7
– VIÊN ĐỒNG THÁI HƯ, VÔ KHIẾM VÔ DƯ
Dịch
Tròn
đầy thái hư, không thiếu không dư.
Lời
khai thị:
Bản
tâm của mình vốn chẳng dư thiếu, nhưng cuộc sống của
mình lại có tính toán nên có dư thiếu. “Trang Châu gọi
vạn vạât là con ngựa” (Trang Châu [Trang Tử] và Lão Tử
là nhà triết học đông phương. Triết lý của họ chưa đến
cùng tột, so với đạo Phật thì còn cách xa. Nhưng đối với
triết học Tây phương thì họ cao hơn nhiều.
Tư
tưởng của triết học tây phương cũng đến vô thỉ vô minh.
Nhưng họ biết vô thỉ vô minh là suy lý để biết được,
chưa phải kinh nghiệm trực tiếp. Còn triết học đông phương
của Trang Tử, Lão Tử có kinh nghiệm trực tiếp tới vô thỉ
vô minh).
Long
Môn cho “mười phương là con lừa” (Phật pháp gọi 10 phương
tức là không gian hay hư không. Mười phương là trên,
dưới, đông, tây, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc.
Ai nói ngựa cho là ngựa, nói lừa cho là lừa, đó đều là
ý của mình. Đem ý của mình vô trong vũ trụ vạn vật, thì
không phải bản thể vũ trụ vạn vật.
Chư
Tổ Thiền tông kiến tánh nói ra chuyển ngữ thì không trụ
chỗ nào. Mọi vật vẫn y như cũ. Như cái tách vẫn là cái
tách, cái bình vẫn là cái bình… không thêm ý của mình vô
trong đó, nếu thêm ý của mình vô trong đó, thì có kiến
lập cái lý. Vậy không thể thí dụ cho là cái gì! Cho là
con ngựa, con lừa đều sai lầm; không thể đặt tên, không
có nghĩa lý gì hết, nhưng tất cả đều phải nhờ nó).
Giống
như chung một đường, nhưng chẳng cùng lối (cũng như vạn
vật trong vũ trụ cùng chung cái không, tức chung một đường,
mà mỗi thứ thì khác nhau. Như thân của chúng ta mỗi
người đều khác, nhưng cùng chung ngồi trong một Thiền đường.
Ví
như ánh sáng đèn, đốt 100 cây đèn chỉ có một ánh sáng,
chứ không phải nhiều ánh sáng, nhưng mỗi cây đèn đều
được thắp sáng. Mặc dù chỉ có một ánh sáng, mà mỗi
cây đèn lại khác nhau. Aùnh sáng cùng khắp, không thể chỉ
ra ánh sáng riêng của mỗi cây đèn).
Có
nước mới có bóng trăng hiện (trên bầu trời chỉ có một
mặt trăng; rồi để 100 thâu nước, thấy trong đó đều có
100 mặt trăng. Như có cái không mà chúng ta đều ngồi trong
đó).
Vô
tâm mới đắc dạ minh châu (dạ minh châu thí dụ cho tâm mình,
ban đêm nó sáng. Đắc dạ minh châu như phát hiện tâm mình.
Nhưng dùng hữu tâm và vô tâm không thể phát hiện được.
Tại sao dùng vô tâm không thể phát hiện bản tâm được?
Bởi có câu: “Vô tâm còn cách một lớp rào”, vì vô tâm
và hữu tâm là đối đãi nhau. Còn Diệu tâm là tuyệt đối
không có tương đối).
Hỏi:
Thế
nào là tọa vong?
Đáp:
Vong
là quên, tức là ngồi đến vô tâm thì quên hết. Lão Tử
và Trang Tử tu đến cao nhất là vô cực, tức là vô thỉ
vô minh. Từ vô thỉ vô minh nổi lên một niệm, Trang Châu
gọi là thái cực, rồi sanh tương đối âm dương. Khoa học
cho tất cả sự vật đều có âm dương, như: Hoa cỏ, trái
cây, con người, con vật… đều từ nhất niệm này sanh ra,
nhà Phật gọi là “nhất thiết duy tâm tạo”. Trang Châu
cho là con ngựa hay con lừa đều không phải bản thể, vì
có “cho là” đều không phải bản lai diện mục. Bản lai
diện mục thì không có thêm bớt.
Tổ
Thiền tông nói: ‘Vì có nên có cái không’. Chấp không là
đoạn kiến của ngoại đạo, chấp có là thường kiến của
ngoại đạo. Trang Châu và Lão Tử đối với đạo Phật
gọi là ngoại đạo. Vì họ có cái “không có”, không có
tức là “có”. Bởi vậy, họ chấp có vô cực, tức là
không có. Nếu không chấp có thì làm sao có cái không có để
chấp! Đối với Thiền tông không dính dáng gì, vì không trụ
tức là không chấp.
Lời
nghĩa giải:
“Tròn
đồng thái hư, không thiếu không dư”. Ở Tòng Lâm bàn với
nhau rằng: Tâm này nơi thánh chẳng thêm, nơi phàm chẳng bớt,
tròn như hư không, mỗi mỗi đầy đủ.
(Đây
là lời nói phân biệt của mình gọi là ý ngôn, tức là ngôn
ngữ diễn bày ý của mình. Còn bản lai diện mục không có
xen ý gì hết. Lời nói không thể thay thế được; cho nên
không phải ở trong lời nói, không thể hiểu theo lời nói.
Ví
dụ, tôi biết rõ mặt mũi ông Trương. Có người hỏi tôi:
Ông Trương như thế nào? Tôi diễn tả rất tỉ mỉ, nhưng
người ấy gặp ông Trương cũng không biết. Khi nào có ông
Trương trước mặt người ấy, tôi giới thiệu thì người
ấy sẽ thấy rõ.
ÔângTrương
là hình thể có số lượng; dù diễn tả cũng không biết
được, huống là tâm của chúng sanh không hình tướng, không
số lượng, thì làm sao biết được! Cho nên, dùng lời nói
văn tự không phải bản tâm của mình. Bản tâm của mình
phải tự ngộ mới được. Nếu giải theo lời nói, mỗi mỗi
đều đầy đủ; đó là nghĩa giải, chứ không phải thật
tế. Thật tế không có nghĩa giải).
Tịch
nghĩa giải:
Ngài
Trung Phong nói nghĩa giải trên, như thế khác chi người đi
tham học các nơi, ngồi chưa ấm chiếu. Tức là đem những
lời này chứa trong bụng, chỉ có thể dùng để đàm luận
mà thôi. Hễ gặp một việc nào có dính chút lợi ích của
mình, thì cái niệm so sánh đắc thất nổi dậy ùn ùn, muốn
khiến cho tròn thái hư đâu có thể được (cũng như các việc
trong xã hội, nói thì hay lắm, nhưng đụng chạm một chút
lợi ích của mình thì không được. Vậy làm sao nói đồng
được!).
Cho
nên việc này cần phải ngộ, ngộ rồi đâu có cảnh thứ
hai để làm đối đãi ư! (Đối đãi là có và không có, đồng
với không đồng. Bởi vậy, đồng là nhị, chẳng đồng cũng
là nhị. Tại sao? Vì có nhị mới có đồng, tức là cái này
đồng với cái kia; khác cũng là nhị, tại cái này khác với
cái kia là chẳng đồng. Đồng với chẳng đồng là nhị.
Tâm mình chẳng nhị, nên phải tự ngộ mới được).
Kệ
kết thúc:
Tò
vò làm ổ trên mi muỗi,
Muốn
cùng đại bàng nối cánh bay.
Muốn
cho hư không chẳng thiếu kém,
Mở
mắt bị nhốt trong chiêm bao.
(Tò
vò sao làm ổ được trên mi muỗi? Tò vò nhỏ xíu, còn đại
bàng quá lớn, làm sao nối cánh bay được!
Hiện
giờ, mình bị nhốt trong mở mắt chiêm bao. Nếu cho hư không
là cái gì, đều chẳng phải. Vì hư không chẳng phải là
cái gì, mà nói hư không chẳng thiếu kém, là đem ý của mình
vô, thì phải ở trong mở mắt chiêm bao.
Ra
ngoài mở mắt chiêm bao tức là kiến tánh. Chưa kiến tánh,
có nói gì cũng chẳng đúng; vì ý của mình đã có hai chữ
cho là)
8
- LƯƠNG DO THỦ XẢ, SỞ DĨ BẤT NHƯ
Dịch
Bởi
do thủ xả, cho nên bất như (như là đúng như tự tánh)
Lời
khai thị:
Tổ
Tiến Phước gặp người hỏi cái gì, thì trả lời: “Đừng
có vọng tưởng”. Suốt đời Ngài, mấy chục năm gặp người
hỏi, cũng trả lời: Đừng có vọng tưởng.
Có
người hỏi Triệu Châu: Con chó Phật tánh không?
Triệu
Châu trả lời: Vô (không).
Hiện
giờ người học thiền ở Nhật Bản tham chữ “vô”.
Tuyết
Phong ném con ba ba ở Nam sơn. Vân Môn đánh chết cá lý ngư
Đông hải. Hưng Hóa đi dự trai tăng trong thôn làng, vào trong
cổ miếu tránh gió bão. Đơn Hà thiêu Phật gỗ, làm cho Viện
chủ rụng lông mày… những việc kể trên, đã nghi chết
biết bao đại trượng phu (có ý cái nghi tình lên đến tột
đỉnh).
Trời
lạnh, Đơn Hà đem tượng gỗ đốt lấy hơi ấm, Viện chủ
thấy vậy nói: Khùng điên sao đem Phật của tôi đốt?
Đơn
Hà trả lời: Đốt tìm xá lợi.
Viện
Chủ nói: Phật gỗ làm gì có xá lợi?
Đơn
Hà nói: Phật này không có thì lấy Phật khác.
Viện
Chủ đâu biết, đó là cơ xảo của Tổ, cho nên ngay đó lông
mày rụng hết. Việc này làm cho thiên hạ phát nghi tình, nghi
chết biết bao đại trượng phu thì mới được kiến tánh.
Chư
Tổ làm việc gì cũng làm cho người ta phát nghi tình. Nghi
là nhân, ngộ là quả. Nên nói: Đại nghi đại ngộ, tiểu
nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ.
Lời
nghĩa giải:
Tâm
này đã tròn như hư không, thì không có thiếu tướng nào
nên tất cả đều như. Nếu người ở trong các pháp dơ dáy,
trong sạch; có tâm lấy dơ dáy, bỏ trong sạch hay lấy trong
sạch, bỏ dơ dấy thì đã bất như; tức là có phân biệt
lọt vào tương đối của nhất niệm vô minh, không phải đúng
như bổn lai bản tâm.
Tịch
nghĩa giải:
Nếu
bậc Tu sĩ tham học chơn chánh, thấy những người này liền
phun nước miếng vào mặt, chẳng phải tánh nóng (tức là
những người đó nói bậy, dù có lý cao siêu cùng tột, cũng
phun nước miếng vào mặt họ)ï.
Vì
con rồng vẽ đâu có thể làm mưa được (tại sao? Chỉ có
rồng chân thật mới làm mưa. Hành giả tham thiền muốn hiện
ra tâm chân thật, mà chỉ nghe, suy nghĩ để nói ra, giống
như con rồng vẽ làm mưa).
Kệ
kết thúc:
Hai
việc thủ xả đã bất như,
Con
trâu ai dám con gọi lừa.
Bản
thể kim cang khắp pháp giới,
Cũng
là dưới hàm trồng lại râu.
(Bản
thể diệu tâm cùng khắp pháp giới như kim cang cứng chắc,
không có thể bị tổn thương lay động.
Râu
tự mọc làm sao trồng được! Nếu cho bản tâm cứng
như kim cang là trồng lại râu, hay nói lý cao nhất cũng là
trồng lại râu).
9
- MẠC TRỤC HỮU DUYÊN, VẬT TRỤ KHÔNG NHẪN
Dịch
Đừng
theo nơi có, chớ trụ nơi không.
Lời
khai thị:
Vạn
vật lăng xăng con người ngu độn, lìa tướng lìa danh, có
ai không hiểu. Vì sao Đạt Ma phân da phân tủy, Lâm Tế lập
chủ lập khách, làm cho con cháu lăn lộn tìm!
(Tổ
Đạt Ma muốn xét môn đồ, để biết trình độ của mỗi
người đến mức nào. Tất cả môn đồ đều trình cái hiểu
của mình. Có người trình xong Tổ cho là được da của tôi,
thêm một bước nữa thì được thịt của tôi. Cuối cùng
đến Huệ Khả đi ra không nói gì cả, thì Tổ nói “được
cái tủy của tôi”. Rồi truyền pháp cho Huệ Khả làm nhị
Tổ. Bởi vì không thể nói được, nói ra là không đúng).
Lời
nghĩa giải:
“Đừng
theo nơi có, chớ trụ nơi không”. Có với không đều như
huyễn, khởi tâm chấp trước thì thủ xả tranh nhau (chấp
có là thủ, chấp không là xả; có thủ có xả đều không
được). Một niệm chẳng sanh thường ở trung đạo là
đạo nhân giải thoát (tức là không lấy không bỏ, không
cho là có, không cho là không có, không sanh niệm nào thì ở
trong trung đạo là đạo nhân giải thoát).
Tịch
nghĩa giải:
Theo
nghĩa giải ở trên, ngài Trung Phong cho là sai lầm. Đợi ngươi
biết là giải thoát đã lọt ngoan không rồi (vì cái biết
“giải thoát” thuộc phạm vi tương đối của ý thức, mà
ý thức do chúng sanh điên đảo tạo ra. Như Phật đã phủ
nhận trong kinh Bát Nhã rằng “vô nhãn, vô nhĩ, vô tỷ, vô
thiệt, vô thân và vô ý thức”.
Nếu
là bậc ngộ tâm chân thật, tức hiện ra bản thể trống
rỗng, cùng khắp không gian thời gian, đâu có pháp đối đãi
hữu và vô để dung nạp. Hữu duyên và không nhẫn là do tình
thức của chúng sanh bày đặt ra. Ở nơi Tự tánh bình đẳng,
đã không có pháp hữu vô để phân biệt, thì hữu tức là
vô vậy).
Kệ
kết thúc:
Đừng
theo nơi có, còn là dễ,
Chớ
trụ nơi không mới thực khó.
Hai
đầu khó dễ đều chấm dứt,
Tổ
đình y xưa chẳng dính dáng.
(Ở
nơi tình thức phân biệt, không lọt vào có thì cũng lọt
vào không; không lọt vào không cũng lọt vào có, chỉ có nghi
tình thì có và không đều chẳng biết. Đã chẳng biết thì
không bị có và không dính mắc. Vậy làm gì có khó dễ ư!
Đến đây gặp nhân duyên, ồ lên một tiếng thì tình thức
tan rã, Tổ đình vẫn y xưa).
10
- NHẤT CHỦNG BÌNH HOÀI, DÂN NHIÊN TỰ TẬN
Dịch
Trọn
một bình đẳng, tuyệt nhiên tự sạch.
Lời
khai thị:
Đạo
tràng chẳng động, pháp vốn vô sanh (tất cả đều nói bản
tâm. Bản tâm không có số lượng, không có hình tướng, giống
như hư không nên nói chẳng động. Chẳng động là vô thỉ
vô sanh, không có sự bắt dầu và không có sự cuối cùng;
tức là vốn không có sanh khởi, tất cả đều tự nhiên),
nên nói: Trăng sáng thấu song cửa, gió mát đầy bình phong
(thì vũ trụ vạn vật y như cũ).
Chỗ
có Phật chẳng được trụ (nghĩa chữ ‘Phật’ là giác
ngộ, vì đối với mê. Tâm của mình không có tương đối,
vốn không có mê ngộ. Nếu còn ngộ tức là còn mê. Cho nên,
ngộ cuối cùng thì cái ngộ cũng tan rã. Thiền tông gọi là
đại tử đại hoạt, cũng nói là đồng như chưa ngộ. Nếu
ngộ rồi còn ôm cái ngộ, thì vẫn còn mê. Thiền tông gọi
là tiểu tử tiểu hoạt, tức chưa ngộ cuối cùng).
Chỗ
có Phật chẳng được trụ (không trụ chỗ ngộ). Dùng sắt
gói tim đèn (chuyện này không thể xảy ra). Chỗ không Phật
chạy mau qua (không chấp có Phật, cũng không chấp không có
Phật).
Bông
đẹp trải gấm lụa (bông đẹp trải gấm lụa là việc thừa,
tức là mọi việc sẵn sàng tự nhiên; không thêm không bớt,
không xấu không đẹp; tất cả hình tướng, số lượng đều
không thật có).
Ngoài
ba ngàn dặm tìm bông hái, mười phương hư không đều tiêu
mất (là hình dung bản tâm, không có số lượng, không có
hình tướng, không thể tiếp xúc. Nói ba ngàn dậm tìm bông
hái, làm sao có! Đã ngộ thì không chấp hư không, nên nói:
Mười phương hư tiêu mất).
Dễ
thương lượng, khó định chuẩn (nếu định chuẩn thì có
lý, cao nhất là chân lý; đã lập chân lý thì có giả lý
là có nhị, cũng là pháp tương đối. Bản thể diệu tâm
không có tương đối, không có chân giả, không có tiêu chuẩn.
Mặc dù nói dễ thương lượng, nói cái gì đó… thì nói
được. Nhưng thật tế không có tiêu chuẩn, không có định
chuẩn, không có số lượng, không có hình tướng. Vậy làm
sao lục căn tiếp xúc được? Lấy cái gì tiêu chuẩn để
làm chân lý?).
Trâu
sắt ở đáy biển ăn roi sắt (chuyện này không thể có).
Bên đầu trăm cỏ gió lạnh lùng (tức là mọi thứ đều
như cũ, không đem ý mình vô mọi sự vật. Như cuộc sống
hàng ngày, ăn cơm thì ăn cơm, mặc áo thì mặc áo, nói năng
tiếp khách thì nói năng tiếp khách. Cái gì vẫn y như cũ,
đừng lấy ý của mình cho là phải hay không phải, cho là
hợp lý hay không hợp lý.
Mục
đích tham Tổ Sư thiền là muốn mình chấm dứt 2 chữ “cho
là”, tức ngưng tác dụng của bộ óc, để cho cái biết
khắp không gian, khắp thời gian của tự tánh hiện ra).
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Trọn một bình đẳng, tuyệt nhiên tự sạch”.
Người nghĩa giải cho rằng: Tình chấp thủ xả đã sạch,
tri kiến thánh phàm không nơi nương tựa, tự nhiên tất cả
đều bình thường, tất cả chỗ tịch diệt.
(Nghiệp
chướng, phiền não, đau khổ… những danh từ này là phàm
phu. Bát nhã, bồ đề, giải thoát… những danh từ này là
bậc Thánh. Tất cả những danh từ trên đều là những sợi
dây trói buộc. Nghiệp chướng, phiền não, đau khổ… là
sợi dây bằng bố. Bồ đề, bát nhã, giải thoát… là sợi
dây bằng vàng. Dù vàng có quý, nếu chấp vào đó, cũng bị
trói buộc. Tất cả tình chấp thủ xả đã sạch, tri kiến
thánh phàm không nơi nương tựa, thì tự nhiên tất cả chỗ
đều bình thường và tịch diệt).
Tịch
nghĩa giải:
Dù
nghĩa giải trên có cao tột; nhưng ngài Trung Phong lại nói:
Ban ngày không ngủ, đừng nói mớ. Như nay mắt thấy sắc,
tai nghe tiếng, gọi cái gì là bình thường!
(Tất
cả vẫn y cũ; Thiền tông cần chứng ngộ, tiến đến chỗ
thật tế. Chỗ thật tế không thể suy nghĩ đến. Suy nghĩ
còn không đến, làm sao dùng danh tự lời nói để diễn tả
được!)
Kệ
kết thúc:
Tuyệt
nhiên sạch hết chẳng ngằn mé,
Bên
đầu trăm cỏ mở chánh nhãn.
Sanh
tử Niết bàn đều bóp nát,
Chẳng
biết bình thường đặt nơi nào.
(Không
còn cái gì để trong tâm, tâm này như hư không, không ngằn
mé. Không có ngằn mé làm sao lấy ý thức giải thích được!
Người
chứng ngộ mở chánh nhãn, mở chánh nhãn thì không có nhãn.
Thiền tông có câu: “Thường nghe khi chưa nghe” là đối
với lỗ tai, “thường thấy khi chưa thấy” là đối với
con mắt. Bởi vậy, Tự tánh như hư không, tất cả đều đang
thấy đang nghe; không phải nghe thấy của lục căn.
Như
cảm giác của lớp da, luôn luôn cảm giác khắp cơ thể; có
tiếp xúc nó cũng có cảm giác, không tiếp xúc nó cũng có
cảm giác. Đánh cho nó đau thì nó biết đau, làm cho nó ngứa
thì nó cũng biết ngứa. Lúc không tiếp xúc thì nó biết không
tiếp xúc, lúc nóng nó biết nóng, lúc lạnh thì nó biết lạnh,
lúc không nóng thì nó biết không nóng, lúc không lạnh thì
nó biết không lạnh.
Cái
biết lớp da luôn luôn biết; chẳng phải có tiếp xúc thì
mới biết, không tiếp xúc thì không biết. Có tiếp xúc nó
vẫn biết, không tiếp xúc nó vẫn biết. Nếu không biết
làm sao biết không tiếp xúc!
Tâm
mình cũng vậy, không phải thấy cho là thấy, nghe cho là nghe;
cái dùng của nó, mình không dùng nó vẫn dùng. Như cảm giác
lớp da, mình không dùng, nhưng nó vẫn dùng; chứ chẳng phải
mình dùng nó mới dùng. Cho nên số lượng không hạn chế
được. Như: Bên đầu trăm cỏ là số lượng.
Chánh
nhãn không cần thấy mà thấy, vì cái thấy luôn luôn cùng
khắp thời gian. Không phải dùng con mắt xem mới thấy. Vì
thấy nghe đều sẵn sàng. Như cái biết lớp da luôn luôn sẵn
sàng. Tiếp xúc một chỗ nó cũng biết, mười chỗ đồng
thời tiếp xúc nó đồng thời biết mười chỗ, một trăm
chỗ đồng tiếp xúc nó đồng thời biết một trăm chỗ.
Nếu bớt đi một chỗ nó biết bớt đi một chỗ. Vì cái
biết đó sẵn sàng, không phải không tiếp xúc mà bị gián
đoạn. Cho nên, sự thấy nghe của Tự tánh không bao giờ ngưng
dứt.
Như
mặt trời lúc nào cũng chiếu sáng, chứ không có ngưng chiếu.
Khi mây đen và quả đất che khuất, không thấy ánh sáng; không
phải mặt trời không chiếu ánh sáng. Dụng của bản tâm
cũng vậy, luôn luôn cùng khắp không gian thời gian, nó không
bao giờ ngưng. Hiện giờ mình làm cho nó ngưng, nhưng sự thật
nó không ngưng; mà người ta không biết, cứ cho mắt xem mới
thấy, dùng tai mới nghe.
Nếu
vậy, tất cả đã sẵn sàng rồi. Không phải có sanh tử rồi
hết sanh tử mới chứng Niết Bàn. Sanh tử và Niết Bàn là
pháp đối đãi. Bản tâm không có đối đãi, nên nói: Sanh
tử và Niết Bàn đều bóp nát.
Do
tâm mình chấp nên có sanh tử và Niết Bàn. Sanh tử và Niết
Bàn đều bóp nát, gọi cái nào bình thường hay không bình
thường! Vậy bình thường đặt ở nơi nào? Có bình thường
thì có không bình thường cũng là pháp tương đối vậy.
Theo
lời nói của Tam Tổ mà giải nghĩa thì xa với thật tế.
Ý của Tam Tổ muốn mình chứng ngộ, cần phải tham thiền
đến chỗ kiến tánh được thấy chỗ thật tế. Nếu
chưa ngộ mà đuổi theo lời nói, để giải thích là sai lầm,
không đúng thật tế).
11
- CHỈ ĐỘNG QUY CHỈ, CHỈ CÁNH DI ĐỘNG
Dịch
Ngăn
động trở về tịnh, tịnh ấy càng động thêm.
Lời
khai thị:
Nói
quanh lao học danh tướng, nói thẳng chẳng có dài dòng (lời
nói của mình không nói trực tiếp, nói từ xa đến gần gọi
là nói quanh. Nhưng nói chuyện phải dùng danh tướng để nói,
phàm có lời nói là lao nhọc danh tướng. Nếu nói thẳng chẳng
có dài dòng, mặc dù chẳng có dài dòng cũng là lời nói.
Nói quanh hay nói thẳng đều không có dính dáng đến thật
tế).
Nói
quanh tạm gác một bên, thế nào là nói thẳng? Trương Tam
ăn gậy sắt, Lý Tứ chịu đớn đau (người này bị đánh,
người kia chịu đớn đau, đâu có việc này!).
Người
sống vào quan tài, người chết đi đưa đám; Quan Âm mất
hết thần thông, lại bị con nít chọc ghẹo (những chuyện
này không thể xảy ra). Nói thẳng tạm gác một bên, nói quanh
là thế nào? (Người ta thường nói thẳng nói quanh, nên lao
nhọc danh tướng là bị trói buộc).
Hoa
giác ngộ phải trồng nơi Tự tánh (tức là cần phải tu giác
ngộ nơi Tự tánh, mới đến chỗ thật tế. Chỗ thật tế
không thể nói quanh nói thẳng được). Hạt giống Phật nên
theo trên Tâm địa (Tâm giống như đất, muốn trồng hạt
giống Phật, phải trồng trên Tâm địa; tức là do tâm mình
tự chứng ngộ mới được).
Lời
nghĩa giải:
Chân
tâm trạm nhiên luôn luôn bất động, xưa nay lưu chuyển đều
do vọng kiến (nghĩa là mình lưu chuyển trong lục đạo đều
do vọng kiến mà ra). Vậy động đã là vọng, tịnh cũng là
vọng; nếu dùng vọng để ngăn vọng, giống như ôm củi chữa
lửa, chỉ thêm cháy mạnh (làm sao chữa cho nó tắt được!).
Lấy
lời Pháp sư Tăng Triệu dẫn chứng rằng: “Muốn tìm chỗ
bất động, đâu phải buông động để cầu tịnh, ắt phải
cầu tịnh ở nơi động. Vì cầu tịnh ở nơi động, dù động
mà thường tịnh, chẳng buông động để cầu tịnh, dù tịnh
mà chẳng lìa động”.
(Sự
thật sống trên đời, cái gì cũng động, chứ chẳng phải
tịnh. Có nói tịnh thì tịnh đó cũng ở trong động; như
bây giờ mình ngồi yên một chỗ thật tịnh trên quả đất,
nhưng sự thật nó đang động của quả đất quay xung quanh
mặt trời.
Nhà
khoa học tính trái đất quay 180.000 km/g. Vậy làm sao thấy
được tịnh! Nhưng mình lại thấy tịnh. Tất cả vật
chất, như cái bàn đang tịnh tức không động; nếu dùng kính
hiển vi gấp mấy ngàn lần, thấy các hạt nguyên tử
đang chuyển động. Vì tất cả vật chất đều do các
nguyên tử hợp thành; mỗi nguyên tử ở giữa có một trung
tử, xung quanh có nhiều điện tử đang xoay ngày đêm không
ngừng, không có sự bắt đầu và cuối cùng.
Như
vậy cái bàn này đang tịnh, nhưng sự thật nó cũng đang động.
Tất cả nói tịnh là tịnh ở trong động, mà nói động là
động ở trong tịnh. Sự thật chẳng phải động tịnh; động
tịnh là do cảm giác suy nghĩ của vọng tâm, tất cả đều
là vọng. Thật tế bây giờ cũng vậy, động chẳng lìa tịnh,
tịnh chẳng lìa động).
Thế
thì, động chẳng tướng động, tịnh chẳng tướng tịnh
(như thấy cái bàn đang tịnh, sự thật nó đang động. Vậy
nói tướng động không đúng, tướng tịnh cũng không đúng).
Trong
kinh nói hai tướng động tịnh rõ ràng không sanh (nhiều nguyên
tử hợp tác thành cái bàn này, mỗi hạt nguyên tử, trung
tử, điện tử, nó đang xoay ngày đêm không ngừng. Vậy sức
động từ đâu ra? Tại sao nó có sức xoay hoài vậy?
Muốn
chiếc hon da chạy cần phải có xăng đốt cho nóng, rồi nó
chạy mới có sức động. Hạt nguyên tử rất nhỏ, con mắt
mình không thấy được, phải dùng kính hiển vi mới thấy.
Hiện nay nó đang động do sức ở đâu? Nhà khoa học không
tin ở tâm, vì không tiếp xúc được. Phật nói “tất cả
đều do tâm tạo”, là do sức của tâm.
Trong
Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói rõ: “Chẳng phải gió động,
chẳng phải phướn động, mà tâm của các ông động”. Mặc
dù mình thấy gió động, phướn động; nhưng tâm của ông
động gió mới động, tâm của ông động phướn mới động.
Hiện nay người ta không tin như vậy. Phật pháp là tin tự
tâm và hiện ra cái dụng của tâm.
Bởi
vì rõ biết động tịnh đều là cảnh vọng, các vọng đã
tiêu thì hai tướng đâu còn (đây cũng là lời nói, chứ thật
tế thì chẳng phải vậy. Cho nên ngài Trung Phong phủ nhận
dưới đây).
Tịch
nghĩa giải:
Thôi
thôi! Động là núi bạc, tịnh là vách sắt. Nếu chưa từng
đập nát mà muốn kia không sanh thì còn cách xa quá (nay mình
thấy rõ ràng, không thấy tịnh thì phải thấy động, không
thấy động thì thấy tịnh. Cuộc sống hàng ngày bị chi phối,
làm sao ngưng được?).
Kệ
kết thúc:
Ngọn
lửa đâu cho ruồi muỗi đậu,
Lưỡi
kiếm đâu cho thân trần đụng.
Nhà
kín Đạt Ma không cửa nẻo,
Nắm
tay lôi kéo chẳng ai vào.
(Ngọn
lửa làm sao ruồi muỗi đậu được! Là thí dụ động tịnh
không rời khỏi nhau.
Lưỡi
kiếm rất bén, nếu không mặc áo mà đụng nó thì phải bị
thương.
Pháp
môn tham thiền như nhà kín Đạt Ma. Tổ Đạt Ma từ Aán Độ
sang Trung Quốc truyền pháp môn Thiền tông, rồi truyền sang
Việt Nam, Hoa Kỳ. Nhà kín không cửa nẻo làm sao vào? Nếu
người quyết tử muốn vào cũng không khó, có thể một
sát na mà vào, nhưng người ta khó tin. Dẫu có tin, nhưng còn
thực hành khổ cực, e chịu không nổi! Tuy nhà kín không cửa,
trong đó rất tốt, nhưng nắm tay lôi kéo chẳng ai chịu vào).
12
- DUY TRỆ LƯỠNG BIÊN, NINH TRI NHẤT CHỦNG
Dịch
Hễ
kẹt hai bên, đâu biết vốn một.
Lời
khai thị:
Nhìn
thẳng nhìn trái, đông nổi tây lặn, ló ra đầu búa không
lỗ, đập lũng đáy thùng sơn đen (hiện giờ ai cũng có Phật
tánh, nhưng dùng không được, như đầu búa không lỗ. Thùng
sơn đen trong đó đen tối mịt mù; người kiến tánh gọi
là đập bể đáy thùng sơn đen. Thùng sơn đen bị đập bể
thì ánh sáng lọt vào trong đó).
Chân
nhân vô địa vị (là bản tâm của mình, không có số lượng,
không hình tướng, không địa vị), bạt tai núi Tu di một
cái, khiến cho Bồ tát Hư Không Tạng đứng giữa ngã tư đường
chấp tay nói rằng: Cúi xin trân trọng! (Chư Tổ trong Thiền
tông khai thị xong, cuối cùng nói 2 chữ trân trọng, như người
ta gặp nhau nói mạnh giỏi).
Tại
sao những việc trên như thế! (Chưa kiến tánh, những việc
trên không thể biết được, đến khi kiến tánh mới biết
được. Nếu dùng lục căn tiếp xúc để đoán mò, khác chi
lấy vọng để trừ vọng, tìm được cũng là vọng. Vì sao?
Bên mặt là vọng, bên trái cũng là vọng; dẫu cho thành một
cũng là vọng. Vì có một nên có hai có ba).
Lời
nghĩa giải:
Lưỡng
biên thì 2 tướng động tịnh, nhất chủng là toàn thể không
khác. Đây là lời giải thích 2 câu trên, phải biết động
tịnh nhị biên, vọng thì cùng vọng, chân thì cùng chân, đâu
có 2 thứ.
(Theo
thật tế hàng ngày, tất cả đang động tịnh, cũng không
phân biệt động tịnh. Như mình ngồi đây nói là tịnh, nhưng
quả đất đang xoay là động thì đâu có 2 thứ. Ở trên giải
thích nghĩa rất cao tột, nhưng lý cao cũng là danh từ lời
nói, không phải thật tế. Cho nên, ngài Trung Phong còn phải
phủ nhận).
Tịch
nghĩa giải:
Im
đi! Im đi! Đừng đem kiến giải vô dụng đã học được,
để chôn vùi chân tâm của Tổ sư. (Tam Tổ làm Tín Tâm Minh
này, ý là muốn chúng ta ngộ thật tế, chứ không phải đàm
luận nghĩa lý. Đàm luận nghĩa lý cao siêu như đem kiến giải
vô dụng, để chôn vùi chân tâm của Tổ vậy).
Kệ
kết thúc:
Thị
nhất chủng hay phi nhất chủng,
Thị
phi hết chấp có ai biết.
Chớ
đem đá rêu xanh trong tuyết,
Cho
là cò trắng đứng dưới sông.
(Thị
phi là tương đối, cho là nhất chủng hay là chẳng phải nhất
chủng cũng là thị phi.
Phải
kiến tánh mới biết, chưa kiến tánh thì không biết.
Tuyết
là màu trắng không sanh ra đá rêu xanh được. Bởi vậy việc
không có, nếu nói ra cũng là việc không có; giải thích lý
cao tột cũng là việc không có, như cho là cò trắng đứng
dưới sông).
13
- NHẤT CHỦNG BẤT THÔNG, LƯỠNG XỨ THẤT CÔNG
Dịch
Vốn
một chẳng thông, đặt ra hai chỗ là uổng công.
Lời
khai thị:
Nhận
nai là ngựa, nhận lu là chuông, xưa nay đem sai lầm chiều
theo sai lầm (cuộc sống hàng ngày đều sai lầm, vì qua bộ
óc nhận biết đều sai lầm. Cho nên Bát Nhã Tâm Kinh nói:
“Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý”. Không phải không có
lục căn, lục căn nhận biết đều không thật; tức là đem
sai lầm chiều theo sai lầm, chẳng khác nào đem hư không lấp
hư không. Hư không trống rỗng đâu có nghĩa lý gì!).
Ngồi
thiền rách năm ba cái bồ đoàn, khi ngộ vỗ tay cười to;
đi tham vấn các nơi, gẫy bảy tám cây tích trượng, mặt
mày hớn hở quét sạch bệnh chấp Phật, Tổ. Diệt mất Thiếu
Lâm tông (tức là không chấp Thiền tông). Lò rèn lâu năm
lửa vẫn hồng.
Lời
nghĩa giải:
Tổ
sư nói: “Vốn một chẳng thông, thì đặt ra chỗ là uổng
công”. Một số Thiền giả bày đặt rằng: 2 câu này kết
trước dẫn sau, nói kết trước là hiển bày chân lý vốn
1; nói dẫn sau là trách cái vọng của có và không vậy.
(Nhưng
thật tế không thể nói vốn 1. Nếu có 1 thì phải có 2, 3…
cho đến muôn ngàn, 1 là số bắt đầu. Tâm mình vốn không
có con số tức là không có số lượng. Cho nên vốn 1 cũng
chẳng phải. 1 còn chẳng phải huống là 2. Có và không là
2. Theo văn giải nghĩa rất cao siêu, nhưng ngài Trung Phong cũng
phủ định).
Tịch
nghĩa giải:
Nếu
là Nạp Tăng chân thật (theo truyền thống xưa, Tu sĩ lượm
các vải vụn rách kết thành chiếc áo để mặc gọi là nạp
y, tự xưng là Nạp Tăng), dù nói 1 nói 2, câu nào cũng quy
về Tự tánh, lời nào cũng ứng dụng (người đã chứng ngộ
không chấp 1 không chấp 2. Vì theo thế lưu bố tưởng, nghĩa
là theo thế gian đã lưu hành thì phải theo như vậy. Nhưng
người thế gian nói 1 chấp 1 là thật, nói 2 chấp 2 là thật;
tức là người chứng ngộ dùng lời nói để độ chúng sanh).
Nếu
chẳng như thế nói 1 thì đã lọt vào hang ổ rồi, huống
là 2 ư! (Kinh Đại Niết Bàn nói “phàm phu ở trong thế lưu
bố tưởng sanh ra trước tưởng, bậc thánh chỉ có thế lưu
bố tưởng không có trước tưởng”. Trước tưởng là điên
đảo tưởng, không trước tưởng là không điên đảo tưởng).
Kệ
kết thúc:
Nói
một xưa nay không chỗ để,
Nói
hai đâu có chỗ lập công?
Chỉ
vì bà mẹ dặn quá kỹ,
Liên
lụy vợ tôi chấp thấy nghe.
(Nếu
chấp thật thì 1 cũng không có chỗ để.
Nói
hai đâu có chỗ lập công, có công gì để uổng đâu!
Hai
câu cuối là diễn tả con dâu có hiếu đối với mẹ chồng.
Bà mẹ dặn sao con dâu làm vậy. Chấp cái thấy nghe cho là
thật. Sự thật cuộc sống hàng ngày, thấy là bị con mắt
lừa gạt, nghe là bị tai lừa gạt. Tất cả đều không đúng
với thật tế, là hiểu biết sai lầm của bộ óc, mà người
nào cũng cho là thật. Cho nên cần phải tham thiền để chứng
ngộ, rồi tự mình chứng tỏ).
14
- KHIỂN HỮU MỘT HỮU, TÙNG KHÔNG BỘI KHÔNG
Dịch
Trừ
bỏ có thì kẹt nơi có, đuổi theo không lại trái với không.
Lời
khai thị:
Đầu
chánh đuôi chánh, tâm không mắt không, gặp nhau trong đường
hẹp chỗ nào nói bậy cũng trúng (lời nói 1 không chấp là
1, lời nói 2 không chấp là 2).
Cây
bách trước sân của Triệu Châu cắt đứt một dòng suối
thế gian (tức là các vọng tưởng của thế gian ngay đó cắt
đứt thì được ngộ. Không cắt được mà theo nghĩa lý để
giải thích, nên không thể chứng ngộ).
Cái
bánh sắt có nhân của Đông Sơn, bóng nước bầu trời hiện
cây tùng (lời của Tổ sư rất vô lý, vì nó vô lý không
thể giải thích, tác dụng để cắt đứt nguồn suối ý thức
vọng tưởng thế gian. Nói bánh sắt có nhân cũng là việc
vô lý. Bóng nước bầu trời hiện cây tùng. Cây tùng ở dưới
nước chỉ là cái bóng).
Voi
lớn không đi đường con thỏ, sư tử đâu chịu giẫm dấu
chồn (tức là người giác ngộ không đuổi theo lời nói của
Phật, Tổ. Sư tử và voi lớn dụ cho tự tánh. Thiền tông
có câu: “Hàn Lư trục khối, sư tử giảo nhân”. Nghĩa là
chó mực ở nước Hàn rất thông minh, có người quăng ra cục
xương, dù nó thông minh, nhưng vẫn chạy đuổi theo cục xương
mà cắn. Còn con sư tử không màng đến cục xương, mà cắn
ngay người quăng ra cục xương.
Người
đó dụ cho Tự tánh, cục xương dụ cho lời nói của chư
Phật chư Tổ. Nếu đuổi theo lời nói của chư Phật chư
Tổ, bị mắng là con chó thông minh. Còn theo lời nói, mà phát
hiện ngộ được Tự tánh mới là con sư tử. Đường con
thỏ, dấu chồn cũng như cục xương vậy).
Lời
nghĩa giải:
“Trừ
bỏ có thì kẹt nơi có, đuổi theo không lại trái với không”.
Những người đuổi theo lời nói giải rằng: Có là vọng
có, mà trừ nó thì kẹt; không vốn tự không, do muốn đuổi
theo nên trái. Có là cái có của nhà không; không là cái không
của nhà có. Không nhờ có mới hiển, có nhờ không mà bày;
vì hiển nên toàn không mà có, vì bày nên toàn có là không.
Có và không dung nhiếp với nhau chẳng sai, tương đối lẫn
nhau mà chẳng khác. Do đó được biết, trừ nó hay theo nó
đều là vọng.
Nghĩa
giải này, tuy là lý cao siêu, nhưng ngài Trung Phong cũng còn
phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Sư
tử cắn người, đâu chịu đuổi theo cục xương (theo chuyện
ở trên, con sư tử không chạy theo cục xương, mà lại cắn
người. Con chó mới đuổi theo cục xương). Vậy người y
văn giải nghĩa, còn không bằng con chó đuổi theo cục xương
nữa, mà muốn nó rống lên chụp người ném cục xương ấy,
thì đâu có thể được! (Tức là lời nói của chư Phật,
Tổ là muốn mình không hiểu nghĩa lý, mà muốn nơi tự tâm
chứng ngộ gọi là kiến tánh thành Phật).
Kệ
kết thúc:
Chỉ
vì lá bùa dán quá cao,
Giữ
cửa vẫn bị quỷ thần vào.
Đâu
bằng ở dưới thềm nhà lá,
Suối,
mây, trăng, núi làm bạn nhau.
(Ở
bên Tàu, mỗi nhà có dán lá bùa trên giữa cửa… vì dán
cao nên bị quỷ thần vào.
Hai
câu cuối là hình dung người đã kiến tánh ở đâu cũng được,
ở nhà lá ở rừng núi có suối, có mây có trăng làm bạn,
tự nhiên thông thả tự do tự tại; đâu có cần dán bùa
giữ cửa làm chi! Hiện giờ mình sống lo này lo kia là tự
mình làm khổ mình, cũng như dán bùa ở cửa thì đâu có được!).
15
- ĐA NGÔN ĐA LỰ, CHUYỂN BẤT TƯƠNG ƯNG
Dịch
Nói
nhiều lo nhiều, càng chẳng tương ưng.
Lời
khai thị:
Như
nước vào nước, như gương soi gương (đây là hình dung bản
tâm của mình bất nhị). Tẩy được pháp trần lại kết
thành kiến bệnh (vốn không có pháp trần để tẩy, vì chấp
có pháp trần, nên dùng tâm để tẩy. Nếu có pháp trần
để tẩy thì trở thành kiến bệnh tức là bị kiến giải.
Diệu tâm vốn không có tri kiến, chấp có pháp trần, rồi
sợ ô nhiễm mới tẩy sạch nó, thì trở thành kiến bệnh,
không phải bổn lai vốn không có tri kiến).
Làm
cho chư Phật không nhà để về, lịch đại Tổ sư không có
đạo để chứng (mục đích tu kiến tánh thành Phật, cứ
chấp theo kiến giải thì thành kiến bệnh, làm cho tam thế
chư Phật [tam thế là quá khứ, hiện tại, vị lai] không có
nhà để về. Hiện giờ chúng sanh không biết đường về.
Pháp tham thiền là đường về nhà. Muốn về quê nhà thì
phải chứng ngộ).
Vì
thương xót quan tuần mù mắt, phải xem số mạng cho Không
Vương (Quan tuần phải có mắt, nếu mù mắt thì sao đi tuần
được? Hiện tại chúng ta sống trong thế gian, làm chuyện
này chuyện kia, giống như quan tuần mù mắt vậy. Tánh không
chẳng có hình tướng chẳng có số lượng, gọi là Không
Vương. Như số mạng Không Vương của mình bị mất, muốn
hiện Không Vương phải tham thiền).
Đêm
khuya lật bàn quẻ ra xem, hư minh lạnh lẽo tự soi nhau (xem
số mạng cho Không Vương, như đêm khuya không có ai, mà lật
bàn quẻ xem số mạng. Cho nên nói: Nói nhiều lo nhiều, càng
chẳng tương ưng).
Lời
Nghĩa giải:
Người
nghĩa giải cho rằng: Nói nhiều cách đạo càng xa. Lại nói:
“Diệu tâm rỗng nhiên chiếu soi, lấy tịch lặng của bậc
Thánh làm tông”. Còn dẫn chứng Tổ Đạt Ma dạy: “Ngoài
dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng”. Ngoài dứt các duyên
thì quên lời nói, trong không nghĩ tưởng thì hết niệm lo.
(Tịch
lặng của bậc Thánh là lìa đối đãi động tịnh. Thanh tịnh
tự tánh lìa nhị biên. Đãõ lìa nhị biên thì động tịnh
hai tướng chẳng khác, thì diệu dụng của Diệu tâm rỗng
nhiên chiếu soi cùng khắp không gian và thời gian. Sở dĩ,
sự chiếu soi của Diệu tâm bị mất hay không cùng khắp,
đều do có sự chấp trước của lục căn, nên có câu: Nói
nhiều lo nhiều, cách đạo càng xa.
“Ngoài
dứt các duyên trong không nghĩ tưởng” của Tổ Đạt Ma.
Đây quá trình tu đến mức cuối cùng, đến chỗ vô tâm tức
là chân tham. Vô tâm không cho hữu tâm biết, cảnh giới này
không có niệm nào khởi lên, thì đâu có nghĩ tưởng; trong
Thiền tông gọi là thoại đầu, cũng là tận cùng của ý
thức; cần phải tiến qua một bước nữa lìa khỏi ý thức,
đưa đến kiến tánh thành Phật).
Tịch
nghĩa giải:
Tuy
kiến giải trên rất cao siêu, nhưng ngài Trung Phong lại phủ
nhận rằng: Người dẫn chứng như thế rồi, vậy có tương
ưng với Tự tánh hay chưa? (Bởi vì lời nói là lời nói,
muốn tương ưng phải tự ngộ mới được. Lời nói làm sao
tương ưng?) Nếu chưa, thì nói chi ngôn ngữ này nọ! (Nói
cách nào cũng là lời nói, nói lý cao siêu cũng không có ích).
Kệ
kết thúc:
Do
lời hiển đạo, đạo quên lời,
Quên
đến không lời cũng vọng truyền.
Thị
phi thoát ra ngoài lời nói,
Hư
không chẳng miệng biết nói thiền.
(Muốn
hiển bày cái đạo thì phải có lời nói. Nhưng đạo đó
phải quên lời nói, mới có đạo được; nếu có lời nói
thì không có đạo.
Quên
đến không lời nói cũng vọng truyền, vì đâu có cái gì
mà để quên; có cái gì để quên tức là có cái gì thật
để quên, đã là có tâm chấp rồi. Dẫu cho quên hết
không lời cũng là vọng.
Thị
là đúng, phi là sai, thoát ra ngoài lời nói. Hư không đâu
có miệng nhưng mà biết nói thiền. Hư không này chẳng có
nghĩa lý gì, nhưng tham thiền cũng phải nhờ cái hư không
này. Vũ trụ vạn vật, núi sông, đất đai, nhà cửa, cây
cối … tất cả được ứng dụng đều nhờ cái không này.
Nếu chẳng có cái không, thì chẳng thể hiển bày cái dụng.
Hiện
tại chúng ta tham thiền cũng nhờ cái không này; tuy rằng hư
không chẳng có nói thiền, nhưng tất cả đều do tâm mình.
Hư không tức là tâm mình trống rỗng, tất cả đều phải
nhờ nó. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói “tất cả đều do
tâm tạo”. Sự thật tâm không có tạo, nhưng vạn vật
đều ở trong hư không, mà từ hư không sanh ra, tức là tâm
sanh ra, nên nói là tâm tạo).
16
- TUYỆT NGÔN TUYỆT LỰ, VÔ XỨ BẤT THÔNG
Dịch
Bặt
nói bặt lo, chỗ nào cũng thông.
Lời
khai thị:
Đạo
Ngô là một Tổ sư danh tiếng múa hốt, Ngài dùng cây hốt
để độ đồ chúng.
Có
người hỏi Thạch Cũng về vấn đề gì thì ngài dùng cung
để giương ra, cũng là vị kiến tánh triệt để có danh tiếng.
Tây
Hà Sư Tử là Tổ danh tiếng. Bây giờ, con cháu của Lâm Tế
đều là con cháu của Tổ Tây Hà.
Trường
Sa Mãnh Hổ… ở đây nói ra chư Tổ. Mỗi Tổ đều có
cách đặt biệt riêng của mình, khiến cho người tham thiền
ngay đó liền ngộ; ngộ không được thì không hiểu nên phải
phát nghi. Sau này do cái nghi đó mà được ngộ.
Cơ xảo của Tổ không dùng ý thức giải nghĩa; nếu giải
nghĩa là nghịch ý của Tổ, cũng là phỉ báng Tổ.
Chẳng
những bây giờ tiếng tăm lừng lẫy, cho đến ngày nay gia
phong vẫn còn lưu truyền (chư Tổ kiến tánh, trong lịch sử
Thiền tông Trung Hoa có ghi. Thiền tông truyền sang Việt Nam,
Nhật Bản, Đại Hàn… ở Việt Nam, các cái tháp đều thuộc
dòng Lâm Tế).
Đến
dưới cửa Tổ sư phải khiến dấu chuột diệt mất. Tại
sao như thế? Há chẳng nói: “Dùng nia đong gạo, khác với
cái lít, bàn ủi nấu trà không giống cái ấm”.
(Chư
Tổ dùng cơ xảo đối với người tham học, khiến cho không
còn dấu tích gì, bất cứ cái gì đều không có ý niệm.
Tại sao như thế? Vì bản tâm không có ý niệm; nếu khởi
lên ý niệm là khác với bản tâm).
Cho
nên nói: “Bặt nói bặt lo, chỗ nào cũng thông” (không có
ý niệm thì không có lời nói và không có suy nghĩ. Nếu được
như vậy thì không có chướng ngại, tất cả có chướng ngại
là do có suy nghĩ của mình.
Chúng
ta thường nói: “Tôi có nghiệp chướng phiền não nhiều
quá”. Sự thật nghiệp chướng phiền não cũng tại nơi mình;
bản tâm mình không có nghiệp chướng phiền não.
Dùng
2 chân để ví dụ cho tâm của mình; còn nghiệp chướng phiền
não ở ngoài tâm tức là cái sở. Tâm là năng suy nghĩ, con
đường gai gốc cứt sình là sở đi của 2 chân. Con đường
gai gốc cứt sình dụ cho nghiệp chướng phiền não, 2 chân
dụ cho tâm mình là năng đi. Tại 2 chân của mình ham đi con
đường đó mới dính cứt sình, rồi cứt sình thúi quá phải
rửa cho sạch.
Như
nói nghiệp chướng phiền não nhiều quá cần phải trừ. Cái
đó ở ngoài tâm, tâm không có nghiệp chướng phiền não.
Tại do suy nghĩ mới có. Nghiệp chướng phiền não là sở
suy nghĩ, chứ không phải của tâm; như 2 chân là của mình,
chứ con đường gai gốc cứt sình là không phải của mình).
Lời
nghĩa giải:
Hoặc
có người y văn giải nghĩa rằng: Bặt nói thì đường ngôn
ngữ dứt, bặt lo thì chỗ tâm hành diệt (Tâm của mình luôn
luôn không ngưng nghỉ, ngày đêm suy nghĩ mãi. Ban đêm suy nghĩ
thì biến hiện ra nhắm mắt chiêm bao, ban ngày thì hiện ra
mở mắt chiêm bao. Tất cả đều do tâm hành diệt).
Nếu
bặt nói bặt lo, thì tâm hành diệt, đường ngôn ngữ dứt,
tịch mà chiếu; chỗ tâm hành diệt, chiếu mà tịch (đây
là giải theo giáo môn).
Đến
đây, Tổ Sư thiền và Như Lai thiền có thể xỏ chung một
xâu. Cũng có cổ nhân nói: “Thôi đi, để cho khóe miệng
lên meo, trên lưỡi mọc cỏ” (tức là không dùng cái miệng
để nói. Tất cả đều không ngoài lý này).
Mặc
dù, giải thích có lý cao tột, cũng là cái lý. Thật tế thì
không có nghĩa lý. Cho nên ngài Trung Phong phủ nhận.
Tịch
nghĩa giải:
Nếu
đem lời Tam Tổ mà lãnh hội như thế! Như lời nghĩa giải
trên đó, giống như đem nước đá để trên ngọn lửa hồng
(nó tan hết). Như vậy không biết mắc cở!
Nếu
quả thật như lời nói ấy, thì đâu cần Tổ sư từ Ấn
Độ sang? (Mà cứ theo kinh thì được rồi, nhưng kinh là văn
tự lời nói; Thiền tông là giáo ngoại biệt truyền
bất lập văn tự, chỉ cần đến chỗ thật tế mới được).
Kệ
kết thúc:
Bặt
nói bặt lo đồng người gỗ,
“Khi
nào thành Phật”, Vĩnh Gia chê.
Chưa
ngộ trước lời thông huyền chỉ,
Đem
một mảy lông ngăn thiết vi.
(Người
gỗ thì không có nói. Người gỗ đâu thể thành Phật được,
cho nên ngài Vĩnh Gia chê.
Nếu
chưa chứng ngộ trước khi chưa lời nói. Như tham thiền là
trước khi chưa có lời nói, nếu chưa ngộ được như đem
một mảy lông ngăn núi thiết vi).
