17
- QUY CĂN ĐẮC CHỈ, TÙY CHIẾU THẤT TÔNG
Dịch
Trở
về cội gốc thì được ý chỉ, đuổi theo chiếu soi thì
mất bản tông.
Lời
khai thị:
Như
thế, như thế! Cho tây làm đông (tham thiền không thể cho
là, cho là như thế, như thế, như cho phương tây làm phương
đông, đều cách xa sự thật. Nếu cho là chẳng như thế,
chẳng như thế, cũng là lấy có làm không, đều là trái ngược).
Chẳng
thế ở nơi như thế, giống như dùng lưới để bắt gió
(dùng lưới bắt gió làm sao được?). Như thế, ở nơi chẳng
như thế, cũng như giấy ướt để nhốt cọp (làm sao giấy
ướt mà nhốt cọp?).
Tại
sao vậy? Há chẳng nghe nói: Quy căn đắc chỉ tùy chiếu thất
tông ư! (Tức là Tam Tổ muốn hành giả tham thiền ngộ ngay,
không ngộ thì nghi. Nói có nguồn gốc để trở về, tức
là đuổi theo lời nói thì không được. Cứ cho là không được,
cho là như thế không được, cho là chẳng như thế cũng không
được, cho là như thế ở nơi chẳng như thế cũng không được,
cho là chẳng như thế ở trong như thế cũng không được.
Nghĩa là lìa tứ cú, tuyệt bách phi).
Lời
nghĩa giải:
Một
số người khéo suy lường rằng: Bặt nói bặt lo là trở
về cội, nơi nào cũng là đắc tông chỉ. Nếu người lãnh
hội theo nghĩa: Về cội đắc chỉ thì đuổi theo chiếu soi,
làm mất tông chỉ rồi.
(Tại
sao? Cội vốn không chỗ về, vì tâm mình cùng khắp hư không;
nếu có chỗ về thì tâm không cùng khắp. Mục đích tham thiền
là hiện tâm khắp không gian thời gian. Tông chỉ cũng không
thể đắc, tất cả đều sẵn sàng. Hư không chẳng có cái
ngoài để đắc. Nếu chẳng rõ nghĩa này, tự sanh vọng chấp,
cho là có tông chỉ để đắc, có chỗ cội gốc để trở
về).
Nói
là tùy chiếu, nếu còn dấu tích chữ chiếu, thì tâm tông
của chư Phật chư Tổ đã lạc mất quá lâu rồi (vậy, nó
không có chiếu mà vẫn còn chiếu. Như cảm giác lớp da không
nói là “tôi có cảm giác”, vì cảm giác khắp không gian
thời gian của cơ thể.
Nếu
tiếp xúc, nó biết có tiếp xúc; không có tiếp xúc, nó biết
không có tiếp xúc; đau nó biết đau, không đau nó biết không
đau; ngứa nó biết ngứa, không ngứa nó biết không ngứa;
lạnh nó biết lạnh, không lạnh nó biết không lạnh; nóng
nó biết nóng, không nóng nó biết không nóng.
Mình
muốn dùng nó cũng biết như vầy, mình không có ý dùng nó
cũng biết như vầy. Không phải có tiếp xúc lớp da mới có
cảm giác. Lớp da không bao giờ mất cái cảm giác, thì đâu
có cần tiếp xúc mà mới là chiếu soi, nó luôn luôn như vậy.
Tâm
mình cũng luôn luôn như vậy, nó đâu phải phát ra ánh sáng
chiếu soi, rồi ngưng nói là không chiếu soi. Không bao giờ
ngưng chiếu soi, làm sao đặt ra cái tên chiếu soi? Nó cùng
khắp hư không thì không có chỗ để về; nếu có chỗ để
về nên không cùng khắp, vì chỗ này có thì chỗ khác không
có.
Giải
nghĩa như thế này có lý cao tột cũng là lời nói văn tự,
chẳng phải thật tế của bản tâm, cho nên ngài Trung Phong
phủ định.
Tịch
nghĩa giải:
Quả
có lời này ư! Nếu thật như thế, thì cũng như gọi Phật,
Tổ xưa đến đây ăn gậy sắt của Diêm La Vương. Tại sao?
Vì họ quy căn đắc chỉ vậy (chớ đâu có căn để quy, đâu
có chỉ để đắc? Như Bát Nhã Tâm Kinh nói “vô trí diệc
vô đắc”. Nếu có tông chỉ để đắc, có nguồn gốc để
về thì không đúng, xa với thật tế).
Kệ
kết thúc:
Tùy
chiếu, quy căn đồng một việc,
Chẳng
cần đặc biệt hiển gia phong.
Tâm
trộm chưa chết trước cơ xảo,
“Đắc
chỉ” đâu khác sự “Thất Tông”.
(Tùy
chiếu và quy căn đều sai lầm. Bởi vậy, không cần chiếu
cũng không có căn để quy.
Chẳng
cần đặc biệt hiển gia phong, vì gia phong của chư Tổ đã
sẵn như vầy.
Chư
Tổ kiến tánh triệt để có cơ xảo khiến người tham thiền
ngay đó liền ngộ. Muốn có cơ xảo đó thì phải chết tâm
trộm cắp; trong Trung Phong Pháp Ngữ nói: “Có nỗi niệm gì
đều là tâm trộm cắp”, có cho là… tâm trộm cắp, cho
là Phật cũng là tâm trộm cắp, cho là không Phật cũng là
tâm trộm cắp, cho là đúng lý cũng là tâm trộm cắp, cho
là không đúng lý cũng là tâm trộm cắp. Thì “đắc chỉ”
đâu có khác sự “thất tông”. Nếu mà đắc chỉ thì mất
cái tông chỉ rồi).
18
- TU DU PHẢN CHIẾU, THẮNG KHƯỚC TIỀN KHÔNG
Dịch
Phản
chiếu chốc lát, hơn cả không kia.
Lời
khai thị:
“Không
kia” là tánh không; tánh không của nhà Phật là hiển bày
cái dụng. Vì có cái không nên mới có cái dụng, cũng như
cái tách này lấp bít hết thì không có thể đựng nước.
Cái dĩa không có cái không thì không đựng đồ được. Cái
nhà không có cái không thì không có ngồi đây được, tất
cả dùng đều phải nhờ cái không này. Như nói: “Phản chiếu
chốc lát hơn cả không kia”.
Thấy
đến hành đến (tức là người đã kiến tánh thấy đến
hành đến tới chỗ thật tế. Tông thông tức là tâm thông,
thì thuyết gì cũng thông, nói gì cũng được).
Hiển
lộ con mắt trời người, mổ ra tấm lòng Phật, Tổ (con mắt
trời người do bộ óc làm chủ thì có hại. Nếu kiến tánh
rồi, Phật tánh làm chủ thì có lợi không có hại. Trong này
nói hiển lộ con mắt trời người, mổ ra tấm lòng Phật,
Tổ là kiến tánh rồi).
Ngược
với vật đuổi theo vật; giống như khác mà chẳng phải khác,
giết người cứu người cũng chẳng khác, nói đồng chẳng
đồng cũng chẳng khác, đều cho đè ngang xuống một lượt,
nửa đêm cửa biển mặt trời hồng.
(Tức
là không có ban đêm, mặt trời chiếu soi mãi mãi. Như ánh
sáng của tự tánh không bao giờ ngưng. Bây giờ mặt trời
không bao giờ ngưng chiếu soi; Mặc dù ban đêm không có ánh
sáng, không phải mặt trời ngưng chiếu. Vì bị trái đất
che khuất, nó luôn luôn chiếu soi cùng khắp mọi nơi.
Tâm
mình cũng vậy, nó luôn luôn hiển bày cái dụng, không bao
giờ ngưng nghỉ. Tại mình không thấy nên không tin. Dù mình
không thấy không tin, nhưng nó vẫn luôn hiển lộ cái dụng.
Tham thiền là hiển lộ cái dụng của tâm mình).
Lời
nghĩa giải:
“Phản
chiếu chốc lát, hơn cả không kia”. Hạng người nói đạo
lý cho rằng: Đem sáng tối sắc không, dẫn nghĩa quy về tự
kỷ gọi là phản chiếu.
(Sáng
và tối không có thể cùng một lượt; khi sáng thì không có
tối, lúc tối thì không có sáng. Sắc là vật chất, không
là trống rỗng. Theo mình biết hai thứ thì khác nhau; nếu
dẫn nghĩa quy về tự kỷ, tự kỷ thì không có khác, nên
gọi là phản chiếu).
Nên
phải biết, không chẳng tự cho là không bởi tâm nên không,
có chẳng tự có bởi tâm nên có, chúng sanh xa với tự tâm,
vọng thấy có và không, mà muốn theo nó hay bỏ nó, đều
gọi là điên đảo.
(Bởi
vậy, Diệu tâm không có bản thể, không có hình tướng, không
có số lượng; nói có thì tìm không ra, không có gì để nắm
lấy; còn nói không có thì cái dụng nó vô lượng vô biên,
nó hiển bày trước mặt. Nếu muốn theo nó hay bỏ nó đều
không được, gọi là điên đảo).
Tịch
nghĩa giải:
Ở
trên dù nói lý cao siêu, nhưng vẫn là lời nói, là lý, không
đúng với thật tế của tâm. Cho nên, ngài Trung Phong phủ
định rằng: Lời nói đoán sai. Tại sao? Vì dưới cửa Thiền
tông tìm tâm chẳng thể được, do bản tâm không có hình
tướng không có số lượng, đi đâu tìm! Bởi vậy, nói tất
cả do tâm tạo là tâm điên đảo. Tâm đã tìm không ra thì
ai là điên đảo?
Kệ
kết thúc:
Vốn
chẳng phải chiếu đâu cần chiếu,
Nói
chi chốc lát với lâu dài.
Hễ
được kiến tánh siêu danh tướng,
Hai
việc lâu mau nghĩa đúng sai.
(Như
cảm giác của lớp da luôn luôn có cảm giác. Nói cảm giác
nhưng không phải cảm giác. Vì nó bất cứ lúc nào, đau, ngứa,
nóng, lạnh, trơn, rít… thì cái biết vẫn bình thường, khỏi
cần dùng; chiếu là dùng, không chiếu là không dùng. Vốn
nó chẳng phải chiếu đâu cần chiếu, chẳng phải dùng
đâu cần dùng.
Tự
tánh không bị thời gian hạn chế, như cảm giác lớp da không
có thời gian hạn chế. Chốc lát hay lâu dài đều không có
dính dáng; đâu phải thời gian này mới có cảm giác, thời
gian kia không có cảm giác. Như mình ngủ mê nó cũng biết,
trong khi muỗi cắn nó cũng tự động dùng tay gãi chỗ đó.
Danh
là tên gọi, tướng là hình tướng, thì tất cả hình tướng
không dính dáng. Nếu hình tướng không dính dáng thì chiếu
soi cái gì? Không có tên gọi làm sao gọi là chiếu soi?
Thời
gian luôn luôn như vầy không có lâu mau, cho nên kinh Kim Cang
nói “quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả
đắc, vị lai tâm bất khả đắc”. Vậy làm sao có mau và
lâu!).
19
- TIỀN KHÔNG CHUYỂN BIẾN, GIAI DO VỌNG KIẾN
Dịch
Không
kia chuyển biến, đều do vọng kiến.
Lời
khai thị:
Lư
hương chùa cổ, lụa trắng một sợi, ngay đó siêu sanh tử,
đều là rơi vào phương tiện (lời của chư Tổ nói bất
cứ cái gì, không phải muốn mình theo lời nói để tìm hiểu,
là muốn chấm dứt tìm hiểu của mình, ngay đó được ngộ.
Nếu không ngộ thì không hiểu, nên phải phát nghi. Giữ cái
nghi đó sau này cũng được ngộ, ngộ rồi liền siêu việt
sanh tử.
Nếu
có sanh tử để siêu việt, đều là rơi vào phương tiện,
vì vốn không có sanh tử để siêu việt. Ngộ là phát
hiện không có sanh tử, là siêu việt sanh tử rồi. Chứ không
phải thật có sanh tử để siêu việt).
Xưa
nay chẳng tin tâm mình nên tự mê, lại nói Phật pháp không
có linh nghiệm (tại tâm mình mê nên chấp mãi, làm sao được
ngộ? Cứ nói tôi tu hoài không thấy chứng. Đổ thừa cho
Phật pháp không có linh nghiệm, nói tu Tổ Sư thiền không
có lợi ích gì.
Dù
có linh nghiệm, ngay đó thành Phật đi! Nếu có Phật để
thành thì cũng sai lầm. Ngộ là tâm mình hiện ra, không có
chúng sanh để sanh tử, không có Phật để thành, không phải
chứng mới đắc. Có thành có chứng cũng là kiến chấp,
còn có kiến chấp thì vào địa ngục mau như tên bắn. Mục
đích tham thiền là dứt tất cả kiến chấp. Không có một
tri kiến gì, gọi là Phật tri kiến).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Không kia chuyển biến, đều do vọng kiến”. Người
nghĩa giải cho rằng: Có là vọng, không cũng là vọng. Không
và có theo duyên thay đổi chẳng nhất định. Muốn được
lìa vọng thì phải bài trừ không và có.
(Nói
thì có lý, nhưng không phải thật tế, thật tế không cần
bài trừ có và không. Bởi vì tâm đã sẵn sàng, khỏi cần
bài trừ. Cho nên ngài Trung Phong phủ định).
Tịch
nghĩa giải:
Thôi
thôi! Mặc tình cho y trừ. Nhưng chẳng biết cái vọng sở
trừ và cái tâm năng trừ đều chẳng lìa vọng (tại sao?
Vì vốn không có vọng để trừ, mà nổi tâm năng trừ để
trừ cái vọng sở trừ, thì việc này, năng sở cũng đều
là vọng. Cho nên không lìa được cái vọng).
Nếu
luôn cái trừ đó, chẳng thể trừ sạch (tức là không có
ý trừ), mà muốn thoát khỏi cảnh duyên vọng, khó mong có
ngày (vì có tâm chấp thật cái vọng, mới dùng tâm để trừ.
Vọng vốn không có, thì tại sao đem trừ nó! Chữ “trừ”,
nếu không có thể thoát được, làm sao thoát khỏi cảnh duyên
vọng).
Vậy
có phương tiện nào để trừ luôn cái “trừ” không? (Chỉ
có tham thiền, hỏi câu thoại và khán thoại đầu, thì trừ
luôn được cái “trừ”).
Kệ
kết thúc:
Không
đâu có biến, biến phi không,
Trong
mắt đừng có chứa núi sông.
Ba
Tư đáy nước thổi đá lửa,
Mặt
trời bay lên cửa biển đông.
(Con
mắt là con mắt, núi sông là núi sông, tức là con mắt và
núi sông không có dính dáng.
Ở
đáy nước Ba Tư thổi đá lửa, làm sao cháy được!
Câu
cuối cùng nghĩa là tất cả như thường, y như cũ, đừng
đem ý mình vô, cho là có hay cho là không, cho là phải trừ
cái có, phải trừ cái không. Nếu có “cho là” đều là
vọng, mặc kệ cho nó có, cho nó không. Chẳng có dính dáng
đến tâm mình, nên khỏi cần trừ).
20
- BẤT DỤNG CẦU CHƠN, DUY TU TỨC KIẾN
Dịch
Chẳng
cần cầu chơn, chỉ cần dứt kiến.
Lời
khai thị:
Dựng
đứng xương sống như sắt, cầm ngang cây kiếm dài như trời,
trong lúc động tịnh nhàn rộn, tất cả nhồi thành một khối
(tức là cảnh động, cảnh tịnh, lúc nhàn rỗi, lúc bận
rộn đều không phân biệt, gọi là nhồi thành một khối).
Đã
tinh chuyên lại dũng mãnh, đối với sự thành Phật làm Tổ
chẳng cách một hạt bụi (nếu không có ý mình xen vô, thì
đã tinh chuyên dũng mãnh, đối với thành Phật làm Tổ không
cách một hạt bụi).
Đụng
nhằm Tam Tổ nói nhỏ với Ngài rằng: “Khéo léo phương tiện,
chẳng cần cầu chơn, chỉ cần dứt kiến”.
Lời
nghĩa giải:
Người
học giáo lý cho rằng: “Kiến chấp có 62 thứ” (Tâm có
62 kiến chấp là: Tứ cú (có, không, chẳng có chẳng không,
cũng có cũng không), nhân với ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng,
hành, thức), rồi nhân với tam thế (quá khứ, hiện tại,
vị lai) và cộng nguồn gốc: Có, không.
Thân
này là thân ngũ uẩn, thịt xương gọi là sắc (vật chất).
Chấp vật chất này là thật có, chấp thật không có, chấp
thật chẳng có chẳng không, chấp thật cũng có cũng không,
là 4 thứ kiến chấp. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Tất cả chấp cái gì đều ở trong 62 kiến chấp này.
Đoạn
và thường cũng vậy, cú thứ nhất là thường, cú thứ nhì
là đoạn, cú thứ ba là chẳng thường chẳng đoạn, cú thứ
tư là cũng thường cũng đoạn).
Pháp
số nêu ra đủ thứ (tứ cú và ngũ uẩn là pháp số), chẳng
ra ngoài hai kiến: Đoạn và thường. Cầu chơn thì rơi vào
đoạn kiến, theo vọng thì lọt vào thường kiến. Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Nói vọng là hiển bày chơn, thật ra vọng với
chơn là hai thứ vọng; phi chơn phi chẳng chơn, nói chi kiến
sở kiến”.
(Bởi
vì có chơn nên mới có vọng, nói vọng là hiển bày cái chơn;
nhưng thật tế chơn với vọng là hai thứ vọng. Vì tự tánh
bất nhị, chẳng phải chơn, chẳng phải vọng. Nói chi năng
kiến và sở kiến. Kiến là thấy, có năng thấy và có sở
thấy đều là vọng).
Hễ
lìa được tất cả kiến chấp, thì toàn thể là chơn, chẳng
cần cầu vậy.
Tịch
nghĩa giải:
Ngài
Trung Phong phủ định nghĩa giải ở trên rằng: Phải thì cố
nhiên là phải, nhưng Tổ sư nói: “Chỉ cần dứt kiến”.
Vậy kiến làm sao dứt? Nếu như có cái lý để dứt kiến,
thì cái lý đó cũng trở thành kiến rồi!
(Bởi
vì lập ra lý thì thành nhị, tức là hợp lý và không hợp
lý, đúng lý hay không đúng lý. Tự tánh là bất nhị, không
lập ra lý và không lý. Nếu lập ra lý và không lý thì trở
thành kiến chấp).
Kệ
kết thúc:
Tác
ý cầu chơn, chơn liền ẩn,
Tận
tình dứt kiến, kiến càng sanh.
Ngay
cửa dù chẳng trồng gai gốc,
Nhưng
đã không ai có lối đi.
(Câu
đầu nói không có chơn để cầu, nếu có cầu chơn thì chơn
liền ẩn.
Vì
có ý dứt kiến cũng là kiến, tức là đã nổi ý, cho là
có cái kiến để dứt. Có “cho là” thì ý nổi lên, đã
có cái kiến sanh khởi rồi.
Cái
cửa để người ta đi ra vào, rồi đem mọi thứ để ngay
trước cửa, không thể đi ra vô được).
21
- NHỊ KIẾN BẤT TRỤ, THẬN VẬT TRUY TẦM
Dịch
Nhị
kiến đối đãi chẳng trụ, chớ nên đuổi theo để tìm.
Lời
khai thị:
Dùng
mũi kim gọt sắt, nơi mặt Phật cạo vàng, nói không thì mảy
may chẳng cách, nói có thì bậc Thánh khó tìm.
(Lời
khai thị của ngài Trung Phong đều diễn tả tâm, nhưng tâm
không thể diễn tả, vì không có số lượng, không có hình
tướng. Thành ra nói: Dùng mũi kim gọt sắt. Mũi kim làm sao
gọt sắt! Như mặt Phật màu vàng, làm sao ở nơi mặt Phật
mà cạo để tìm vàng. Nói không mảy may chẳng cách, chứ
không phải là không; nói có thì bậc Thánh khó tìm, tìm không
ra, nên nói không được).
Ban
ngày không thấy đường, nửa đêm lại sáng tỏ (theo thường
lệ ban ngày thì thấy, mà nói ngược lại ban ngày không thấy
đường, nửa đêm lại sáng tỏ).
Tuyệt
đối đãi lìa cổ kim (cuộc sống hàng ngày sống trong tương
đối, đối đãi. Nhưng bản tâm thì tuyệt tương đối; nói
về không gian thì tuyệt đối đãi, về thời gian thì tuyệt
cổ kim tức là không có quá khứ, hiện tại, vị lai).
Theo
nhận thức người đời thì hồ hải rộng, nhưng ra ngoài
mới thấy bùn đất sâu.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Nhị kiến đối đãi chẳng trụ, chớ nên đuổi
theo để tìm”. Người nghĩa giải cho rằng: Đã chẳng trụ
vọng, cũng chẳng trụ chơn (lìa đối đãi), luôn cái không
trụ cũng không trụ, chính ngay ấy đủ thứ đại dụng, tất
cả toàn chơn, đâu cần lìa cái này, tìm cái khác!
(Lời
nghĩa giải rất cao siêu, nhưng cũng là lời nói danh tự, không
phải thật tế, chỗ thật tế thì khác. Nên ngài Trung Phong
mới phủ định).
Tịch
nghĩa giải:
Yû!
Nhưng những lời nói tương tự này, có ai không chứa một
bụng hay nửa bụng. Nhưng muốn gần bên cạnh Tổ sư thì
chưa được (vì những điều trên đều là tri giải. Bên cạnh
Tổ sư cần phải thật tế, thật tế thì phải chân tham thực
ngộ).
Kệ
kết thúc:
Các
pháp bổn lai vô sở trụ,
Nơi
vô sở trụ bặt truy tầm.
Đêm
qua Tây Đỉnh mặt trời lặn,
Sáng
nay y cũ chiếu rừng sâu.
(Bản
thể là vô trụ, Lục Tổ nói “lấy vô trụ làm gốc”.
Đã
vô sở trụ, còn gì để tìm?
Ban
ngày mặt trời lặn ở phía tây, vẫn bình thường như mọi
ngày, không có đem ý của mình vô để phân biệt).
22
- TÀI HỮU THỊ PHI, PHÂN NHIÊN THẤT TÂM
Dịch
Vừa
có thị phi, thì lăng xăng lạc mất bản tâm.
Lời
khai thị:
Căn
chẳng lợi độn (Phật tánh không có người trí hay kẻ ngu),
đạo chẳng cạn sâu (Phật tánh không có thêm bớt). Thiền
tông có câu “phi cổ phi kim” (khắp thời gian tức là không
có quá khứ, hiện tại, vị lai), mò không đụng đáy.
Tĩnh
tọa nơi Đại viên cảnh trí (Đại viên cảnh trí là thể
dụng của Tự tánh), dù được đụng đáy lại sâu vào rừng
rậm tà kiến (bởi vì Tự tánh không có đáy thì không thể
đụng, có tà kiến mới có đụng đáy).
Di
Lặc, Thích Ca tự biết chẳng có phần (mỗi mỗi đều đủ
không có dính dáng với người khác, như tánh không của mình
là cái hư không, cái dụng cùng khắp không gian thời gian;
tất cả vũ trụ vạn vật đều nhờ cái không này. Vũ trụ
vạn vật không có dính dáng đến cái không này; cho nên Di
Lặc, Thích Ca đều chẳng có phần).
Con
chồn con trâu ráng nín sự tức cười (nếu có cái này cái
kia, mới có sự tức cười. Xảy ra chuyện này chuyện kia
đều là vọng).
Đêm
cưỡi ngựa sắt chìm đáy biển,
Mò
được mũi kim hồi năm xưa.
(Đây
diễn tả việc không thể xảy ra).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Vừa có thị phi, thì lăng xăng lạc mất bản tâm”.
Người ở Tòng Lâm thường nói: Khắp mười phương thế giới
là Sa môn tự kỷ (xuất gia làm Tu sĩ gọi là Sa môn; khắp
mười phương là khắp không gian đều là tự kỷ, không gian
là hư không tức là tâm mình, không phải chỉ có Tu sĩ, mà
còn có Cư sĩ,… đều là tánh không này).
Khắp
mười phương thế giới là cổ Phật pháp thân (tâm của mọi
người là Phật tánh, là cổ Phật pháp thân với chư Phật
thì không có khác).
Cho
nên, nói lăng xăng chẳng phải vật khác (cuộc sống hàng
ngày lăng xăng lộn xộn, đều sanh diệt trong cái không này,
chính là mình không phải vật khác, gọi là tự kỷ). Tung
hoành đâu phải bụi trần (lục trần: Sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp), chẳng thị cũng chẳng phi (tại mình có tâm
ý nổi lên, cho là thị, cho là phi, là tại cho “cho là”,
nếu không có “cho là” thì không có thị phi).
Thì
mỗi mỗi tự tâm chảy ra (cảm giác lớp da khắp cơ thể;
nó biết đau, biết ngứa, biết lạnh, biết nóng… thời gian
nào nó cũng sẵn sàng có cái biết. Như tâm mình cũng vậy;
mình có muốn dùng thì nó cũng dùng, mình không muốn dùng
thì nó cũng dùng).
Tịch
nghĩa giải:
Lời
nghĩa giải rất cao siêu cũng là lời nói, văn tự; không đúng
với thật tế của bản tâm. Nên ngài Trung Phong phủ nhận
rằng: Những lời nói này Tòng Lâm gọi là việc thương lượng
bình thường (thương lượng phải qua suy nghĩ, có qua suy nghĩ
thì không được).
Cũng
gọi là câu nói chuyển thân (vô trụ), ai cũng dùng 2 câu này
để dẫn chứng, xưa nay không biết đã làm ô nhiễm bao nhiêu
tâm địa trong sạch, nên bậc đạo nhân chơn thật quở nó
là tạp độc, mắng nó là nước miếng con chồn.
(Vừa
có thị phi, lăng xăng lạc mất bản tâm. Người ta thường
lấy 2 câu này để dẫn chứng. Dẫn chứng 2 câu này, đúng
thì đúng, nhưng bị ô nhiễm trong sạch. Tâm địa trong sạch
vốn không thị phi, không lạc mất bản tâm. Vì bản tâm là
Phật tánh không giảm bớt, không gián đoạn; làm sao lạc
mất được!).
Có
người chịu sự ma mị ấy chăng? (Chỉ có người chân tu
và bậc Thánh) người chân tu cần phải mửa hết cho mau.
Kệ
kết thúc:
Nói
có thị phi, không thị phi,
Nhà
lớn cửa mở đợi ai vào.
Gai
gốc đầy trời ngang đường cái,
Đi
qua ai chẳng bị vướng y.
(Thị
phi và không thị phi thì không dính dáng với bản tâm. Bản
tâm như cái nhà lớn, ngày đêm cửa mở ra hết, mà đợi
người ta vào; nhưng ở trên nói: Lôi kéo chẳng ai vào! Cửa
Thiền tông khó tin lắm!
Gai
gốc đầy trời ngang đường cái, là dụ cho tri kiến của
mình.
Đi
qua ai cũng bị vướng y, tức là ai cũng có tri kiến bị nó
ràng buộc).
23
- NHỊ DO NHẤT HỮU, NHẤT DIỆC MẠC THỦ
Dịch
Hai
do một mà có, một cũng đừng nên giữ.
Lời
khai thị:
Mặt
trời mọc, mặt trăng lặn, trời đất lâu dài, chỉ có Châu
Kim Cang (Đức Sơn) không việc làm (ngày thường ai cũng thấy
mặt trời mọc, mặt trăng lặn, trời đất lâu dài chỉ như
thế hoài.
Ngài
Đức Sơn nghiên cứu kinh Kim Cang và giải thích tự cho mình
hay lắm, cho là không có ai bằng. Nghe nói Thiền tông sát na
kiến tánh, ông không phục, nói với những người tham thiền
là việc ma quái. Muốn thành Phật phải trải qua muôn ngàn
kiếp học hết tế hạnh của Phật, làm sao ở trong sát na
mà kiến tánh được?
Lúc
đó Đức Sơn ở miền bắc, đi xuống miền nam quét sạch
các Thiền giả. Mang sớ giải kinh Kim Cang đi được nửa đường
gặp bà già bán điểm tâm, rồi mua điểm tâm để dùng.
Bà
già hỏi: Đại sư mang cái gì vậy?
Đức
Sơn đáp: Sớ giải kinh Kim Cang.
Bà
già nói: Nếu Đại sư trả lời được thì tôi cúng dường
điểm tâm. Nếu không trả lời được thì tôi không bán và
cũng không cúng dường.
Đức
Sơn nói: Cứ hỏi đi!
Bà
già hỏi: Trong kinh Kim Cang có câu: “Quá khứ tâm bất khả
đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả
đắc”. Vậy Đại sư muốn điểm tâm nào?
Đức
Sơn trả lời không được, mặt đỏ mắc cở, mang sớ giải
kinh đi về.
Bà
già nói: Đại sư đứng lại! Sư đến Thiền sư Sùng Tín
ở Long Đàm sẽ có lợi ích.
Sư
thấy bà già này hay quá mới nghe lời. Ở đó được mấy
năm, có lần đến phòng Sùng Tín, lúc ra về trời đã tối,
Sùng Tín đốt đèn cho Đức Sơn. Đức Sơn vừa đưa tay lấy
thì Sùng Tín thổi tắt đèn. Lúc ấy Đức Sơn hoát nhiên
ngộ đạo. Ngộ rồi mới biết tất cả chú giải đều sai
lầm, rồi đốt bỏ hết).
Cầm
ngang cây gậy đi dọc đường, có ai hỏi ý Tổ sư từ Tây
Trúc sang, nếu chẳng vào sống lưng thì chập ngay ngực, rồi
nói: “Ngậm miệng chó lại”, làm cho vạn tượng híp mắt
cười ha hả. Muốn đến nơi phải đợi ba mươi năm nữa.
(Người
đã ngộ rồi thì khác hẳn tất cả không có ý mình xen vô,
nếu có ý mình xen vô là cái gì… đều không phải. Vì bản
tâm trống rỗng như hư không.
Câu
chuyện Nam Tuyền nấu cơm:
Mã
Tổ hỏi: Trong thùng cơm có gì vậy?
Nam
Tuyền trả lời: Ngậm miệng chó lại.
Mã
Tổ không hỏi nữa, tất cả bạn đồng tham thấy vậy, không
ai dám hỏi. Mã Tổ là thầy của Nam Tuyền hỏi mà trả lời
như vậy, làm cho vạn tượng híp mắt cười ha hả, người
chưa ngộ đạo muốn đến nơi phải đợi ba mươi năm sau,
tức là ráng dụng công phu).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Hai do một mà có, một cũng đừng nên giữ”. Người
nghĩa giải cho rằng: Vừa theo hai liền theo một, vừa giữ
một liền sanh hai. Nên biết: Hai là chơn vọng, một là tự
tâm; cái hai của chơn vọng đã trừ, cái một của tự tâm
chẳng trụ, gọi là giải thoát trên đường đạo lớn vậy.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Chơn với vọng là hai thứ vọng”.
Vì vọng chẳng phải thật vọng, chơn chẳng phải thật chơn,
chơn vọng không có tự tánh, đều do ý thức kiến lập, nên
chẳng giải thoát trên đường đạo lớn. Muốn giải thoát
trên đường đạo lớn, thì không có kiến lập vọng chơn,
tức là tâm chẳng trụ. Cho nên, tham thiền dùng nghi tình [không
hiểu không biết] chấm dứt tất cả biết [học biết, tìm
hiểu biết, ghi nhớ biết và tùy duyên biết].
Tịch
nghĩa giải:
Ban
đêm, Đức Sơn thăng tòa, nói với đại chúng rằng: Đêm
nay tôi không trả lời, nếu người nào hỏi phải bị đánh
30 gậy.
Có
Tăng từ bên trong đi ra định hỏi. Đức Sơn liền nói: Cho
Ông 30 gậy.
Tăng
trả lời: Bạch Thượng tọa, con chưa hỏi, sao cho con 30 gậy?
Đức
Sơn hỏi: Ông là người nước nào đến đây?
Tăng
trả lời: Ở nước Đại Hàn.
Đức
Sơn nói: Ông là người nước Đại Hàn muốn qua Trung Quốc,
thì phải đi bằng thuyền, khi ông bước một chân qua thuyền,
ông đã bị đánh 30 gậy rồi, đâu đợi tới đây!
Các
người tham học nhớ đầy bụng những lời nói này, không
đủ tư cách ăn gậy của ngài Đức Sơn; mà lại ăn gậy
sắt của Diêm La Vương, vì chưa ngộ; tức là nhớ tri giải
đầy bụng nên không bao giờ giải thoát được, phải bị
luân hồi sanh tử.
Kệ
kết thúc:
Bảo
Y một pháp cũng đừng giữ,
Chẳng
biết “đừng giữ” chưa thật nghèo.
Đâu
bằng say rượu nằm trên thảm,
Rải
ném vàng ròng cho mọi người.
(Hai
chữ “đừng giữ” đã là có cái ý nổi lên rồi. Tham thoại
đầu là chưa có ý niệm nổi lên, nếu có ý niệm “đừng
giữ” chưa phải là thật nghèo. Như công án nói chữ nghèo
của ngài Hương Nghiêm, có bài kệ:
Năm
xưa nghèo chẳng phải nghèo,
Vì
còn có đất cấm dùi.
Năm
nay nghèo mới thật nghèo,
Luôn
cái dùi thì cũng không.
Quy
Sơn nói Ngưỡng Sơn rằng: Hương Nghiêm đã ngộ đạo rồi.
Ngưỡng
Sơn nói: Để xem lại.
Ngưỡng
Sơn gặp Hương Nghiêm nói: Nghe nói Hương Nghiêm đã ngộ
đạo rồi phải không?
Hương
Nghiêm đọc kệ bài trên, Ngưỡng Sơn nói: Bài kệ này nói
ngộ Như Lai thiền thì được, chứ Tổ Sư thiền thì không
được.
Hương
Nghiêm làm bài kệ khác:
Ta
có một cơ nháy mắt nhìn y,
Nếu
mà chưa ngộ, đừng gọi Sa di.
Ngưỡng
Sơn nói: Mừng cho sư đệ ngộ Tổ Sư thiền.
Nói
thiệt nghèo, nhưng chưa phải thiệt nghèo, vì còn có nghĩa
lý để giải thích. Còn bài kệ ngộ Tổ Sư thiền không có
nghĩa lý để giải thích.
Như
nói:
Đâu
bằng say rượu nằm trên thảm,
Rãi
ném vàng ròng cho mọi người).
24
- NHẤT TÂM BẤT SANH, VẠN PHÁP VÔ CỬU
Dịch
Một
tâm chẳng sanh khởi, muôn pháp chẳng đúng sai.
Lời
khai thị:
Tô
Châu có, Thường Châu có, sáu lần sáu là ba mươi sáu, bảy
lần bảy là bốn mươi chín (đây là việc thường). Am chủ
dựng lên nắm tay. Bá Trượng mở 2 bàn tay, sản xuất túi
cơm (ám chỉ Tổ sư) một ngàn bảy (Cảnh Đức Truyền Đăng
Lục có ghi 1700 công án của Tổ sư, sau này có tới 7000 Tổ,
nhưng vẫn lấy phần đầu để nói).
Hiện
ra đầu thần mặt quỷ, con tôm đâu từng ra khỏi lưới (ý
của 1700 công án không có khác, cho đến 7000 công án, ý cũng
không có khác. Cho nên nói: “Con tôm đâu từng ra khỏi lưới”.
Kỳ
thật, mình đã ngộ rồi, thì cái gì cũng như cái nấy. Tất
cả đều ở trong tâm này, tâm này là hư không, không có cái
gì để ngoài tâm, tất cả đều là tự kỷ. Nếu chưa ngộ,
mà cho là đúng, cái kia sai, cái này của ta, cái kia không phải
của ta. Cho nên, mới sanh ra muôn thứ phiền não).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Một tâm chẳng sanh khởi, muôn pháp chẳng đúng
sai”. Người nghĩa giải dẫn chứng kinh luận rằng: “Tâm
sanh mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt mỗi mỗi pháp diệt. Các
pháp chẳng tự sanh, các pháp chẳng tự diệt, đều một tâm
biến hiện, một tâm không sanh, các pháp thường trụ”. Cho
nên người xưa có nói: “Trâu sắt không sợ sư tử rống,
giống như người gỗ thấy chim hoa”. Chính là nghĩa này vậy.
(Một
tâm chẳng sanh khởi, thì muôn pháp chẳng có đúng sai, nói
tất cả chỗ đúng sai, đều do tâm mình. Sự thật Diệu Tâm
là hư không chẳng có đúng sai. Vì người giải nghĩa kinh
luận ở trên, như Lục Tổ nói “chẳng phải phướn động,
chẳng phải gió động, mà tâm của các ông động, vì tâm
của các ông động, nên phướn động, đâu phải gió thổi
phướn động”! Nhưng người ta không tin, thấy rõ ràng gió
thổi, nên phướn động, đâu cho là tâm động.
Nói
nghĩa giải thì có lý; tâm không sanh nên các pháp thường
trụ. Như trong kinh Pháp Hoa nói: “Pháp đó trụ nơi pháp đó,
tướng thế gian là thường trụ”. Theo tướng thế gian sanh
diệt không thường trụ; nói thường trụ là thường trụ
nơi pháp, tức là pháp nào thường trụ ngôi pháp đó.
Như
miếng giấy thì trụ ở ngôi pháp giấy, đem giấy đốt thành
tro thì trụ nơi ngôi pháp tro; gió thổi tro bay mất thì trụ
nơi pháp không. Tất cả pháp nào trụ theo nơi pháp đó. Tướng
thế gian thường trụ là như vậy.
Tức
là không có ý nổi lên, như trâu sắt không có ý nổi lên,
đâu có sợ sư tử rống, giống như người gỗ thấy chim
hoa. Nghĩa là chúng ta thấy cái này cái kia không có ý xen vào
cho là… như người gỗ thấy chim hoa cũng như không thấy,
vì nó không có tâm niệm).
Tịch
nghĩa giải:
Đúng
thì đúng rồi! Nhưng ngài Vĩnh Gia lại nói:
“Ai
vô niệm, ai vô sanh?
Thật
vô sanh thì vô bất sanh.
Gọi
người gỗ lên hỏi thử,
Dụng
công cầu Phật lúc nào thành?
(Bản
tâm mình thì như như bất động, thì ai vô niệm, ai vô sanh,
nếu thật vô sanh thì vô bất sanh. Nói tu để thành Phật,
nhưng Phật không phải do tu mà thành, không phải do tu mà chứng
đắc. Cho nên, dụng công cầu Phật lúc nào mới thành! Kỳ
thật, Phật tánh của mình đã thành sẵn, chứ không phải
cầu mới thành).
Vậy
lời giải nghĩa trên, dường như trái ngược; xin hỏi: Bất
sanh là phải, hay vô bất sanh là phải? Thử xác định xem!
Kệ
kết thúc:
Vạn
pháp xưa nay chẳng đúng sai,
Một
tâm đâu có sanh, bất sanh.
Lòng
từ dặn dò dù tha thiết,
Tiếng
sáo chăn trâu khó hợp đàn.
(Vạn
pháp là do tâm tạo, vạn pháp sanh diệt trong hư không, vốn
chẳng đúng sai. Nếu cho đúng hay cho sai là không phải bản
lai diện mục của bản tâm.
Tâm
là bất nhị, không phải sanh và không phải bất sanh, vì sanh
nên có bất sanh, tức là nhị.
Tiếng
sáo chăn trâu không theo quy định của khung nhạc, nên khó
hợp đàn, vì họ tự do thổi ).
25
- VÔ CỬU VÔ PHÁP, BẤT SANH BẤT TÂM
Dịch
Chẳng
đúng sai thì chẳng phải pháp, cũng chẳng sanh cái Tâm chấp
“chẳng phải Tâm”
Lời
khai thị:
Núi
Thái Hoa không hiểm (ở Trung Quốc, cao mà không hiểm), biển
mêng mông không sâu, bài thơ “Nguyệt Thực” của Lư
Đồng đâu khó đọc, khúc Thái Cổ Bá Nha thật khó tri âm
(chỉ có Tử Kỳ là tri âm), chỉ có ám hiệu tử của Đông
Sơn nắm không kẽ hở, buông thì rất khó tìm (ám hiệu tử
của Đông Sơn Tổ sư bao gồm tất cả không kẽ hở, muốn
tìm rất khó), làm phiền bao nhiêu người lanh lợi, chen
lấn tranh dành đến ngày nay (người thông minh lanh lợi, dùng
ý thức tìm kiếm, thì sự giải thoát không bao giờ có).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Chẳng đúng sai thì chẳng phải pháp, cũng chẳng
sanh cái Tâm chấp “chẳng phải Tâm”. Người nghĩa giải
cho rằng: 2 câu này ngược với 2 câu trên. Nói: “Không đúng
sai” thì muôn pháp tự tiêu (vì pháp phải có tương đối:
Đúng, sai), “Không sanh” thì một tâm tự tịch (không có
sanh khởi), pháp tiêu tâm tịch, bản thể của Chí đạo (Tự
tánh) rõ ràng, chẳng đợi đắc mà đắc rồi.
Tịch
nghĩa giải:
Lời
nghĩa giải trên, tuy lý có cao siêu, nhưng cũng là lời nói
của ý thức, không đúng thật tế của bản tâm, nên ngài
Trung Phong phủ định dưới đây:
Xưa
kia Tăng hỏi Triệu Châu: “Học nhân mới vào Tòng Lâm, xin
thầy chỉ dạy” Châu hỏi: “Ăn cháo rồi chưa?”, Tăng
nói: “Ăn rồi”. Châu nói: “Rửa chén bát đi”! Tăng ấy
ngộ liền. Vậy Tăng ấy ngộ chẳng đúng sai ư? Ngộ không
sanh ư? Ngộ chẳng phải tâm ư? Ngộ chẳng phải pháp ư? Xin
xác định xem! (Nếu mà ngộ những điều này, thì chẳng phải
ngộ).
Kệ
kết thúc:
Chỉ
vì lỗi chấp chẳng đúng sai,
Sanh
tâm đều bởi chấp “không sanh”.
Đêm
lạnh vượn khóc trăng đỉnh núi,
Khách
đường xưa nay không thể hành.
(Đúng
sai là pháp tương đối, vì còn chấp nên không được ngộ.
Sanh
tâm, không sanh là bệnh chấp, đều là sanh tâm rồi.
Hai
câu cuối diễn tả không có niệm nào, sanh hay chẳng sanh).
26
- NĂNG TÙY CẢNH DIỆT, CẢNH TRỤC NĂNG TRẦM
Dịch
Năng
theo cảnh diệt, cảnh theo năng mất.
Lời
khai thị:
Đem
mọât lớp khử bỏ một lớp (theo hiểu biết của người
thế gian, có năng và cảnh, tức là có tâm năng biết và cảnh
sở biết. Cuộc sống hàng ngày đối cảnh, muốn lột bỏ
cảnh này, mà phải nổi tâm để bỏ, thì cái tâm đó còn
phải bỏ nữa.
Tham
thoại đầu là tâm niệm chưa nổi lên, tâm niệm nổi lên
không phải thoại đầu. Dù đến thoại đầu cũng là vô thủy
vô minh, huống là chưa đến thoại đầu. Cho nên nói: “Đem
mọât lớp khử bỏ một lớp, cũng như đem vọng để
trừ vọng, thì cái vọng đó đâu thể trừ được).
Nên
nói, đường xa mới biết sức ngựa, chẳng đem một lớp
khử bỏ một lớp, lâu ngày mới thấy lòng người (đem vọng
để trừ vọng hay không đem vọng để trừ vọng. Bởi vì
có đối với không, có mất rồi nên nói không. Không này
do có mới thành lập [ở trên có nói]. Lục Tổ nói “hữu
niệm là niệm tà, vô niệm là niệm chánh”. Vô niệm đối
với hữu niệm cũng trong tương đối. Cho nên nói “chánh
tà đều quét sạch”).
Công
án 2 lớp; Chân đã duỗi thì không rút, ngoài ba ngàn dậm,
ai là tri âm? (Cái gì vẫn y như cũ, không có ý mình vô, như
công án: “Núi sông vẫn là núi sông”. Ban đầu cho núi sông
thật núi sông, tu một thời gian sau, cho núi sông chẳng phải
là núi sông. Khi chứng quả rồi thấy núi sông vẫn là núi
sông. Chấp thật núi sông và chẳng phải núi sông đều là
trước tưởng. Chỉ có người chứng quả không đem ý niệm
vào việc của thế gian đã lưu hành, tức là không có chấp
trước.
Tri
âm là thế lưu bố tưởng [tư tưởng của thế gian lưu hành],
nghĩa là phải có lý. Như tiếng đàn của Bá Nha, chỉ có
Tử Kỳ thưởng thức ngân điệu cao thấp, mới tri âm với
nhau. Thật tế, biết và không biết không có dính dáng gì
hết, không có tri âm và cũng không có không tri âm.
Tại
sao? Nếu mà có thật, thì phải có sự bắt đầu. Như người
ta gọi tôi là thầy Duy Lực, tên Duy Lực này đâu phải của
tôi. Thầy bổn sư tôi đặt Duy Lực, rồi người ta gọi thầy
Duy Lực, tôi cũng nhìn nhận là Duy Lực. Duy Lực là giả danh
đặt ra, đâu phải thật tế của tôi. Rồi nhìn Duy Lực là
tôi; người ta khen Duy Lực thì vui, chê Duy Lực thì buồn.
Biết
và không có liên quan gì đến thật tế đâu! Như nói thân
này, do cha mẹ tôi sanh ra; cha mẹ tôi không có bắt đầu,
mà sao thân tôi bắt đầu từ cha mẹ của tôi được! Chỗ
bắt đầu không có chỗ căn cứ, thì lấy cái gì nói là tôi!
Mà nói ông là tri âm của tôi!).
Từ
khi mùa đông người về,
Mấy
đám mây xuân bọc núi xanh.
(Bốn
mùa thay phiên đến rồi đi, đâu có sự bắt đầu mùa nào!
Như thân tôi, do cha mẹ tôi sanh ra, cha mẹ tôi đâu phải bắt
đầu. Khi tôi chưa sanh ra, vậy tôi ở đâu? Câu thoại đầu:
“sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?” Dẫu cho biết sanh
từ đâu đến, chết đi về đâu, cũng không có đúng. Như
nói sanh chỗ này, chỗ kia, chỗ khác… nhiều chỗ, nhưng chỉ
chỗ bắt đầu thì không ra.
Chính
thật tế là vậy, mà con người cứ hay tìm hiểu biết, rồi
nói ông này tri âm, ông kia tự kỷ, có dính dáng gì đâu!
Tại mình lập ra như vậy, không phải thật tế. Tham thiền
là ngộ cái thật tế. Dù có hiểu biết truy tầm không đến
chỗ thật tế).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Năng theo cảnh diệt, cảnh theo năng mất”. Người
nghĩa giải dẫn chứng lời ngài Vĩnh Gia rằng: “Cảnh không
trí thì không rõ, trí không cảnh thì chẳng sanh (trí tức
tâm là trí huệ, nếu cảnh không có trí huệ làm sao biết
cảnh đó? Không có tâm thì không có năng biết cảnh vui, cảnh
buồn, cảnh đẹp, cảnh xấu; vậy ai biết? Thì phải có tâm
năng biết. Còn trí không có cảnh thì chẳng sanh, vì có cảnh
nên sanh tâm, cho cảnh này vui, buồn, đẹp, xấu. Buồn, vui,
đẹp, xấu là tâm. Nếu không có cảnh thì tâm đâu có vui,
buồn, đẹp, xấu). Trí sanh do rõ cảnh mà sanh, cảnh rõ do
trí sanh mà rõ” (hai cái đối đãi sanh nhau).
Nên
biết năng là một tâm, cảnh là các pháp (vui, buồn, đẹp,
xấu); năng tức tên khác của trí, cảnh tức biệt hiệu của
pháp, cảnh diệt thì tâm năng rõ cũng diệt, tâm không thì
cảnh sở hiện cũng mất (tức là tâm sanh cảnh, cảnh sanh
tâm, hai cái sanh với nhau, như con gà sanh ra trứng gà, trứng
gà nở ra con gà. Hai cái không lìa nhau mà độc lập được).
Năng
và cảnh giúp nhau tồn tại (như con gà và trứng gà), nhiếp
nhau dung thông (hai cái sanh nhau), vốn không có ngăn cách (không
có lìa nhau được), người không rõ nghĩa này nên gọi là
mê (dẫu cho biết nghĩa này vẫn là mê; vì thật tế không
phải vậy, cho nên ngài Trung Phong dùng chữ “tịch” để
quét sạch).
Tịch
nghĩa giải:
Theo
lời nói như vậy, gọi là liễu ngộ được chăng? Chẳng
những không liễu ngộ, lại như người đói khát ăn muối,
càng thêm đói khát mà thôi (hiểu theo nghĩa giải đâu có
ích lợi gì! Như khát nước mà lại ăn muối).
Kệ
kết thúc:
Đồng
biết ánh sáng do đèn hiện,
Cùng
nói làn sóng nhờ nước xanh.
Nước
cạn, đèn tắt, sóng, ảnh hết,
Mới
đáng ngoài cửa ăn roi Tổ.
(Tất
cả tâm và cảnh đều diệt hết, mới đủ tư cách ăn roi
Tổ, tức là đủ tư cách để cho Tổ dạy. Cho nên nói: Khó
thì thật là khó, nói dễ thì thật là dễ. Ăn cơm cứ ăn
cơm, mặc áo cứ mặc áo, đừng có sanh tâm đúng hay không
đúng, cho là thế này, phải hay không phải, đối cảnh không
có sanh tâm thôi).
