THIÊN ĐẢNG
Dịch
Chẳng
thấy tinh tế thô sơ, đâu có thiên lệch một bên.
Lời
khai thị:
Thiền
gọi là quan ải (sơ quan, trùng quan, mạc hậu lao quan. Phá
được sơ quan là ra khỏi sanh tử luân hồi, không bị Diêm
La Vương bắt. Phá được trùng quan thì hơn quả A la hán.
Phá được mạc hậu lao quan là đến chỗ giác ngộ hoàn toàn,
thì diệu dụng cùng khắp không gian thời gian).
Giáo
môn gọi là cương yếu, cứu vớt chúng sanh trong tam giới
(tam giới là dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Dục giới
là có nam nữ dâm dục. Sắc giới là không có nam nữ dâm
dục. Vô sắc giới là không có hình sắc, chỉ sống trong
tưởng thức).
Thi
đậu “Tâm không” là tiêu biểu, đụng nhằm thằng không
ý chí (Tự tánh), móc xiền xích mở thắt kết, muôn mắt
nhìn thẳng, muốn mở mà chẳng mở (hàng ngày con người sống
trong nhiều niệm suy nghĩ, sanh diệt luân phiên, do đó không
được giải thoát. Muốn được giải thoát, phải tham thiền
phát nghi tình, chấm dứt tất cả biết, rồi chấm dứt luôn
cái không biết, không hiểu của nghi tình).
Trăm
người giơ tay, muốn tát mà chẳng tát, đạo giả vô tâm
vốn như thế, đâu phải khoe tài trước mặt mọi người
(người kiến tánh triệt để là giải thoát hoàn toàn, hiện
ra cái dụng cùng khắp không gian thời gian, không còn tâm chấp
trước; làm việc gì cũng không dính mắc, nghĩa là ăn cơm
cứ ăn cơm, uống nước cứ uống nước, không bị cảnh ràng
buộc. Diệu dụng vốn như thế! Đâu có khoe tài, nên nói
chẳng thấy có tinh tế và thô sơ, thì không lọt vào một
bên).
Lời
nghĩa giải:
Người
nghĩa giải cho rằng: Tâm và pháp đã không, năng và sở đều
bặt (biết tốt, biết vui, biết buồn, gọi là tâm; còn
yêu ghét, đúng sai… gọi là pháp. Tâm là năng biết, pháp
là sở biết; Tâm là năng suy nghĩ, pháp là sở suy nghĩ. Nếu
tâm không năng suy nghĩ pháp thì không có năng. Không có năng
thì không có sở, làm sao có yêu ghét đúng sai?).
Thì
chúng sanh, chư Phật đồng bản thể, mê ngộ chẳng khác (chúng
sanh là mê, chư Phật là ngộ, mà chúng sanh và chư Phật cùng
một bản thể. Vậy mê ngộ cũng không có khác).
Nên
dẫn chứng lời “Tức Tâm Minh” (là ngưng nghỉ cái tâm)
nói: “Đâu quí đâu tiện, đâu nhục đâu vinh, đâu đắc
đâu thất, đâu trọng đâu khinh, một đạo hư tịch, vạn
vật bình đẳng” (không có tương đối, tốt xấu, đúng
sai).
Tịch
nghĩa giải:
Nói
chứng cũng giống như được chứng, nhưng sự chứng quá giống
nhau (nếu mà giống nhau thì đã là nhị rồi, vì Tự tánh
bất nhị. Như cái hoa này, phải có hai cái mới nói giống
nhau), lại trở thành không giống nhau rồi (không phải thật
tế). Vậy chỗ nào không giống nhau? Thử xác định xem! (Tự
Tánh bất nhị, không có hình tướng không có số lượng,
lời nói không đến với thật tế. Cho nên tham thiền đích
thân mới thấy được).
Kệ
kết thúc:
Hét
ra tiếng sét khó bịt tai,
Tò
vò vác biển vào mi muỗi.
Heo
bùn chó ghẻ cùng mở mắt,
Tam
thế Như Lai trọn chẳng hay.
(Hét
ra tiếng sét khó bịt tai, nếu bịt tai vẫn còn nghe.
Con
tò vò thì nhỏ, biển thì quá lớn, làm sao vác để vào mi
muỗi! Chuyện này không có thể được. Vì lời
nói không có thật tế.
Hai
câu cuối diễn tả lời nói và suy nghĩ của bộ óc, không
đúng với thật tế, không có lợi ích).
31
- ĐẠI ĐẠO THỂ KHOAN, VÔ DỊ VÔ NAN
Dịch
Bản
thể Đại Đạo rộng khắp hư không, chẳng có khó dễ để
đối đãi.
Lời
khai thị:
Trộm
bát vào tay, biết nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải
phướn động” (câu này là của Lục Tổ, Ngài ngộ đạo
mới biết tất cả đều do tâm tạo, tự tâm cùng khắp hư
không. Người ta không tin tự tâm; như nhà khoa học đã biết
mặt trăng xoay xung quanh quả đất, quả đất xoay xung quanh
mặt trời, mặt trời xoay xung quanh ngân hà, nó xoay hoài ngày
đêm không ngừng.
Khoa
học bắn vệ tinh vào quỹ đạo, nó ngày đêm xoay hoài; cho
đến trái bom có bao nhiêu tỷ nguyên tử đang xoay; cái bàn
này do các nguyên tử hợp thành, ở nguyên tử có trung tử,
xung quanh có nhiều điện tử, ngày đêm nó đang xoay, dùng
kính hiển vi mới thấy được. Vậy sức xoay đó từ đâu
mà ra?
Tại
sao từ hồi nào nó xoay không có bắt đầu và không có
cuối cùng? Không biết cho là tự nhiên. Phật nói không phải
tự nhiên, cũng không phải nhân duyên, mà là do tâm tạo. Lục
Tổ nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động,
mà tâm của các ông động. Tâm của các ông động, nên phướn
động, Tâm của các ông động, nên gió động”. Nhưng tâm
không thấy, mà thấy gió động, phướn động; sự thật,
có sức của tâm, thì gió và phướn mới động.
Thân
này từ trẻ đến già, luân hồi sanh tử từ đời này sang
đời khác, đều do sức của tâm tạo ra. Nhưng người ta không
tin, vì không thấy. Chỗ thật tế không thể dùng tai mắt
được. thời gian ngày đêm có 24 giờ, 1giờ có 60 phút, 1phút
có 60 giây, 1giây nhà Phật chia bằng có 60 sát na. 1 sát na
rất nhanh, nhưng bộ óc cũng có thể tưởng tượng được.
Chúng
ta đang sống trong thời gian này. Nếu đem chia 1sát na làm 60
A, 1 A chia làm 60 B, 1 B chia làm 60 C, khi vừa nói ra, không biết
bao nhiêu C rồi. Nếu đem chia 30 lần, 300 lần… con số vẫn
còn, người toán học thì biết, nhưng thời gian thật tế
mà bộ óc biết không nổi. Thời gian trước mắt, biết không
nổi, mà muốn biết cái gì ở ngoài nữa!
Con
sâu dép cỏ còn gọi là con khoảnh, 1 ngày đêm nó tự tách
ra làm 2 con, ngày đêm nữa nó tách ra 4 con, cứ như thế tăng
dần lên mãi, cho đến ngày 90, nó thành 1 mét khối, trải
130 ngày nó bằng 1 quả đất, thêm 1 ngày nữa thì bằng 2
quả đất.
Ngược
lại, nếu đem 1 quả đất chia làm 2 cho đến 130, thì khôi
phục lại con sâu dép cỏ; Theo toán học chia con sâu ra 130,
thì thịt của nó có còn không? Mà thấy con số vẫn còn.
Bộ óc biết được không? Bộ óc chỉ biết được con số,
chứ thịt con sâu không biết nổi.
Nếu
xẻ thêm 100 lần 1000 lần… thấy con số vẫn còn, nhưng thật
tế con sâu, bộ óc không biết được. Tức là đem vật
chất ở trong không gian, thời gian trước mắt phân tích cho
thật nhỏ, bộ óc không thể hiểu nổi, huống là tâm mình
không có hình tướng số lượng, bộ óc không có tư cách
để biết.
Như
thế, không phải là không có, cái dụng thì rõ ràng. Người
chứng quả đều biết được, biết được không phải bộ
óc biết, mà nó tự biết, nó tự hiện lên cái biết, gọi
là chánh biến tri. Chánh biến tri là cái biết cùng khắp không
gian thời gian, không chết mất, cái biết đó chân thật rất
có giá trị.
Cái
chân thật có giá trị không màng đến, mà cứ lo cho cái thân,
sau này biến thành tro thành đất, lo mãi. Cho nên, Phật nói:
Chúng sanh điên đảo, rất thương xót!).
Ngoài
y kim lang còn có vật gì khác? Xô ngã cây nêu trước cửa,
hai ông này vô sự sanh sự, dối người dối mình (Phật Thích
Ca đem chiếc áo cà sa cho Ma Ha Ca Diếp. Ma Ha Ca Diếp hiện
đang nhập thất ở núi Kê túc [Trung Quốc], đợi Phật Di
Lặc ra đời, trợ duyên Phật Di Lặc hoằng pháp.
A Nan
hỏi Ma Ha Ca Diếp: Phật truyền y kim lang, còn có truyền cái
gì nữa không? Ma Ha Ca Diếp xô ngã cây nêu trước cửa.
Bản
tâm không có hình tướng, không có số lượng; bộ óc nhận
biết không được, làm sao có thể nói! Như con sâu dép cỏ
có hình tướng, có con số, phân tích nhỏ mà mình không biết;
có hỏi cũng mất công!).
Bổn
lai không kẽ hở, xuyên tạc không dính dáng (đã không có
kẽ hở, mà lại chen vô, cứ tạo ra bậy bạ, không có dính
dáng gì! Sau này, thân biến thành tro thành đất, vậy không
chịu ngưng nghỉ).
Có
hiểu chăng? (Khó hiểu lắm). Chỉ biết một lần gặp nhau
một lần già (như năm ngoái gặp nhau thấy già, năm nay gặp
lại thấy già thêm), một lần gió thổi một lần lạnh (trời
lạnh, gió thổi qua thấy lạnh thêm. Chỉ biết là như vậy).
Hai
ông này vô sự sanh sự, dối người dối mình, là ám chỉ
Ma Ha Ca Diếp và Lục Tổ. Kỳ thật bản tâm đâu có cái gì
để nói, mà nói là tâm động, cây nêu ngã, nếu có nói cũng
như không. Như người ta gọi tôi là Duy Lực, tôi cũng nhìn
nhận là Duy Lực. Khen Duy Lực thì tôi vui, chê Duy Lực thì
tôi buồn; nhưng Duy Lực đâu phải tôi! Duy Lực chỉ là tên
mà thôi. Nhưng thật tế tôi không phải Duy Lực; nếu tôi
nói, tôi không phải Duy Lực, thì người ta nói tôi khùng.
Bây
giờ tôi họ La, nhưng ở thời xuân thu có nước tên là La.
Trong nước Trung Quốc có trên 100 nước nhỏ; khi nước La
bị mất, thì người dân lấy tên nước làm họ mình. Như
vậy trước chưa mất nước, thì những người đó đâu phải
họ La.
Phật
Thích Ca là họ Thích, nhưng trong kinh nói là giòng họ Cam Giá,
là con cháu của vua Cam Giá. Vậy Cam Giá đâu phải họ Thích.
Nói đến thật tế thì không biết được, nên người ta không
tin. Người ta chỉ tin cái giả, không tin cái thật.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Bản thể Đại Đạo rộng khắp hư không, chẳng
có khó dễ để đối đãi”. Người nghĩa giải cho rằng:
Việc này vốn bao trùm nhật nguyệt hư không, Phật Tổ chẳng
biết tên (Phật Thích Ca không biết mình là gì? Đâu phải
là Thích Ca! Trong kinh điển ghi là dòng họ của vua Cam Giá,
trước Cam Giá không phải là Cam Giá, chính Phật tự mình
không biết được).
Đại
địa chở không nổi, như trời che khắp, như đất nâng khắp,
mỗi mỗi viên mãn, người người đầy đủ, đâu còn khó
dễ để nói! (Sự thật tâm mình khắp không gian khắp thời
gian. Đã cùng khắp thì không có sự tương đối để nói
khó và dễ).
Đây
nói khó dễ là tại người chẳng tại pháp, hễ tin tự tâm
là Phật thì dễ, chẳng tin tự tâm là Phật thì khó (kỳ
thật, tin tự tâm và không tin tự tâm cũng như vậy).
Tịch
nghĩa giải:
Theo
sự thấy nghe của tôi lại khác; hễ tin tự tâm là Phật
thì khó, chẳng tin tự tâm là Phật thì dễ; vậy cái lý cao
tột ở chỗ nào? (Sự thật tin với không tin thì không dính
dáng, tin thì tâm cũng vậy, không tin thì tâm cũng vậy. Không
tin thì không có tu, việc khó dễ có liên quan gì! Nếu tin
để tu đến kiến tánh thì khó. Nói ngược lại cũng được,
thật sự không phải khó dễ).
Lời
này hãy gác lại, cũng như Bàng cư sĩ nói: “Khó khó, mười
giạ hạt mè bày ra trên cây” (hạt mè nhỏ xíu, làm sao mười
giạ bày trên cây được!) Bà Bàng nói: “Dễ dễ, ý Tổ
sư trên đầu trăm cỏ” (nói là khác, ý là khác, cần hiểu
ý của Tổ sư trăm cỏ thì dễ). Linh Chiếu nói: “Chẳng
khó cũng chẳng dễ, đói thì ăn, mệt thì ngủ” (đâu có
khó dễ, đói thì ăn cơm, mệt thì ngủ).
(Gia
đình họ Bàng có 4 người: Ông Bàng, bà Bàng, con gái Linh
Chiếu và con trai đều kiến tánh.
Một
hôm ông Bàng nói: “Hôm nay mặt trời vừa đứng bóng tôi
ra đi”, rồi sai con gái ra coi mặt trời đứng bóng chưa?
Con
gái nói: “Mặt trời bị nhật thực”.
Ông
Bàng nghe rời ghế ngồi ra sân để xem, thì trong nhà, con gái
lên ghế của cha mà ngồi tịch.
Ông
Bàng Uẩn chậm lại một tuần lễ cho con gái đi trước. Trước
khi tịch Tỉnh Trưởng đến thăm và hỏi: Ông là người kiến
tánh cũng sắp đi, có để cái gì cho người sau này, theo đó
mà tu hành?
Ông
Bàng nói: “Cái gì mình có nên phải bỏ ra, cái gì mình không
có đừng đem vào”.
Việc
này ông đã thực hành rồi, ông là người tỷ phú, tất cả
gia tài đều bỏ xuống biển hết, rồi tự mình đan rổ,
sai con gái ra chợ bán, để mua gạo ăn.
Người
ta nói: Gia tài đó, sao không cho những người nghèo?
Ông
Bàng nói: Tôi đã bị hại, mà còn cho người khác sao!
Người
ta nói: Sao không dành lại một chút mà sanh sống để tu?
Ông
Bàng nói: Tôi đã nói bị hại rồi, còn hại tiếp nữa sao!
Bà
Bàng nói với con trai đang cuốc ruộng: “Các người cứ dành
đi”. Con trai nghe nói, rồi chống càm trên đầu cán cuốc
cũng tịch luôn.
Bà
Bàng nói: “Các người, người nào cũng như người nấy,
cứ dành đi, tôi cũng đi”, rồi tự bà vô trong núi mất
tích).
Nếu
phân biệt được 3 cái lưỡi hay dở của họ, thì sự khó
dễ có thể lãnh hội (nếu mà phân biệt, thì ngay đó khó
dễ rồi, chưa phải là lãnh hội. Tâm đâu có khó dễ, khó
dễ tại phân biệt mới có).
Nếu
không, dẫu cho ngươi hiểu theo lời nói, nói “chẳng dễ
chẳng khó”, đâu khác gì con lừa mù muốn đuổi kịp theo
bầy, vừa bước chân đã không có đường để đi rồi (con
lừa mù đã không thấy đường, làm sao đuổi kịp bầy được!).
Kệ
kết thúc :
Bày
mè trên cây mệt thì ngủ,
Nói
“đầu trăm cỏ” của ý Tổ.
Ba
người đều là không có mắt,
Mò
rào mò vách lúc nào thôi.
(Bất
cứ nói cái gì cũng như mù, đoán mò. Tâm của mình đâu có
nghĩa lý; nếu nói ra nghĩa lý, giống như người mù).
32
- TIỂU KIẾN HỒ NGHI, CHUYỂN CẤP CHUYỂN TRÌ
Dịch
Sự
thấy nhỏ hẹp có chút hồ nghi, muốn gấp lại càng trễ.
Lời
khai thị:
Chuyển
Tự kỷ vào sơn hà, trâu sắt chìm đầm to (trong Thiền tông
có câu: “Chuyển tất cả vào tự kỷ, chuyển tự kỷ vào
vạn vật”. Nghĩa là bất nhị của bản tâm khắp hư không,
thì tất cả núi sông đất đai, bất cứ cái gì, đều ở
trong hư không, mà hư không là cái tâm mình (tự kỷ), chuyển
như vậy, thì trâu sắt ở trong đầm to).
Chuyển
sơn hà vào tự kỷ, voi già lún bùn sâu (nghĩa là khỏi cần
chuyển, tất cả đều ở trong hư không hiển bày ra cái dụng;
hư không chẳng có nghĩa lý, dùng phải nhờ cái không; nếu
không có cái không thì không thể dùng.
Như
cái tách bít hết thì không thể đựng nước, nhà không có
cái không thì không ở được. Mặt trăng, mặt trời, cây
cối nhà cửa… tất cả đều nhờ cái không; cho đến chúng
ta ngồi đây nói chuyện, cũng phải nhờ cái không. Nếu không
có cái không, làm sao ngồi đây nói chuyện! Nhờ cái không
hiện ra cái dụng, cái không này sẵn sàng.
Do
con người thông minh đem cái không hạn chế. Như hạn chế
cái không của tách, nhà, bàn, dĩa,… rồi giải thích cái
không của tách, khác hơn cái không của nhà, bàn, dĩa… giải
thích có lý. Nhưng chưa có nhà thì cái không đã sẵn rồi,
không có cái không sẵn làm sao có cái không của tách?
Cái
không sẵn sàng vốn bất nhị, nhưng tạo thành cái không của
nhà, tách… đủ thứ sai biệt, đều do con người bày đặt
ra; vốn từ không có nghĩa lý mà lập ra nghĩa lý, mặc dù
không có nghĩa lý nhưng tất cả đều phải nhờ nó; cái không
này chính là bản tâm).
Tự
kỷ sơn hà ném bỏ một lượt, lò rèn các nơi không thể
thiết lập. Có thiết lập, chẳng khác nắm tay dọa trẻ con
(cái không đã sẵn sàng, nếu thiết lập cái không của cái
nhà, cái tách, cái bàn… nói ra nghĩa lý rất đúng. Nhưng
khác chi đem nắm tay để gạt con nít).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Sự thấy nhỏ hẹp có chút hồ nghi, muốn gấp
lại càng trễ”. Người nghĩa giải cho rằng: Tất cả chúng
sanh, từ trước kiếp không (chưa có trời đất) đã cùng
tam thế chư Phật đồng thành chánh giác (tức là người nào
cũng có Phật rồi; nhưng không tin được, cứ cho mình là
chúng sanh).
Vốn
chẳng thiếu kém, vì tâm này không rõ, tự rơi vào ngu mê
mà tự chẳng biết. Thế nên, chư Phật chư Tổ dùng trăm
ngàn phương tiện dẫn dắt khích lệ, khiến họ ngộ nhập.
(Tất
cả chúng sanh đều đã thành Phật; trong kinh Viên Giác, Phật
lấy vàng để thí dụ vàng thật đã thành sẵn, nhưng nó
chưa có hiện lên, nên mình không thấy, không thấy là do nó
lộn với đất cát tạp chất. Đem quặng vàng luyện bỏ đất
cát tạp chất, rồi vàng thật hiện ra.
Nếu
trong quặng vàng không có vàng thật thành sẵn, làm sao luyện
ra được? Phật tánh của chúng sanh cũng vậy, đã thành sẵn
rồi đâu phải tu mà thành; chưa tu đã thành rồi, vì lộn
với tạp chất vọng tưởng tham sân si, nên không hiện ra.
Tu là luyện bỏ tạp chất vọng tưởng tham sân si, thì Phật
tánh hiện ra. Như Phật Thích Ca đâu phải tu rồi thành? Đâu
phải chứng mới đắc?).
Sở
dĩ nói: “Vì một đại sự nhân duyên xuất hiện trên đời”,
à việc này vậy. Bởi do người chẳng tin tự tâm là Phật,
mà muốn tìm cầu ở ngoài tâm, cho nên bị quở là tiểu kiến
(sự thấy nhỏ hẹp). Phải biết tâm này vốn sẵn đầy đủ,
nói là “mau thành bồ đề” đã thành lời thừa, thật ra
đâu có sự mau hay trễ ư! (Đã thành bồ đề đâu có mau
trễ).
Lời
giải thích trên rất có lý, nhưng chưa phải thật tế, thật
tế không phải lời nói để nói được. Nên ngài Trung Phong
phủ định.
Tịch
nghĩa giải:
Thế
thì hiện nay gọi cái gì là Phật? Nếu chỉ bày không ra,
bệnh ở chỗ nào? (Nói phải, Phật ở đâu? Nói thì được,
nhưng chỉ ra không được. Mà bệnh ở chỗ nào?).
Kệ
kết thúc:
Trời
há cho ngồi đáy giếng dòm,
Tận
cùng sức thấy cũng thành nghi.
Trở
mình nhảy ra ngoài hư không,
Nhướng
mày mở mắt đã trễ rồi.
(Trang
Tử có thí dụ: Con rùa từ nhỏ sống trong đáy giếng, nó
dòm lên bầu trời thấy lớn hơn đáy giếng một chút. Có
một ngày con rùa biển đi ngang té xuống giếng.
Rùa
giếng hỏi: Anh ở đâu?
Rùa
biển đáp: Tôi ở biển.
Rùa
giếng hỏi tiếp: Biển lớn bao nhiêu?
Rùa
biển đáp: Biển lớn lắm.
Rùa
giếng hỏi: Biển lớn bằng cái giếng tôi ở không?
Rùa
biển đáp: Lớn hơn nhiều.
Rùa
giếng nói: Làm sao lớn hơn nhiều được? Rùa giếng lội
1/3 cái giếng hỏi tiếp: Có lớn bằng 1/3 cái giếng này không?
Rùa
biển nói: Lớn hơn nhiều.
Rùa
giếng hỏi: Biển có lớn bằng 2/3 giếng này không?
Rùa
biển nói: Lớn hơn nhiều.
Rùa
giếng nói: Vậy biển bằng cái giếng này sao?
Rùa
biển nói: Lớn hơn nhiều.
Rùa
giếng nói: Ông nói dối! Có phải cái biển của ông ở dưới
bầu trời này không?
Rùa
biển đáp: Phải.
Rùa
giếng nói: Ông nhìn bầu trời này đi! Bầu trời chỉ lớn
hơn cái giếng chút xíu, làm sao cái biển lớn hơn cái giếng
này được? Ông nói cái biển lớn hơn cái giếng bao nhiêu?
Nói đi!
Rùa
biển nói: Nói không được.
Rùa
giếng nói: Nói bậy, ông không nói được, lấy gì làm bằng
chứng. Tôi có bằng chứng rõ ràng, 1/3, 2/3, có bầu trời
ông cũng nhìn nhận, biển của ông cũng ở dưới bầu trời
này. Bây giờ ông nhìn bầu trời này, đâu có lớn hơn cái
giếng tôi bao nhiêu, mà ông nói cái biển lớn hơn cái giếng
tôi, có phải ông nói bậy không? Ông không có bằng chứng,
chỉ nói cái biển lớn hơn nhiều, thì lời của ông có ai
tin đâu!
Tất
cả ai cũng biết biển lớn hơn giếng nhiều lắm, nhưng con
rùa giếng không tin nổi. Làm sao cho con rùa giếng tin biển
lớn hơn?
Bản
tâm không có hình tướng, mắt không thể thấy, tai không thể
nghe. Phật Tổ đã dẫn chứng nhiều nhưng người có tâm rùa
giếng không tin nổi bản tâm. Cho nên, ở dưới đáy giếng
làm sao để nhìn bầu trời, cho thế này thế kia?).
Tận
cùng sức thấy cũng thành nghi (dù rùa biển hết sức giải
thích nói chân thật là biển lớn hơn cái giếng, nhưng rùa
giếng không tin nổi, vì rùa biển không có bằng chứng, còn
rùa giếng có bằng chứng.
Hai
câu cuối diễn tả là chưa đập bể hư không thì tâm vọng
chưa chết, sát na ý thức dính líu thì bản tâm chưa hiện).
33
- CHẤP CHI THẤT ĐỘ, TẤT NHẬP TÀ LỘ
Dịch
Chấp
thật thì lạc mất tông chỉ, ắt phải rơi vào đường tà.
Lời
khai thị:
Núi
vô trùng số (bất nhị), nước vô trùng số. Thiện Tài ở
trong tiếng khảy móng tay, thấy lâu các của ngài Di Lặc cũng
vô trùng số. Chơn Nhân Vô Địa Vị giữa đường gặp thấy
việc bất bình, dùng cây gậy gạch một gạch trên không,
mười vạn tám ngàn đường lối nắm gom một lượt, rồi
quay đầu lại hét to rằng:
“Tình
xuyên lịch lịch Hán Dương thọ,
Phương
thảo thê thê Anh Võ châu”.
(Cỏ
non biên biết đảo Anh Võ,
Nắng
dọi Trường Giang cây Hán Dương).
(Chân
Nhơn Vô Địa Vị là bản tâm mình, tại sao nói Vô Địa
Vị? Vô Địa Vị là không có hình thể, không có số lượng,
tất cả đều ở trong tâm mình, không có cái nào ở ngoài.
Trường
Giang là con sông Dương Tử, Hán Dương là tên địa phương,
sông Trường Giang có cù lao Anh Võ.
Trong
lịch sử Thiền tông có một công án: Có một vị Tăng thông
minh tài giỏi chưa kiến tánh, nhưng có tinh tấn tu tập,
ở trong một ngôi chùa, gặp vị trụ trì đã kiến tánh, vị
trụ trì muốn giúp đỡ vị Tăng đó, nói với vị Tăng rằng:
Ông đến Võ Sơn gặp ông cư sĩ sẽ giúp ích cho ông.
Tăng
đến gặp Cư sĩ, Cư sĩ hỏi: Cổ kiến chưa mài thì sao (cổ
kiến là kiến xưa)?
Tăng
trả lời: Đen như dầu hắc.
Cư
sĩ hỏi: Cổ kiến mài rồi thì sao?
Tăng
trả lời: Chiếu trời chiếu đất.
Cư
sĩ mời Tăng về chùa. Khi về chùa kể lại cho Trụ trì.
Trụ
trì nói: Bây giờ Ông hỏi tôi đi?
Tăng
hỏi: Cổ kiến mài rồi thì sao?
Trụ
trì nói: “Cỏ non biên biết đảo Anh Võ.
Tăng
hỏi tiếp: Sau khi mài thì sao?
Trụ
trì nói: Nắng dọi Trường Giang cây Hán Dương.
Tăng
ấy ngộ liền.
Chưa
ngộ cứ nói theo nghĩa lý, cổ kiến chưa mài thì đen thui,
mài rồi thì chiếu soi được, việc đó ai cũng biết!
Còn
người kiến tánh thì không theo nghĩa lý, nghĩa lý do con người
lập ra, như hư không đâu có nghĩa lý!)
Vì
sao như thế? Há chẳng thấy Tổ sư nói: “Chấp thật thì
lạc mất tông chỉ, ắt phải rơi vào đường tà” (vì có
chấp thật, như chấp thật cổ kiến, làm sao ngộ được?).
Lời
nghĩa giải:
Gần
đây có một số người ở vào địa vị làm thầy, thấy
người nói: “Khán thoại đầu của cổ nhân, công phu miên
mật, chẳng uổng phí thời gian để tham cứu việc mình”,
liền dẫn chứng hai câu này để bài xích, đối với “chấp
chi thất độ”, cho là Phật pháp đâu có việc này, bởi
tất cả sẵn sàng, sao chẳng tự nhận lấy? Lại cố làm
điệu bộ của người chết làm chi!
(Có
người nghe đến tham thiền là tìm cách bài xích, dẫn chứng
thế này thế kia, đã đuổi theo lời nói bị mắng là con
chó mà cũng không biết, chỉ biết bài xích, không biết cái
thật tế).
Tịch
nghĩa giải:
Nói
thế cũng đúng nhưng không xét đến nguồn gốc, chẳng biết
ý Tổ sư là trách cái chấp sau khi ngộ (nếu người đã ngộ
cái lý, chấp cái lý ngộ đó, thì không hiện ra cái dùng
được, vì kẹt cái lý nên bị trúng độc cái lý).
Há
chẳng thấy Phật Nhãn nói: “Có một hạng người cưỡi
lừa lại tìm lừa, có hạng người biết lừa rồi, mà cứ
cưỡi mãi không chịu xuống” (cũng như nhờ chiếc đò qua
sông, rồi không chịu xuống đò, làm sao lên bờ được?).
Chính
là nói hạng người này, chấp lý đã ngộ mà chưa thể quên.
Bên ngoài chấp pháp sở ngộ, bên trong chấp tâm năng ngộ,
cổ nhân quở là pháp trần, cũng là gai gốc tri kiến. Cho
nên Dược Sơn nói: Vừa có sở trọng liền thành hang ổ (bất
cứ trọng cái lý ngộ gì) đều là chấp lý đã ngộ, khiến
cho lý ngộ chẳng quên, cho là thật có việc này.
Do
thấy pháp chẳng viên thông, thành sở chấp của ngoại đạo.
Đang mê mà cầu ngộ thì dễ, đã ngộ muốn quên lý thì khó,
nếu không gặp bậc đạo sư chân chánh, thẳng tay gông cùm
tay chân, đánh đập thống thiết, thì rốt cuộc đến chỗ
thôi nghĩ. Đối với việc này, ông có vừa lòng chăng?
(Thiền
tông muốn đến chỗ cứu kính, luôn cả cái ngộ cũng phải
tan rã, cho nên nói “ngộ rồi, đồng như chưa ngộ”, nếu
còn ôm cái ngộ, tức là còn mê, tại có mê nên có ngộ.
Nếu hết mê không còn ngộ nữa. Vì vậy, nhờ chiếc bè đưa
qua sông rồi phải bỏ bè. Nếu còn lưu luyến chiếc bè, thì
bị chiếc bè làm chướng ngại, không lên bờ được).
Kệ
kết thúc:
Chấp
tâm chưa chết hoa thường rụng,
Thắt
kết đã trừ quả không xa.
Cứ
theo đường tà đi như trước,
Quày
đầu mới thấy mình trần truồng.
(Còn
có sanh diệt, tức là hoa còn rụng. Phiền não nghiệp chướng
là dây trói buộc bằng bố gai, còn bồ đề, giải thoát là
dây trói buộc bằng vàng. Vàng dù quí, nhưng buộc chắc chắn
hơn, khó tuột hơn, nên cần phải bỏ luôn).
34.
PHÓNG CHI TỰ NHIÊN, THỂ VÔ KHỨ TRỤ
Dịch
Buông
thì Bản thể tự nhiên, vốn chẳng có đi và ở. (Buông: Vô
trụ).
Lời
khai thị:
Cơ
xảo hướng thượng, câu chuyển ngữ này cuối cùng, cửa
đã mở sẵn (chuyển ngữ là lời nói, chuyển là xoay chuyển
không trụ, tức là nói không trụ chỗ nào. Nếu hành giả
tham thiền đã ngộ, nói được một chuyển ngữ, thì Tổ
ấn chứng cho người ấy đã ngộ).
Lòng
từ của chư Tổ luôn luôn nhắc nhở hành giả tham thiền
ngay đó liền ngộ (cơ xảo của chư Tổ, chỉ là mài giũa
tập khí của mình. Ai cũng có tập khí kiến giải khó dứt.
Như
Tăng định trình kệ cho Đại Huệ ấn chứng.
Đại
Huệ liền nói: Không phải, không phải, đi đi.
Tăng
nói: Tôi chưa có trình mà!
Đại
Huệ nói: Không phải, không phải, đi đi.
Bởi
vì còn kiến giải làm sao ngộ? Còn kiến giải mới trình.
Cho nên, chư Tổ dùng cơ xảo khiến cho hành giả tham thiền
ngay đó được ngộ, nếu không ngộ thì không hiểu, phải
phát nghi, giữ nghi đó sau này cũng được ngộ. Chứ không
phải muốn cho người ta hiểu; nếu muốn cho người ta hiểu,
thì chư Tổ giải thích còn dễ hơn. Vậy, có người dạy
tham thiền, giải thích công án, tìm hiểu lời của Tổ, làm
cho hành giả không thể ngộ được).
Trăng
nửa đêm chiếu trên cành hoa mai; ngộ được cứ ngộ, rạng
đông say rượu cưỡi chim loan (tâm không đuổi theo cảnh,
mình mới làm chủ được. Nếu vì cảnh mà sanh tâm, tâm sanh
cảnh. Trong cuộc sống hàng ngày, thì phải có tâm sanh cảnh
cũng bị cảnh sanh tâm. Như thấy buồn thì tâm mình buồn,
thấy vui thì tâm mình vui. Tâm mình vui thì cảnh vui là tâm
sanh cảnh).
Không
cho là một pháp cao siêu (kinh Kim Cang nói: “Đâu có cái
gì gọi là Phật pháp, làm sao có cái pháp cao siêu”. Nhưng
có người nói phải có giáo lý cao siêu để dạy Tăng Ni.
Nếu theo thật tế của bổn lai đâu có Phật pháp cao siêu).
Cũng
không có phổ biến việc đời (Phật pháp hiện nay rất phổ
biến, nhưng đối với thật tế thì không phải), vậy rốt
cuộc như thế nào? Chẳng thấy Tổ sư nói: “Buông thì Bản
thể tự nhiên, vốn chẳng có đi và ở” hay sao? (Không trọng
và ham thích một pháp nào; nếu có một chút quí trọng ham
thích là dính mắc là có chỗ trụ, nắm chắc không chịu
buông; người ta dễ buông tài quả, còn kiến giải thì khó
buông. Bản thể không có trụ và vô trụ).
Lời
nghĩa giải:
Người
nghĩa giải cho rằng: Tâm chấp đã trừ, tự nhiên tự do tự
tại, chẳng chướng chẳng ngại mà động như bay, tịnh
như cốc thần, đã vô tâm đối với việc này nọ, thì đâu
có phân biệt đi và ở!
(Cốc
thần là xung quanh toàn đồi núi, ở giữa thung lũng, khi nói
ra tiếng thì âm thanh dội lại; tiếng dội lại cũng là tiếng
của mình, không phải người khác; Không biết rồi đổ thừa
cho là cốc thần. Nó vốn không có động, tại do mình nói
có tiếng thì có tiếng trả lời, còn không nói ra tiếng thì
không có tiếng).
Kinh
Viên Giác nói: “Bất cứ lúc nào chẳng khởi vọng niệm,
đối với vọng tâm cũng chẳng ngưng nghỉ (người ta thường
nói ngưng nghỉ vọng tâm, nhưng kinh nói vọng tâm chẳng có
ngưng nghỉ), trụ nơi cảnh vọng không cần biết (cái đó
là cảnh vọng, nhưng “biết vọng liền bỏ”, làm sao được?),
nơi không hiểu biết cũng không cho chơn thật không hiểu biết”
(đối với không hiểu biết cũng không hiểu biết luôn).
Được
như thế thì gần với đạo rồi, nghĩa là tình chấp thánh
phàm đều sạch, thì bản thể chơn thường hiển lộ (bản
thể chơn thường không có sanh diệt, không có bắt đầu và
không có cuối cùng, khắp thời gian), tuyệt hẳn cảnh duyên
hư vọng, tức là như như chơn Phật.
Tịch
nghĩa giải:
Lúc
chửi nhau thì tạt nước cũng được. Nếu đối với ý Tổ
sư, dầu có tất cả đại tạng kinh điển đều cũng mửa
ra, cũng chỉ thành nghiệp thức mênh mông mà thôi.
(Tất
cả đại tạng kinh điển đều ở trong đó. Nếu mửa tất
cả giáo lý ra, thì cũng không biết được, cho nên bị nghiệp
thức xoay chuyển. Chữ Hán gọi: “Nghiệp thức mênh man, vô
bản khả cứ”, nghĩa là nghiệp thức mênh mông, không có
chỗ căn cứ. Cuộc sống hàng ngày đều ở trong nghiệp thức
mênh mông.
Tức
là bộ óc phân biệt tốt xấu, có lý và không có lý gọi
là thức phân biệt. Thức này là do cái nghiệp kiếp trước
làm nhân. Đối phó với chuyện này chuyện kia, đi học, làm
việc… tất cả đều do nghiệp thức này.
Nhưng
lại cho cái nghiệp này là Ta, sự thật đằng sau làm chủ
nghiệp thức mới là Ta, mới là căn bản. Nghiệp thức không
có căn bản để căn cứ, vì nghiệp thức sanh diệt, sau khi
cái thân chôn thành đất thiêu thành tro.
Vậy
ai làm ra nghiệp thức này? Người làm ra nghiệp thức không
phải bộ óc, vì bộ óc sau chết biến thành tro thành đất.
Người chủ làm ra nghiệp thức thì không biết, nên không
có chỗ căn cứ, chỉ là nghiệp thức mênh mông mà thôi.
Mục
đích tham thiền là muốn hiển lộ người chủ sanh ra nghiệp
thức này. Người chủ hiện ra mới được tự do tự tại;
Nếu cho nghiệp thức làm chủ thì điên đảo, cứ theo cảnh
mà xoay chuyển, đối với cảnh vật thì có, cảnh diệt rồi
thì nó cũng diệt luôn, vậy nó còn ở trong sanh diệt. Còn
người chủ không có biến đổi, không bị cảnh lôi kéo sanh
diệt, không có dính dáng gì hết).
Kệ
kết thúc:
Kiến
văn giác tri đều bỏ hết,
Vốn
chẳng tự nhiên lại tự nhiên.
Ông
đi nước Tần, ta nước Lỗ,
Đỉnh
đầu ai chẳng đội trời xanh.
(Cuộc
sống hàng ngày đều phải dùng kiến văn giác tri.
Kiến
văn giác tri là do nghiệp thức làm chủ, nghiệp thức
không thật, đâu cần bỏ nó, lấy bỏ đều không được.
Cần phải tìm chủ sanh nghiệp thức.
Nước
Tần ở bên bắc, nước Lỗ ở bên nam, tức là nghiệp thức
là nghiệp thức, còn chủ thật là chủ thật, không có liên
quan, như người ở bên nam, người ở bên bắc.
Mặc
dù, không phát hiện nó được nhưng nó cũng không rời khỏi
mình, như đi đến đâu cũng có trời xanh trên đỉnh đầu.
Ông chủ nghiệp thức bản thân mình, không bao giờ rời mình,
tại vì mình không tin, nên không phát hiện được. Cứ tin
nghiệp thức, thành ra làm cho mình cực khổ, đi trong lục
đạo luân hồi mãi).
35
- NHẬM TÁNH HỢP ĐẠO, TIÊU DIÊU TUYỆT NÃO
Dịch
Tự
Tánh là Đạo, vốn chẳng phiền não.
Lời
khai thị:
Bùi
Tướng Quốc (Bùi Hưu) ôm Phật đến đặt tên (lời khai thị
trong Truyền Tâm Pháp Yếu của ngài Hoàng Bá, do Bùi Hưu ghi
lại. Phật đâu có tên, Tự tánh vốn là đạo).
Đường
Trang Tông đắc được một báu vật ở Trung Quốc, vua chẳng
bị địa vị cao cả dời đổi, thần chẳng bị việc khắp
nước nhiễu loạn (Tự tánh là tự nhiên vậy, vốn là hợp
đạo, vốn là tiêu diêu tự do tự tại, không có phiền não.
Phiền não là do vọng tâm tự chấp sanh ra. Thật tế bản
thể không có phiền não; dù làm vua có địa vị cao cả, nhưng
tự tánh không dời đổi, không có cao thấp. Thần chẳng bị
khắp nước làm nhiễu loạn).
Nạp
Tăng tham thiền giẫm bước khắp mười phương, hình thể
chẳng bị trói buộc (Tu sĩ đi hoằng pháp khắp mọi nơi,
hình thể không bị cảnh gì lôi kéo, tức là không có những
việc buồn, vui, yêu, ghét…).
Lâu
ngày chày tháng ngồi tại chỗ vô sự, vì sao chẳng thể đúng
như Tự tánh? Do cái gì làm chướng ngại?
Năm
năm khô héo rừng Bát Nhã,
Năm
năm tăng trưởng cỏ vô minh.
(Cuộc
sống hàng ngày, cứ tăng trưởng cỏ vô minh, làm cho rừng
Bát nhã khô héo. Mặc dù, đối với việc nào không dính mắc,
cho là vô sự, cũng không phải bản thể của Tự tánh.
Tại
bản thể Tự tánh, không phải hữu sự hay vô sự, không có
ý kiến của mình vô hay bớt ra. Nếu cho là vô sự tức là
có sự rồi. Vì có ý cho là...thì không phải rồi, đều là
cỏ vô minh).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Tự Tánh là Đạo, vốn chẳng phiền não”. Người
nghĩa giải cho rằng: Người tâm không thi đậu tánh chẳng
cần nhậm (mặc kệ) mà tự nhậm, đạo chẳng cần hợp mà
tự hợp, tự do như mây bay trên núi, tự tại như trăng đi
trên không.
(Không
có ý tạo tác, nếu tâm mặc kệ nổi lên thì có ý đã xen
vô. Khỏi cần mặc kệ hay không mặc kệ. Nó vốn như vậy,
tự nhiên hợp đạo, tự nhiên như mây bay trên không, chẳng
có tác ý. Cũng như: Trăng đi trên bầu trời không có ý gì).
Trong
đại viên cảnh có ai chẳng phải vậy? (Cho mình có vô minh
nên phải làm phàm phu, nhưng Tự tánh không có vô minh. Nếu
cho mình có vô minh phiền não, đó là do mình cho vậy thôi).
Lời
nghĩa giải này lý cao tột, nhưng thật tế còn xa lắm, nên
ngài Trung Phong phủ định.
Tịch
nghĩa giải:
Phật
Ấn Nguyên Hòa Thượng nói: “Cái cảnh đã ngộ khó nói cho
người chưa ngộ hiểu (tại vì ngộ Tự tánh không có hình
thể không có số lượng, những người nghe dùng bộ
óc để hiểu, nhưng ý thức không tiếp xúc được, tiếp
xúc không được làm sao hiểu? Thành ra, người đã ngộ không
thể đem cảnh ngộ cho người chưa ngộ nghe), như với người
mù bẩm sanh, nói cho biết mặt trời sáng, họ dù nghe mà chẳng
biết được”.
Hay
người chưa từng buông tay xuống vực thẳm (chưa từng ngộ),
lại dùng lời “Tự tánh là đạo” để dẫn chứng, thì
cũng như người đói nói ăn mà không ăn, lại nói “đã no”
há chẳng dối người ư!
(Bởi
vì không có kinh nghiệm đó, như người mù bẩm sanh không
có kinh nghiệm thấy được mặt trời, lại nghe nói của người
thấy được mặt trời, mà theo lời nói diễn tả cho là đúng;
nhưng sự thật không đúng, vì lời nói là lời nói, không
phải chân thật, cần phải ngộ mới được.
Nếu
theo nghĩa giải cho là đúng thì còn xa lắm, nhưng người học
Phật đều giải lý theo lời nói, dù có nghĩa lý cao chừng
nào, thì xa chừng nấy, đối với thật tế không dùng được;
có khi so với người chưa biết giáo lý, những tình cảm yêu,
ghét, buồn, vui… còn nhiều hơn họ; cho nên tự dối người
dối mình).
Kệ
kết thúc:
Mặc
cho pháp tánh tự hợp đạo,
Bệnh
của Tâm vương càng khó lành.
Lại
muốn cầu cho tuyệt phiền não,
Ba
trăm roi sắt chưa phải nhiều.
(Pháp
tánh thì tự hợp đạo. Sự hiểu biết của mình cứ giữ
hoài, thành ra không ngộ được. Bệnh chấp chưa hết, làm
sao hết phiền não?
Đây
là roi sắt của Diêm La Vương; cho nên cần phải trị bệnh
chấp, chứ đừng theo lời nói của Phật, Tổ để giải nghĩa
cho là đúng. Đúng thì phải rồi! Nhưng thật tế thì còn
xa lắm. Cho nên Thiền tông “bất lập văn tự” là vậy.
Thiền
tông muốn mỗi cá nhân, đều đạt đến chỗ chân thật.
Không phải chỉ miệng nói, tâm nghĩ; lúc còn sống phải làm
chủ, thì lúc lâm chung cũng làm chủ được. Nếu còn sống
không làm chủ được, thì lúc lâm chung làm sao làm chủ!
Tổ
Hương Nghiêm ngủ mê làm chủ được, mà còn bị quở. Có
chiêm bao làm chủ được, không có chiêm bao còn không biết.
Thường thường người ta có chiêm bao không làm chủ được.
Chúng
ta cần thật tế là tham thiền đến chỗ giác ngộ. Nếu hiểu
biết cho nhiều thì bị chướng ngại. Vì vậy, ngài Trung Phong
thấy người ta đem Tín Tâm Minh để dẫn chứng, làm sao dẫn
chứng được! Nên Ngài phủ nhận.
Giảng
kinh thuyết pháp đối với sự tu chứng chẳng có ích lợi
gì! Tức là đối với thật tế trở thành chướng ngại.
Người ta cho đó là đúng, nhưng nghịch với thật tế. Như
mặt trời là tròn với nóng thì đúng, nhưng cho tròn với
nóng là mặt trời thì không đúng).
36
- HỆ NIỆM QUAI CHÂN, HÔN TRẦM BẤT HẢO
Dịch
Nổi
niệm thì bị niệm buộc, thành trái với chân, không niệm
thì hôn trầm chẳng tốt.
Lời
khai thị:
Đại
tạng giáo điển là sợi dây xích chân, thân vàng trượng
sáu (thân Phật) là một cọng cỏ. Một tiếng hét điếc tai
ba ngày của Bá Trượng, một giỏ trầu trút ra của Ngưỡng
Sơn. Những lời nói này là miểng ngói hay châu báu? Nếu ông
nói câu phải cũng quét, câu chẳng phải cũng quét; chính là
ăn táo mà nuốt hột.
(Theo
Thiền tông lời khai thị của Tổ, không dùng ý thức để
hiểu được. Nếu nghe liền ngộ, còn không ngộ thì không
hiểu phải phát nghi, tức là nghi tình. Giữ mãi nghi này liên
tục, rồi sẽ đưa đến ngộ, nên gọi là Từ Nghi Đến Ngộ.
Theo đại tạng giáo điển, chỗ thật tế thì không nói được;
nếu đuổi theo đại tạng giáo điển thành sợi dây xích
chân.
Bá
Trượng nghe Mã Tổ hét bị điếc tai ba ngày, Ngài được
ngộ cùng tột.
Một
giỏ trầu trút ra của Ngưỡng Sơn cũng là diễn tả cái ngộ,
nhưng dùng ý thức hiểu không nổi; khi nào ngộ thì tất cả
công án, thoại đầu đều rõ ràng. Nếu ngọâ là châu báu,
không ngộ là miểng ngói).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói:“Nổi niệm thì bị niệm buộc, thành trái với chân,
không niệm thì hôn trầm chẳng tốt”. Người nghĩa giải
trong kinh nói: “Tâm chẳng bị đạo trói, cũng chẳng bị
gây nghiệp, ấy là người đắc đạo”. Hoặc dẫn chứng
lời Đức Sơn nói: “Mảy may hệ niệm là nghiệp nhân của
tam đồ” (nếu nổi lên một niệm là làm cái nhân của địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh).
Còn
nói: “Hành giả tham cứu, vừa có mảy may tình chấp mê ngộ,
thánh phàm, thì bị tri kiến mê ngộ thánh phàm làm mù” (tức
là có phân biệt tương đối; người hành giả tham Tổ Sư
thiền, vừa có một chút mảy may sanh ra tình cảm chấp thật,
chấp mê, chấp ngộ, chấp thánh, chấp phàm thì bị tri kiến
mê ngộ thánh phàm làm cho mù).
Cần
phải một vật chẳng dính mắc muôn duyên đều tẩy sạch,
mới có thể hợp với chỗ thấy của cổ nhân (tất cả pháp
tương đối không bị dính mắc).
Tất
cả kiến giải cao nhất, cũng là lời nói của ý thức. Không
đến chỗ thật tế. Nên ngài Trung Phong cần phủ định.
Tịch
nghĩa giải:
Đừng
phỉ báng cổ nhân nhé! Cổ nhân nói với ông: “Nổi niệm
thì bị niệm buộc, thành trái với chân”, nhưng chính cái
“một vật chẳng dính mắc” đã là trái với chân, tức
là bị niệm trói rồi.
(Bởi
vì một vật chẳng dính mắt cũng là niệm, có niệm thì trái
với chân tức là bị niệm trói rồi).
Kệ
kết thúc:
Hệ
niệm quai chân, chân chẳng trái,
Hôn
trầm chẳng tốt, tốt nơi nào?
Thùng
sơn cứng chắc chưa lũng đáy,
Thai
trâu bụng ngựa đợi ông vào.
(Thiền
tông muốn mọi người ngộ chỗ thật tế là bản lai diện
mục của tâm mình. Nếu dùng lời nói: Hệ niệm trái chân,
chân chẳng trái sao? Hôn trầm chẳng tốt, vậy tốt nơi nào?
Tức
là có tốt xấu tương đối do ý thức phân biệt là chướng
ngại sự ngộ. Thùng sơn đen lũng đáy là tỏ sự ngộ. Nếu
chưa ngộ thì thai trâu bụng ngựa đợi ông vào. Mặc dù ông
giải thích có lý rất hay, nhưng vẫn còn ở trong lục đạo
luân hồi).
