Bài
tựa:
Ngài
Trung Phong nói: Thiền tông là bất lập văn tự. Do từ trong
hội Linh Sơn, Phật Thích Ca đưa cành hoa lên, ngài Ma Ha Ca
Diếp mỉm cười; Phật tuyên bố rằng: Ta truyền cho ông “Chánh
pháp nhãn tạng, Niết bàn Diệu tâm, thật tướng vô tướng”.
Giáo
ngoại biệt truyền là ở ngoài kinh điển, đặc biệt truyền
riêng pháp môn này; bất lập văn tự chẳng phải phế bỏ
văn tự, mà không cần phải qua văn tự và lời nói, tức
là chỉ thẳng tâm mình là Phật; chỉ cần tham thiền hiện
ra tâm này, gọi là kiến tánh thành Phật.
Đã
nói bất lập văn tự, tại sao Tổ Đạt Ma mới truyền qua
3 đời, đến ngài Tăng Xán lập ra Tín Tâm Minh gồm 584 chữ,
có phải sửa lại gia phong của Tổ chăng! Tổ Tăng Xán làm
Tín Tâm Minh không trái ý “bất lập văn tự”, mà muốn
người học sau này được tin tự tâm. Tin tự tâm không cần
qua văn tự, không cần học ở ngoài. Cho nên, Ngài muốn hiển
bày nghĩa bất lập văn tự, chứ chẳng phải biến gia phong
bất lập văn tự trở thành ra văn tự.
Nhưng
người đời sau, hiểu lầm ý Tổ Tăng Xán, mà y văn giải
nghĩa, nên ngài Trung Phong làm “tịch nghĩa giải”, tức là
bác bỏ nghĩa giải sai lầm, để cho người ta tin hoàn toàn
tự tâm đầy đủ, không cần có lý giải gì hết. Nếu tin
ở ngoài tâm mà có, cũng như đầu mọc thêm đầu, cần phải
mời Bác sĩ cắt bỏ mới được. Cho nên, đặt tên “Tín
Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải”.
Tín
Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải này, ngài Trung Phong lấy hai câu chia
ra làm 4 đoạn: Đoạn thứ nhất là khai thị, đoạn thứ hai
là nghĩa giải, đoạn thứ ba là tịch nghĩa giải (bác bỏ
nghĩa giải), đoạn thứ tư là bốn câu kệ kết thúc.
Phần
khai
thị là theo lý giải không được, mà để hiển bày tâm chư
Phật, Tổ và tâm của chính mình. Tại vì mình chưa tin, nên
không thể hiểu được.
1.
CHÍ ĐẠO VÔ NAN, DUY HIỀM GIẢN TRẠCH
Dịch
Đạo
cùng tột chẳng có gì khó, chỉ vì phân biệt mới thành khó.
Lời
khai thị:
Ngài
nói: Thể dụng Tự tánh cùng khắp hư không, trí huệ con người
chẳng thể suy lường (Tự tánh mỗi chúng sanh đều sẵn có,
thể và dụng cùng khắp không gian và thời gian. Nếu dùng
bộ óc con người không thể nghĩ đến được). Mở cửa nhà
lớn nhiệm mầu vô biên vượt trên vạn tượng chiều sâu
mà không đáy (đây là diễn tả Tự tánh, Tự tánh tức là
Phật tánh; hàng ngày đang dùng mà mình không biết, cửa mở
ra hết, nhưng người ta không thấy, tưởng là cửa đóng bít).
Mở
cửa nhà lớn nhiệm mầu (tức là cửa Tự tánh, nhưng người
ta không thấy), vượt trên vạn tượng chiều sâu mà không
đáy (biển sâu cách mấy đều phải có đáy, còn cái này
thì không có giới hạn). Cơ xảo của chư Tổ như tiếng hét
kim cang vương của Lâm Tế, sấm sét oanh liệt, muốn nhìn
bóng còn khó, huống là thấy hình (thủ đoạn Lâm Tế, ai
vào cửa liền hét, người nào hỏi liền hét, mà tiếng hét
của Ngài, gọi là kim cang vương; kim cang là vật cứng hơn
các vật khác, mà thêm kim cang vương tức là cứng nhất. Sấm
sét oanh liệt là không thể dùng mắt để thấy, tai để nghe).
Uy
thế cây gậy của Đức Sơn như gió bão điện chớp (người
học vừa đến cửa thì cây gậy của Đức Sơn liền đánh.
Tiếng hét Lâm Tế và Đức Sơn đánh gậy, không phải khi
không mà hét đánh bậy bạ. Ở dưới tiếng hét và ở dưới
cây gậy đánh, đều đào tạo ra chư Tổ mà chẳng cho mình
có công lao), gánh biển vác núi chẳng cần ra sức (đây là
cái dụng của Tự tánh, chư Tổ kiến tánh dùng ra được).
Ông
già Thích Ca chỉ nắm bắt hư không (đây hình dung lời nói
không thể đến được, cho nên, Phật Thích Ca nói: “49 năm,
ta chưa từng nói một chữ”. Tại vì nói không được, ví
như bàn tay nắm bắt hư không. Hư không làm sao nắm bắt được!)
1700 bạch niêm tặc ăn trộm không cần vốn (là hình dung 1700
Tổ kiến tánh, diệu dụng đầy đủ tất cả, không cần
mượn bên ngoài. Như Trương Bảo Thắng hiện sức dụng phần
nhỏ của Tự tánh).
Có
miệng chỉ treo trên vách tường (vì lời nói chẳng thể diễn
tả được). Rất sẵn sàng mà không hiểu biết (vì trình
độ của mình chưa thể hiểu biết). Muốn ngay trước mắt,
chỉ bảo họ thì gai gốc ở cửa nổi đầy (cái này, mình
dụng công đến đó mới được, chứ nhờ người khác thì
không được).
Lời
nghĩa giải:
“Đạo
cùng tột thì không khó, chỉ vì phân biệt lựa chọn nên
mới khó”. 2 câu này là cương yếu của bài minh. Chữ tin
bao gồm ngộ chứng, chẳng phải chữ tin của tín hạnh (ngộ
là giác ngộ, chứng là chứng quả. Cũng như tin 10 phần thì
nghi 10 phần, ngộ cũng 10 phần. Không phải tín hạnh là giữ
uy tín của mỗi người, mỗi nước).
Cũng
như trong hội Pháp Hoa lãnh hội quyền trí nhập vào thật
trí (ánh sáng đèn dụ cho quyền trí, cây đèn dụ cho thật
trí, là cái thể của tâm. Cái đó lập ra tín giải; tín là
tin, giải là hiểu, để tỏ bày nguyện vọng của chúng sanh).
Chư
Tổ thấy đó là Chí đạo (chí là cùng tột, chỉ có tâm
cùng tột, không có lý lẽ để hiểu gọi là nhiệm mầu).
Chư Phật, Tổ chứng gọi là bồ đề, chúng sanh mê gọi
là vô minh, Giáo môn hiển bày gọi là biển giác, đều cùng
gọi là một tâm (nên Tổ nói: “Hàng ngày hiện hành vô minh
của chúng sanh là bất động trí của chư Phật”.
Có
người nói: Hàng ngày hiện hành vô minh, tại sao bất động
trí của chư Phật?
Tổ
nói: Dễ hiểu mà!
Tổ
hỏi chú Tiểu: Thế nào là bất động trí của chư Phật?
Chú
Tiểu ngơ ngác.
Tổ
nói: Vô minh đó.
Qua
câu chuyện này chỉ hiểu phần nào mà thôi).
Cho
đến bao gồm danh tướng, thấu nhập sắc không, muôn ngàn
đề mục đường lối, dù có khác nhau, đâu có sai trái tốt
xấu, cũng không có ngăn cách mê ngộ, tất cả do đây mà
hiển bày (tại vì có phân biệt lựa chọn, nên có tốt xấu
đúng sai; nếu không có phân biệt lựa chọn, thì không có
tốt xấu đúng sai. Tất cả cuộc sống hàng ngày đều là
cái dụng của tâm. Tại mình chấp nên có đúng lý và không
đúng lý. Bài Tín Tâm Minh quét sạch cái lý.
Đoạn
này nói cái lý, đoạn sau quét sạch cái lý. Vốn không có
ngăn cách mê ngộ, tốt xấu; tất cả tốt xấu mê ngộ, đều
do tâm chấp của mình mà hiển bày).
Như
cây bách của Triệu Châu, vòng kim cang của Dương Kỳ, cái
chậu đất bể của Mật Am, bánh sắt có nhân của Đông Sơn
(đây là cơ xảo của chư Tổ.
Tăng
hỏi Triệu Châu: Thế nào là Phật?
Triệu
Châu đáp: Cây bách trước sân.
Có
người hỏi Dương Kỳ: Thế nào là Phật?
Dương
Kỳ đáp: Vòng kim cang.
Có
người hỏi Mật Am: Thế nào là Phật?
Mật
Am đáp: Chậu đất bể.
Có
người hỏi Đông Sơn: Thế nào là Phật?
Đông
Sơn đáp: Bánh sắt có nhân.
Lời
đáp chẳng có ý nghĩa gì, nhưng chặn được dòng suy nghĩ
của ý thức thì ngay đó ngộ. Nếu không chặn được hết
dòng suy nghĩ của ý thức, thì mịt mù không hiểu gì, vẫn
còn trôi lăn trong lục đạo.
Những
công án như trên có rất nhiều, như:
Hỏi:
Thế nào là Phật?
Đáp:
Cục cức khô.
Hỏi:
Thế nào là Phật?
Đáp:
Ba căn mè.
Nếu
ngộ được bản thể Tự tánh cùng khắp không gian thời gian,
thì biết rõ ý của Tổ sư. Nếu không ngộ thì ngơ ngốc
còn vô minh; công phu đến mức là đến thoại đầu, điểm
phá một cái ngộ liền. Có người gần đến thoại đầu,
điểm phá cũng ngộ.
Có
một người công phu đến thoại đầu, đi ngang chỗ bán thịt,
nghe người mua thịt nói: Bán cho tôi một miếng thịt nạt.
Người
bán thịt chặt mạnh con dao xuống bàn, nói gằn: Chỗ nào
chẳng phải thịt nạt!
Người
có công phu đến thoại đầu nghe liền ngộ.
Cũng
có một người gặp người ta đánh lộn, bị đánh một bạt
tai liền ngộ.
Nếu
công phu đến thoại đầu, một ngày không ngộ, thì một tháng
cũng phải ngộ; chẳng phải do gặp thiện tri thức rồi mới
ngộ. Gặp thiện tri thức là chỉ để ấn chứng. Công phu
đến thoại đầu gặp cảnh duyên nào cũng được khai ngộ).
Giống
như dị đoan, cùng tà pháp sôi nổi; vậy thì lời nói “chí
đạo” đã hiện hành rồi. Do đó thông suốt lý sự, dung
thấu cổ kim, cho là “vô nan” đã thành lời thừa. Nhưng
Thánh phàm, nhiễm tịnh, trước mắt toàn chân. Nếu sanh ra
tình thức phân biệt, thì trái hẳn với chí thể, nên nói:
“Duy hiềm giản trạch” vậy.
Tịch
nghĩa giải:
Hình
như giống nhau, giống mà chẳng đồng. Lại 2 chữ “chí đạo”,
dẫu cho ông dùng hết ý thức để giải thích, đối với
tông chỉ “vô nan”, cần phải tương ưng mới được. Nếu
chẳng phải tự tâm khai ngộ, âm thầm khế hợp bất khả
tư nghì, dứt hẳn tri kiến, siêu việt ngữ ngôn danh tướng,
muốn trông thấy tông chỉ “vô nan”, chẳng những cách xa
như trời với đất. Ở nơi căn cảnh tương đối, đủ thứ
sai biệt, nếu không thể ngay đó giải thoát, mà muốn đem
đạo lý “vô nan” đó, tồn chứa trong lòng, thì chỉ là
nhận giặc làm con mà thôi.
(Ngài
Trung Phong thấy người ta đem Tín Tâm Minh để giải thích
ra đạo lý; chính đạo lý đó nghịch với ý của Tổ sư.
Những người đó cho mình là hay, giải thích rất kỹ càng
giáo lý thâm sâu. Nhưng sự thật nói thì giống, phải thì
chưa phải. Cho nên, cần phải tương ưng để khai ngộ mới
được. Khai ngộ rồi âm thầm khế hợp, không thể suy nghĩ.
Suy nghĩ còn không thể, làm sao nói và giải thích!
Hiểu
biết đúng lý đều phải chấm dứt, vì đúng lý và không
đúng lý là lọt vào tương đối nhị biên. Tự tâm là bất
nhị, không thể cho đúng và không đúng. Cho nên, dứt hẳn
tri kiến, siêu việt ngữ ngôn, lìa danh tướng.
Tâm
không dính mắc với cảnh, thì ngay đó giải thoát; tức là
cảnh vui mình không thấy vui, cảnh buồn mình không thấy buồn,
cảnh sợ mình không thấy sợ)ï.
Kệ
kết thúc:
Chí
đạo không nên chê lựa chọn,
Chớ
nói lựa chọn đọa phàm tình.
Cần
phải đâm mù mắt mẹ đẻ,
Ban
ngày đốt đèn đọc Minh này.
(Chí
Đạo là bất nhị, lựa chọn hay không lựa chọn đều chẳng
có. Mới nói: “Không nên chê lựa chọn”. Chí đạo đâu
có khó dễ. Nên nói: “Chớ nói lựa chọn đọa phàm tình”.
Theo nghĩa giải thì lựa chọn đọa vào phàm tình vô minh.
Nhưng thật tế Chí Đạo không có đọa vào phàm tình được.
“Cần
phải đâm mù mắt mẹ đẻ” là theo sự thấy của con mắt
không thể thấy được Chí Đạo. Mà lại nói: “Ban ngày
đốt đèn đọc Minh này”, nghĩa là không cần dùng con mắt,
không cần dùng ánh sáng mặt trời; tức là đừng có tư tưởng
đạo lý gì, thì mới có tư cách đọc Tín Tâm Minh này”.
2.
ĐẢN MẠC TẮNG ÁI, ĐỔNG NHIÊN MINH BẠCH
Dịch
Chỉ
đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch.
Lời
khai thị:
“Chỉ
đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch”. Theo ý chỉ Thiền
tông thì không chỗ trụ; nên nói: Thẳng chẳng phải tùng
(cũng không nhất định là thẳng), co chẳng phải gai (cũng
không nhất định là co), thông chẳng phải hư không (hư không
là trống rỗng chẳng có chướng ngại, cũng không có nhất
định là thông), nghẽn chẳng phải vách tường (cũng không
nhất định là nghẽn).
Đầu
búa không lỗ ném ngay mặt (câu này là chuyển ngữ của Thiền
tông. Đầu búa không lỗ thì không thể dùng được. Thiền
tông không có chỗ để suy nghĩ, không có chỗ để mở miệng;
cũng như đầu búa không lỗ vậy. Ai có đề ra ý kiến gì
hay chơn lý gì, cũng giống như đầu búa không lỗ; không có
ý nghĩa gì để dùng được).
Trái
lại, thẳng vẫn là tùng, co vẫn là gai (co và thẳng,
thông với nghẽn là đối đãi. Phàm đối đãi là tương đối,
tương đối là sản phẩm của bộ não. Nó không phải thật
tế, thật tế thì không có đối đãi. Cho nên, tương đối
là vọng tưởng.
Kinh
Lăng Già nói: Tự tâm hiện lượng. Tự tâm không có số lượng;
hiện ra số lượng cao nhất đều là vọng, vì có số lượng.
Phàm do bộ óc biết đều là tự tâm hiện lượng; chẳng
phải bản tâm của mình. Nên nói: Chẳng phải co, chẳng phải
thẳng tức là thấy thẳng không trụ nơi thẳng, thấy co không
trụ nơi co. Và chẳng co chẳng thẳng cũng không trụ. Ngược
lại là co là thẳng; thông và nghẽn cũng vậy.
Bởi
những cái đó đều là tương đối, phá hết tất cả tương
đối hiện lượng, thì số lượng không nói được nữa).
Vậy
“trời xanh nước rộng dính liền như cũ” (tức là không
có thêm bớt ý kiến gì; thì trái cây vẫn là trái cây, cái
đèn vẫn là cái đèn… đúng lý thì thêm, không đúng lý
thì bớt. Cho nên Tâm Kinh nói: Bất tăng bất giảm).
Đêm
qua người Ba Tư bắt được tên chánh tặc Tây Thiên trong
Nam Hải, đợi trời sáng đốt đèn xem, thì ra bác hai Vương
ở làng Đông (đoạn này nói kết thúc lời khai thị, ý nghĩa
giống như đoạn trên; không có cái nào chân thật, không có
cái nào huyễn hóa.
Chân
chẳng phải chân, giả chẳng phải giả, đúng chẳng phải
đúng, sai chẳng phải sai. Cho nên, không thể dùng 2 chữ “cho
là hay cho rằng”. Nếu cho là, cho rằng là sản phẩm của
bộ óc, không phải bản tâm. Vì bản tâm không thể dùng bộ
óc suy nghĩ, dùng hình tướng để tiếp xúc và văn tự lời
nói đến được. Nên Thiền tông nói: “bất lập văn tự”
vậy).
Lời
nghĩa giải:
Chỉ
đừng yêu ghét thì rõ ràng minh bạch (chữ “yêu ghét” này
thuộc phạm vi tương đối, nếu có “chán, thích, lấy, bỏ”
là niệm tương đối của bộ óc. Tương đối thì không rõ
ràng minh bạch, chỉ có lìa tương đối, mới đạt đến cảnh
giới tuyệt đối, thì thấy rõ ràng cùng tột)*.
Tịch
nghĩa giải:
Ngài
Trung Phong nói: “Dù ông chẳng yêu ghét và không màng đến
cái TA. Vậy biết chẳng yêu ghét và ai biết cái TA” (chính
cái biết này lọt vào nhị biên rồi. Như tham câu thoại đầu,
mình còn thấy nghi tình thì chưa đến chân tham. Nghi tình liên
tục, câu thoại đầu tự mất, không biết có nghi tình, thì
có thể đến chỗ đứng của Tổ sư và đúng ý Tổ sư từ
Tây Trúc sang)*. [đoạn văn trong (…)* của người thực hiện
thêm vào, vì trong băng không có].
Kệ
kết thúc:
Trời
che đất chở khắp mọi nơi,
Mặt
trời chiếu soi chẳng thiếu sót.
Lại
muốn ngồi trong nghĩa minh bạch,
Chẳng
biết hai chân dính đất sình.
(Chánh
biến tri là cái biết khắp không gian thời gian; vậy chỗ
nào cũng biết thì không thiếu sót; lúc nào cũng biết, tức
là vượt qua quá khứ, hiện tại và tương lai. Vậy cái biết
của ý thức không thể so sánh được, vì nó bị hạn chế.
Cho nên, Kinh Pháp Hoa nói: Tri kiến Như Lai không thể nghĩ bàn.
Hai
câu đầu hình dung sức dụng cùng khắp của Tự tánh. Đã
cùng khắp thì chỗ nào cũng minh bạch. Nếu minh bạch cùng
khắp, thì minh bạch này không có chỗ.
Hai
câu sau là trụ vào minh bạch thì lọt vào nhị biên, thuộc
sản phẩm của bộ óc)*.
3.
HÀO LY HỮU SAI, THIÊN ĐỊA HUYỀN CÁCH
Dịch
Xê
xích mảy may, cách xa trời đất.
Lời
khai thị:
“Xê
xích mảy may, cách xa trời đất”. Lời khai thị của ngài
Trung Phong, mục đích phá tan tình thức. Cho nên nói: Căn cứ
nhất định lại không tiêu chuẩn phép tắc. Đem hư không
lấp hư không, dùng mục đích phá mục đích (đều là những
việc vô lý).
Lại
nói thêm: “chẳng hội” của Lục Tổ, “chẳng biết”
của Tổ Đạt Ma, đều là dời hoa rũ bướm (như lấy thuốc
giả để trị bệnh giả, nơi Tự tánh chẳng có bệnh thì
cần chi đến thuốc; vì chúng sanh điên đảo), nên mới nói:
“Chỉ hai đường dây dưa này, đã dẫn khởi gai gốc đầy
trời”. Hải Thần chẳng quí dạ minh châu, mà lại đem ném
cho họ (đó cũng chẳng có ý nghĩa gì).
Lời
nghĩa giải:
“Xê
xích mảy may, cách xa trời đất”. Người nghĩa giải
cho rằng: Pháp môn rộng lớn (tức là pháp môn của Phật),
dù nói mê và ngộ chẳng khác, nếu người còn mảy may tình
cảm yêu ghét, phân biệt chưa dứt sạch (theo Giáo môn phải
dứt sạch tình cảm yêu ghét; không phải chỉ tình cảm yêu
ghét mới sạch, mà tình cảm nào cũng phải dứt sạch; trên
đây là cách tu của Giáo môn).
Nếu
chưa dứt sạch, như trời đất cách xa (Giáo môn dùng cái
biết để tu; biết xấu thì bỏ, biết tốt thì lấy. Thiền
tông chẳng phải vậy, dùng cái không biết để tu, xấu tốt
đều không biết. Đã không biết thì không bỏ mà nó tự
bỏ nên không dính mắc yêu ghét. Lục Tổ nói “lấy vô trụ
làm gốc”, tức chẳng trụ nơi yêu, chẳng trụ nơi ghét,
chỉ lấy không biết là đủ thì cảm tình không nổi lên
được).
Tịch
nghĩa giải:
Giải
nghĩa như thế, giống thì giống, phải thì chưa phải. Tại
sao vậy? Vì còn thiếu một tiếng ồ (chữ ồ theo chữ Hán,
thì chữ lực ở trong chữ khẩu. Chữ này trong tự điển
không có, mà có trong ngữ lục của chư Tổ, để hình dung
trong giây phút ngộ. Như trước kia mình chưa hiểu, khi hiểu
rồi thì ồ lên).
Dẫu
cho ông mỗi mỗi không sai, lý hợp với đạo, vẫn không khỏi
cách xa như trời với đất (vì ông lọt vào nhị biên: Không
sai đối với sai, hợp lý đối với không hợp lý).
Kệ
kết thúc:
Nói
chi có sai và không sai,
Đều
thành dụi mắt thấy hoa đốm.
Muốn
lìa mảy may việc càng nhiều,
Trời
đất xưa nay vẫn cách xa.
(Sai
và không sai là pháp tương đối; trong hư không vốn không
có hoa đốm, tại dụi mắt mới thấy hoa đốm. Nói sai và
không sai giống như dụi mắt thấy hoa đốm. Tất cả sai và
không sai đều là vọng. Muốn lìa mảy may việc càng nhiều,
thì trời đất xưa nay vẫn cách xa).
4.
DỤC ĐẮC HIỆN TIỀN, MẠC TỒN THUẬN NGHỊCH
Dịch
Muốn
đắc được Tự tánh hiện tiền, chớ còn tập khí thuận
nghịch.
Lời
khai thị:
Ngài
Trung Phong phá tương đối, nên nói: Hai không là đôi,
một không là chiếc; buông chẳng lìa, nắm chẳng hợp (theo
lý thường: Hai là đôi, một là chiếc, buông tức lìa, nắm
tức hợp).
Dương
Kỳ 10 năm đúc thành vòng kim cang (Dương Kỳ là vị Tổ sư
danh tiếng phái Lâm Tế; 10 năm Ngài thuyết pháp đều dùng
vòng kim cang khám xét người học đạo. Vòng kim cang thì không
có đầu đuôi, tính chất cứng nhất trong các thứ vật; nó
phá hủy các thứ vật, chứ các thứ vật không phá hủy được
nó).
Đạt
Ma 9 năm nhìn vỡ vách tường sắt (Tổ Đạt Ma sang Trung Quốc
gặp Lương Võ Đế ở miền nam, nhưng không thích hợp, mới
vượt sông Dương Tử đi miền bắc, thời bấy giờ là nước
Ngụy. Tổ Đạt Ma chưa tìm được người kế thừa, ngồi
trong chùa Thiếu Lâm hướng mặt vào vách tường suốt 9 năm,
sau này gặp Tổ Huệ Khả rồi truyền pháp. Người ta hiểu
lầm Tổ Đạt Ma ngồi hướng vách để tu; thật ra Ngài đã
kiến tánh rồi, còn gì để tu nữa! Chỉ đợi Tổ Huệ Khả
để truyền pháp mà thôi).
Lúc
cổ Phật chưa sanh, bóng trăng hiện khắp ngàn sông (những
Tổ kiến tánh trong Thiền tông như: Triệu Châu, Dương Kỳ,
người ta đều gọi là cổ Phật ra đời. Qua lò luyện của
Thiền tông mới có cổ Phật ra đời. Nhưng chúng sanh cũng
gọi là cổ Phật; tức là không có sự bắt đầu, vốn sẵn
có.
Bóng
trăng hiện khắp ngàn sông là để ví dụ, Phật tánh của
mình đã sẵn sàng, khi vũ trụ chưa có thì Phật tánh đã
sẵn có).
Khi
vũ trụ đã thành, gió mát sung mãn mười phương. Nói
thuận chẳng thuận, nói nghịch đâu nghịch. Quải giác Linh
Dương ăn gậy sắt, trái cân bóp ra nước vàng ròng.
(Con
Linh Dương lúc ngủ treo sừng trên cây, dưới đất không có
dấu tích, thở không ra tiếng, thợ săn khó tìm; dụ cho tự
tánh không hình tướng, không số lượng. Tất cả năng lực
đều sẵn có, nhưng người ta không tin mình có năng lực đó,
cứ đi tìm bên ngoài.
Tất
cả lời nói của chư Tổ đều vô lý, cũng như nói trái cân
bóp ra nước là việc vô lý; Tự tánh ăn gậy sắt cũng là
việc vô lý. Pháp nào dùng để giải thích đều không phải
Tự tánh. Tại Tự tánh bất nhị, vì có lý đối với
vô lý, cho nên lập ra lý là nhị).
Lời
nghĩa giải:
“Muốn
được Tự tánh hiện tiền, chớ còn thuận nghịch”. Người
nghĩa giải cho rằng: Tổ sư nói đến đây, thành có mâu thuẫn;
tại sao vậy? Vì việc này vốn đã hiện tiền, còn muốn
đắc gì nữa! (Mình còn vô minh mới thành chúng sanh, không
hiện ra thần thông được cho là không được hiện tiền.
Nhưng việc này vốn đã hiện tiền. Cuộc sống hàng ngày,
mặc áo ăn cơm, đi đứng nằm ngồi, đều là cái dụng của
Tự tánh).
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Chánh tánh vô bất thông, thuận nghịch
giai phương tiện” (Tự tánh không có tương đối, nên chỗ
nào cũng thông. Việc thuận việc nghịch đều là phương tiện.
Chư Phật kiến tánh rồi không có thêm, chúng sanh chưa kiến
tánh thì không có bớt; vẫn y như cũ).
Ở
đây, nếu bảo “mạt tồn” tức là chớ còn thuận nghịch
thành ra đoạn diệt (tất cả đâu có mất!). Thật ra ý Tổ
sư chẳng phải vậy, chỉ dùng phương tiện cho hàng sơ học.
Như người ăn đã no, dụ cho người đã ngộ; người
ăn đã no, đâu có thèm đồ ăn ngon (như người đã ngộ,
biết mình đã sẵn có đầy đủ tất cả, mà còn muốn đắc
gì nữa! Vì chưa ngộ, tưởng mình không có, nên phải tìm
kiếm ở ngoài).
Tịch
nghĩa giải:
Đoạn
trên nói rất có lý, ngài Trung Phong còn phải phủ nhận: Im
đi! Im đi! Tổ sư ở dưới gót chân ngươi (bây giờ ông muốn
biết Tổ sư không? Mình tham thiền được ngộ gọi là Tổ
sư, nên nói Tổ sư ở dưới gót chân ngươi. Vậy có ở chỗ
khác đâu! Tức ngươi là Tổ sư rồi).
Dẫu
cho đạp một cái tan nát, nhưng còn phải tham 30 năm nữa (tại
sao? Vì còn chấp thật muốn đắc ở ngoài, làm sao phát hiện
cái mình sẵn có! Chỉ cần mình phát hiện).
Kệ
kết thúc:
Muốn
được hiện tiền đuổi theo vọng,
Chẳng
còn thuận nghịch trái với chân.
Sung
sướng, đau khổ quên phân biệt,
Cũng
là con mắt dính bụi trần.
(Tham
thiền thì sung sướng và đau khổ đều không biết, tức là
không phân biệt và phân biệt đều hết. Còn biết cho là
quên phân biệt chẳng còn thuận nghịch, đều là con mắt
dính bụi trần. Tự tánh vốn sẵn sàng, đâu cần phải “cho
là” nữa.
Có
người nói cái yêu ghét đâu phải cảnh ngoài, mà đều do
tâm mình ra. Cho nên, cùng một việc, người này thấy yêu,
người kia thấy ghét. Như người bị bắn chết thì người
tình nhân thấy đau khổ, còn người tình địch thấy vui mừng.
Vậy, chứng tỏ việc đó sanh ra vui buồn, mà do tâm người
sanh ra vui buồn.
Nếu
con dao đâm vào thịt mình, mình thấy đau đớn, mà đau đớn
đó đâu phải người khác! Nhưng biết đau đớn là tự bảo
vệ cơ thể của mình. Nếu không biết đau đớn là bệnh
và “cho là” cũng là bệnh).
Hỏi:
Có
phải Tổ Đạt Ma sang Trung Quốc, ngồi quay mặt vào vách,
để truyền pháp môn mới không?
Đáp:
Phải,
khi Tổ Đạt Ma ngồi quay mặt vào vách ở chùa Thiếu Lâm,
đợi Tổ Huệ Khả đến để truyền pháp. Trong khi đó các
vị ở bên Giáo môn, chỉ có kiến giải, không tu chứng, sanh
tâm đố kỵ; cố tâm đầu độc 5 lần, chất độc rất mạnh,
Tổ uống vô không sao. Đến lần thứ 6, truyền pháp xong rồi,
Tổ uống rồi thị tịch, chôn ở núi Hùng Nhĩ.
Có
một hôm, người tuần biên giới, thấy Tổ quảy một chiếc
giày, người ấy hỏi Tổ: Đại sư đi đâu vậy?
Tổ
đáp: Đi về Thiên Trúc.
Rồi
báo lên nhà vua, vua cho đào mộ, chỉ thấy trong mộ còn một
chiếc giày. Người đời nói rằng, để cho Trung Quốc làm
kỷ niệm.
Hỏi:
Tổ
Đạt Ma sang Trung Quốc truyền pháp bằng ngôn ngữ nào?
Đáp:
Tổ
Đạt Ma sang Trung Quốc truyền pháp bằng ngôn ngữ Trung Quốc
hoặc không nói, vì Tổ đã kiến tánh có tha tâm thông, nên
biết tâm niệm người đó nổi lên, thì dễ dàng độ
họ. Dù có vô lượng chúng sanh có tâm niệm gì, Tổ vẫn
biết.
Nếu
ông muốn biết ý Tổ, thì Tổ cũng có cách làm cho ông biết,
khỏi cần nói ra ông cũng biết được. Vì mọi chúng sanh
đều có Phật tánh, có năng lực đầy đủ, do mình không
tin nên không dùng được năng lực đó.
Trong
kinh nói: A Nan phải nhờ oai thần của Phật, mới thấy được
sơ thiền, nhị thiền. Vì tự A Nan không đủ sức để thấy,
nên phải nhờ Phật.
Huệ
Khả hỏi Đạt Ma: Tâm con chưa an, xin thầy an tâm cho con?
Đạt
Ma hỏi lại: Ông đem tâm cho ta an?
Huệ
Khả đáp: Con tìm tâm không ra.
Đạt
Ma nói: Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Huệ
Khả liền ngộ một cách dễ dàng.
Hỏi:
Nam
tông cho là Xá lợi Phất đứng bên phải Phật, Mục Kiền
Liên đứng bên trái Phật. Bắc tông cho là Văn Thù đứng
bên phải Phạât, Phổ Hiền đứng bên trái Phật. Vậy việc
ấy như thế nào?
Đáp:
Nói
sao cũng được. Vì sao? Vì Nam tông chỉ nhìn nhận kinh Pali,
không nhìn nhận kinh Đại thừa. Kinh Đại thừa dịch từ
tiếng phạn; còn kinh pali chỉ có âm chẳng có chữ. Người
Ấn Độ dùng âm của Aán Độ gọi là thế tục. Tiếng phạn
là văn ngôn. Người Thái Lan dùng chữ Thái Lan để ghi âm
pali; người Tích Lan dùng chữ Tích Lan ghi âm pali. Chữ thì
khác, tụng ra thì giống. Đại tạng Nam tông chỉ có kinh Tiểu
thừa. Đại tạng Đại thừa gồm có kinh Đại thừa và Tiểu
thừa.
Tư
tưởng của Tiểu thừa còn chấp thật nhiều, đối với tư
tưởng triết học Tây phương thì cao. Nhưng đối với tư
tưởng Đại thừa thì thấp hơn nhiều. Tiểu thừa quan niệm
tứ đại là thật, pháp Tứ Diệu Đế là thật. Kinh Đại
thừa Bát nhã dùng chữ “vô” để phá chấp thật.
Ngày
sanh nhật của Phật Thích Ca gồm có mấy chục thứ khác nhau.
Trong Thiền tông các Tổ Ấn Độ nói ngày sanh của đức Phật
cách đây 3022 năm. Theo hội nghị Quốc tế ở Nam Vang nói
Phật đản 2538 năm. Bên Aán Độ không chú trọng lịch sử,
mới có nhiều thứ ngày sanh của Phật. Vì vậy nên không
thể căn cứ.
Kinh
Pháp Hoa nói: Phật Thích Ca thành đạo từ hằng sa kiếp rồi.
Lại có người hỏi: Cái nào đúng? Nói đúng thì tất cả
đều đúng, nói sai tất cả đều sai. Tại sao? Phật Thích
Ca nói: Tất cả không có sự bắt đầu, nghĩa là pháp vô
sanh, cũng không có sự sanh khởi.
Đã
không có sự sanh khởi, làm sao lại có ngày sanh của Phật,
cho nên chứng quả là chứng pháp vô sanh nhẫn. Muốn truy cứu
sự bắt đầu của vạn vật, thì không thể truy cứu được;
rõ ràng chứng tỏ là nghĩa vô sanh.
Hỏi:
Văn
Thù đại diện cho căn bản trí, Phổ Hiền đại diện cho
sai biệt trí. Trong Tín Tâm Minh nói: “Chớ còn thuận nghịch”.
Vậy, chư Bồ tát làm sao biết thuận nghịch, mà vào thế
giới chúng sanh để độ?
Đáp:
Giáo
môn đem trí chia làm 2 phần: Thật trí và quyền trí.
Muốn
độ chúng sanh phải dùng quyền trí; còn thật trí không có
hình tướng, không thể tiếp xúc, không thể diễn tả, người
nghe không tiếp nhận, người giảng không thể nói được,
muốn nói phải dùng quyền trí. Văn Thù và Phổ Hiền đại
diện đương cơ, giúp Phật Thích Ca hoằng pháp; chứ chẳng
phải 2 vị đại diện cho căn bản trí và sai biệt trí. Người
Giáo môn hay dùng ý mình để mò đoán Phật pháp. Tuy rất
có lý, nhưng vẫn sai lầm.
Tòng
Lâm ở Trung Quốc, các tỉnh trưởng có quyền đề cử trụ
trì hay thôi trụ trì.
Có
một cái Đàm Không Đình ở giữa đường từ nhà dân đến
chùa ở trên núi. Một hôm tỉnh trưởng gặp vị trụ trì
chùa hỏi: Thế nào là Đàm Không Đình?
Vị
trụ trì kiến tánh trả lời: Đàm Không Đình là Đàm Không
Đình.
Nhưng
Tỉnh Trưởng nghe không vừa ý, rồi hỏi một ông chưa kiến
tánh: Thế nào là Đàm Không Đình?
Ông
ấy trả lời: Chỉ cho Đình thuyết pháp, đâu để miệng
đàm không!
Tỉnh
Trưởng nghe xong đắc ý, bèn thôi vị trụ trì kiến tánh
và mời ông chưa kiến tánh làm trụ trì.
Người
thường hay các vị trí thức nghe như vậy lấy làm thỏa mãn;
còn Thiền tông thì không phải vậy, việc nào cũng như cũ,
không có thêm bớt. Ông chưa kiến tánh đã thêm ý kiến của
mình vào, nên mới có 2 câu trên. Đã có thêm vào, làm sao
nói là Đàm Không Đình được! Thật tế nghe thì lạt lẽo.
Hỏi:
Ngài
Lai Quả nói: “Vô tham tức là chân tham”. Vậy người đó
ôm nghi tình lớn mà không biết Phật pháp, rồi có cơ may
kiến tánh không?
Đáp:
Sẽ
kiến tánh, nói vô tham tức là chân tham, nghĩa là đang tham
thiền có nghi tình, nhưng không biết có nghi tình. Ngày xưa
chư Tổ dùng cơ xảo cho người tham học, phát lên nghi tình,
nhưng người tham học không biết có nghi tình.
Lâm
Tế hỏi Hoàng Bá: Thế nào là đại ý Phật pháp?
Hoàng
Bá liền đánh và đuổi ra.
Qua
2 lần nữa cũng vậy, Lâm Tế phát lên nghi tình mà tự mình
không biết, rồi đến Đại Ngu được ngộ đạo, thấu qua
3 quan (sơ quan, trùng quan và mạt hậu lao quan). Sự đánh đập
là cơ xảo của Tổ; đánh đập một cách vô lý, thì mới
phát nghi tình được.
Sau
đời nhà Tống, có cuốn Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ra đời,
tất cả cơ xảo đánh đập, chửi mắng, những người tham
học biết là cơ xảo, nên không phát nghi tình được. Chư
Tổ bất đắc dĩ phải dạy công án hay tham thoại đầu. Khi
biết mình tham thiền thì dỡ rồi, phải trải qua nhiều năm
mới được chân tham. Ngày xưa qua cơ xảo của chư Tổ, thì
người tham học đến chân tham liền. Vì cơ xảo của Tổ
dùng một cách vô lý, từ đây phát nghi tình. Có người hiểu
lầm lại còn đánh lại.
Như
chuyện thầy Đạo Ngô và trò Thị Nguyên, cùng nhau đi viếng
một đám tang.
Thị
Nguyên hỏi Đạo Ngô: Sanh ư? Tử ư?
Đạo
Ngô trả lời: Sanh cũng không nói, tử cũng không nói.
Thị
Nguyên lại hỏi: Tại sao không nói?
Đạo
Ngô trả lời: Không nói, không nói.
Trên
đường về được nữa đường, Thị Nguyên hỏi câu đó
nữa.
Đạo
Ngô trả lời: Không nói, không nói.
Thị
Nguyên nói: Không nói cũng không được, không nói thì tôi
đánh.
Đạo
Ngô trả lời: Đánh cứ dánh, nói thì không.
Rồi
Thị Nguyên đánh Đạo Ngô. Khi về chùa bảo Thị Nguyên rằng:
Bây giờ ông hãy đi đi, không đi thì người ta đánh chết.
Sau khi đảnh lễ thầy ra đi được 3 năm rồi ngộ đạo.
Lúc đó Đạo Ngô đã viên tịch, rồi tìm đệ tử lớn của
Đạo Ngô là Thạch Sương.
Thạch
Sương hỏi Thị Nguyên: Ông biết chuyện thầy bị đánh không?
Thị
Nguyên nói ra chuyển ngữ, Thạch Sương liền ấn chứng.
Hỏi:
Người
không có một tôn giáo nào, nhưng họ có nghi tình, rồi họ
có cơ may kiến tánh không?
Đáp:
Có.
Người đó kiếp trước đã có tham thiền rồi, kiếp này
tiếp tục nên có nghi tình. Như trong Thiền tông có người
nữ Thiền sư Diệu Tổng đã kiến tánh, mà không biết mình
kiến tánh, là cháu nội của ông Tô Công Tụng làm Thừa Tướng
đương thời ở Trung Quốc. Lúc 13 tuổi đã kiến tánh.
Trong
tinh thần giới luật, Tỳ kheo ni dù có 100 tuổi hạ, cũng
phải đảnh lễ Tỳ kheo mới thọ giới. Nếu Tỳ kheo ni đã
kiến tánh, thì Tỳ kheo bao nhiêu tuổi hạ cũng phải đảnh
lễ Tỳ kheo ni đã kiến tánh.
5.
VI THUẬN TƯƠNG TRANH, THỊ VI TÂM BỆNH
Dịch
Thuận
nghịch tranh nhau, ấy là Tâm bệnh.
Lời
khai thị:
Bệnh
chẳng phải tâm, tâm chẳng phải bệnh (tại sao nói thuận
nghịch? Việc thuận xảy ra thì mình vui, việc nghịch xảy
ra là mình buồn. Tâm mình không có thuận nghịch, thuận
nghịch là tâm bệnh. Nhưng thật tế Tâm chẳng bệnh, nếu
bệnh thì chẳng phải Tâm).
Chớ
đem cây hàng rào hữu lậu (tức là cuộc sống hàng ngày,
những tập khí phiền não, cho là cán gáo múc nước sông.
Cây hàng rào không thể làm cán gáo múc nước sông được).
Nhưng
Tâm chẳng phải bệnh, Tâm chẳng lìa thân, cũng chẳng phải
thân (bây giờ mình có thân này nên nói có cái Tâm. Sau này
chết, thân biến thành tro đất, Tâm không bị mất, mới nói
Tâm không phải thân. Nếu cho là khác nhau thì bệnh càng nặng.
Tham thoại đầu có ý cho là, cho là đúng hay cho là không đúng,
cho là khác hay cho là không khác… tất cả thứ ấy đều
là bệnh).
Nếu
giải thích công án của Mã Tổ: “Nhật diện Phật, nguyệt
diện Phật” thì bệnh càng nặng thêm.
(Tăng
hỏi Mã Tổ: Thế nào Tổ ở Tây Trúc đến?
Mã
Tổ nói: Hãy đến Bá Trượng hỏi.
Tăng liền đến Bá Trượng hỏi: Thế nào Tổ ở Tây Trúc
đến?
Bá
Trượng nói: Nhức đầu quá, hãy đến Tây Đường hỏi.
Tăng
hỏi Tây Đường: Thế nào Tổ ở Tây Trúc đến?
Tây
Đường nói: Tôi không biết, hãy đến Mã Tổ hỏi.
Tăng đến Mã Tổ hỏi: Thế nào Tổ ở Tây Trúc đến?
Mã
Tổ đáp: Nhật diện Phật, nguyệt diện Phật.
Tất
cả hỏi và đáp để tìm hiểu là sai lầm, câu hỏi đã sai
lầm thì câu đáp cũng sai lầm. Cho nên chư Tổ không muốn
đáp và không muốn giải thích. Tại sao không muốn đáp? Vì
đáp là giải thích làm cho người ta suy nghĩ ra nghĩa lý.
Vì
vậy, Tổ Sư thiền dùng cái không hiểu không biết để tu,
tức là phát khởi nghi tình; nuôi cái thắc mắc này, nhiều
chừng nào tốt chừng nấy. Nếu giải thích thì hết thắc
mắc, nghịch với Tổ Sư thiền. Cho nên hỏi chư Tổ, nếu
không bị mắng thì phải bị đập, hay bị đá hoặc trả
lời một cách vô lý.
Như
có người hỏi: Thế nào là Phật?
Đáp:
Cục cứt khô.
Hỏi:
Thế nào là Phật?
Đáp:
Ba căn mè.
Tức
là hỏi mà đáp cho người ta không hiểu. Đó là cơ xảo của
Tổ sư, không dùng lý giải để hiểu. Người nào dùng lý
giải để hiểu, bị Tổ mắng là “con chó đuổi theo cục
xương”. Vì thế Tổ sư làm ra Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải,
nghĩa là phủ nhận nghĩa giải. Nếu có nghĩa giải là nghịch
với Thiền tông.
Thiền
tông muốn cho người ta nghi, mà từ nghi đến ngộ. Lời nói
của chư Tổ là muốn dứt sạch tình chấp hợp lý và không
hợp lý của mình. Tham thiền là dứt sạch tình chấp).
Như
nói: Chỗ tình chấp chưa dứt sạch, thì dùng cam lồ cũng
có thể giết người (tình chấp là thuốc độc mà đựng
cam lồ để dùng, đương nhiên phải bị chết).
Khi
cơ phong khế hợp (cơ phong tức cơ xảo của Tổ sư, khế
hợp tức là kiến tánh), thì thuốc độc Tỳ Sương cũng cứu
mạng được (ngài Nguyệt Khê nói “cuộc sống hàng ngày
ở trong tương đối, dùng tư tưởng tương đối để diễn
tả cảnh giới tuyệt đối, dù diễn tả rất có lý, nhưng
vẫn ở trong tương đối”.
Như
bình đựng thuốc độc rửa chưa sạch thuốc độc, mà đựng
cam lồ vẫn còn thuốc độc. Khi nào kiến tánh thì tất cả
tư tưởng tương đối dứt sạch mới đến quốc độ tuyệt
đối, tất cả tương đối biến thành tuyệt đối, không
có lý gì để giải thích nữa).
Từ khi phương thuốc đua nhau truyền,
Đầu búa không lỗ sanh nhiều bệnh.
(Phương
thuốc của Phật Thích Ca truyền cho Ma Ha Ca Diếp, rồi truyền
đến sau này. Như ban đầu 100% là sữa, dần dần cứ thêm
nước vào, cho đến chỉ có nước không còn sữa. Mang danh
Thiền tông truyền khắp thiên hạ, như đầu búa không lỗ
cũng vô dụng. Như những nơi lạm danh Tổ Sư thiền mà dạy
cho người ta trì chú, giải thích công án thì nghịch với
Tổ Sư thiền, đều là đầu búa không lỗ).
Lời
nghĩa giải:
“Thuận
nghịch tranh nhau, ấy là tâm bệnh”. Sanh tử vô thường là
tâm bệnh (người nào cũng biết), kiến văn giác tri là tâm
bệnh (thì người ta không chịu), tham thiền học đạo là
tâm bệnh (thì càng không chịu, cho là vô lý. Tại sao? Nếu
tin tự tâm đầy đủ thì đâu cần học đạo. Vì mình bị
bệnh nên cần tham thiền học đạo. Làm Phật làm Tổ là
tâm bệnh, vì Phật tánh vốn không giảm bớt, không gián đoạn,
thì hiện giờ chúng ta làm Phật làm Tổ. Làm sao muốn làm
Phật làm Tổ nữa!).
Cần
phải quên cả thuận nghịch, bặt cả thánh phàm, muôn
niệm đều buông bỏ, chỉ còn một lối không tịch trống
rỗng, chẳng nhờ thuốc thần diệu quý báu; gọi tâm bệnh
đó thì không có chỗ đặt để rồi.
(Chỉ
cần tin tự tâm đầy đủ mà thực hành, chớ tin suông bên
miệng. Lấy thoại đầu làm mục đích để tham, chứ không
phải lấy câu thoại để tham. Vì thoại đầu là không có
một niệm nào khởi lên, còn lấy câu thoại để niệm thì
lọt vào thoại vỉ, nghịch với tham thoại đầu.
Ngài
Hư Vân nói: “Nếu niệm câu thoại không bằng niệm Phật”,
và giải thích rằng: Mình nói ra một lời nói, hay muốn nói
một lời nói, mà chưa nói ra đều là thoại vỉ. Khi chưa
khởi niệm muốn nói gọi là thoại đầu, tức chưa khởi
niệm muốn nói câu thoại, còn gọi là đầu tiên câu thoại.
Thoại
đầu là chưa có niệm nào khởi lên, gọi là vô thỉ vô minh,
cũng gọi là đầu sào trăm thước. Ví dụ cây viết cho ý
thức, chỗ trên là thoại đầu, chỗ dưới là thoại vỉ.
Bắt đầu tham thiền là rời thoại vỉ, đang đi đến thoại
đầu. Công phu một thời gian, nhờ không biết của ý thức
được liên tục, mới đưa đến thoại đầu. Chỗ thoại
đầu là đường đi của ý thức đã hết, đến đường cùng
không còn đường đi nữa, chỗ này còn tiến thêm một bước
nữa, tức ra ngoài ý thức, gọi là kiến tánh.
Ngài
Lai Quả nói: “Lìa khỏi ý thức, tức là từ trên núi cao
lọt vào hư không, té cho tan nát rồi sống lại”. Tiếng
Hán gọi là: “Tuyệt hậu tái tô”. Có 2 thứ:
Tiểu
tử tiểu hoạt: Mặc dù té chết, nhưng còn cái xác tức chưa
ngộ triệt để, còn ôm cái ngộ cho mình được ngộ.
Đại
tử đại hoạt: Chết tan nát, như đã ngộ triệt để, cái
ngộ không còn, không còn ôm cảnh giới ngộ. Cho nên nói “ngộ
rồi đồng như chưa ngộ”. Tại sao? Do ngộ đối với nghi
là mê, vì mê mới có ngộ; đã ngộ triệt để rồi hết
mê thì không ngộ, nếu giữ cái ngộ là còn mê. Khi nổi lên
niệm chấp thật thành bệnh mê ngộ. Tiểu ngộ còn cảnh
giới ngộ tức còn mê.
Cao
Phong phá trùng quan rồi, mà còn ôm cái ngộ. Nên, Kỉnh Sơn
hỏi Cao Phong: Ban ngày náo nhiệt làm chủ được, ban đêm
ngủ có chiêm bao làm chủ được không?
Cao
Phong đáp: Được.
Kỉnh
Sơn hỏi: Lúc ngủ quên, không có chiêm bao thì chủ ở đâu?
Cao
Phong không trả lời được.
Kỉnh
Sơn nói tiếp: Từ đây về sau, ông không cần làm gì hết;
đói thì ăn mệt thì ngủ. Khi ngủ mới thức dậy, tự mình
hỏi chủ ở đâu?
Trải
qua năm năm, một hôm chợt nghe tiếng của cái gối rớt xuống
đất liền ngộ triệt để, phá được mạt hậu lao quan,
tức là cảnh giới ngộ tan rã, được cái dụng cùng khắp.
Phá trùng quan còn ôm cảnh giới ngộ, thì cái dụng không
cùng khắp.
Kinh
Kim Cang nói: Chẳng phải ở nơi một Phật, hai Phật,… gieo
trồng thiện căn, ở trong hằng hà sa số kiếp chư Phật đã
gieo trồng thiện căn, thì hôm nay mới được lòng tin chân
thật trong sạch.
Các
vị nghe tôi thuyết pháp, không phải có nhân duyên 1 kiếp
hay 2 kiếp, mà đã nhiều kiếp trước gieo trồng nhân duyên
rồi. Như chúng ta biết tu, đâu phải chỉ một đời này gieo
trồng Phật pháp thôi đâu, mà đã gieo trồng Phật pháp nhiều
kiếp rồi, tại mình không biết. Nếu không có nhân duyên
nhiều kiếp, thì bây giờ đâu có hội tụ được ở đây).
Tịch
nghĩa giải:
Ở
trên giải nghĩa rất có lý, nhưng ngài Trung Phong lại nói:
Than ôi! Phật pháp suy đồi, Tổ Đình hoang vu. Những người
mắc bệnh khắp thế gian, là những kẻ bị tri giải nhập
tâm. Chấp thuốc thành bệnh, đó không phải là việc lạ;
dẫu cho Kỳ Bà (thần y ngày xưa) tái thế cũng không cứu
được bọn này.
(Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn”, nghĩa
là chấp thấy biết là nguồn gốc của vô minh. Chính vô minh
làm chướng ngại sự giác ngộ. Chấp thật cái tri giải của
bộ óc, dù hiểu biết lý lẽ cao siêu đến đâu, cũng là
phạm vi của bộ óc. Hiểu biết của bộ óc đều do cảm
giác sai lầm điên đảo, từ không có thật mà chấp cho là
có thật.
Nên
nói: Người khắp thiên hạ đều là tri giải nhập tâm; dẫu
cho chư Phật chư Tổ ở bên cạnh, khó mà tháo gỡ những
định kiến sai lầm đã lưu truyền lâu năm. Họ cho kinh điển
của Phật là chân lý, nhưng không biết giáo lý như ngón tay
để chỉ mặt trăng. Vì vậy nói: Chấp thuốc thành bệnh)*.
Kệ
kết thúc:
Thuận
nghịch tranh nhau tâm sanh bệnh,
Thuận
nghịch đều quên bệnh sanh tâm.
Xưa
nay tâm bệnh chết liên tiếp,
Lại
khoe phương thuốc hay như thần.
(Ở
nơi Tự tánh làm gì có thuận nghịch để tranh nhau, tranh nhau
là chúng sanh điên đảo tạo ra. Đã nói thuận nghịch đều
không có thật, mà lại nói quên là điều vô lý. Cũng như
cái ly không có nước, mà nói là hết nước là vô lý. Như
kinh Bát Nhã nói: “Vô lão tử diệc vô lão tử tận” nghĩa
là: Không có già chết cũng không có hết già chết. Có tri
giải thuyết pháp độ vô số chúng sanh, đều là việc mở
mắt chiêm bao)*.
6.
BẤT THỨC HUYỀN CHỈ, ĐỒ LAO NIỆM TỊNH
Dịch
Chẳng
biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh.
Lời
khai thị:
Cả
đại địa là bánh xe sắt lửa hồng, cả đại địa là đại
viên cảnh trí (hiện giờ, chúng ta đang ở trên quả đất,
Phật nói khắp quả đất là nhà lửa, chúng sanh phải chịu
khổ. Vì kinh tế đang phát triển, ai cũng chạy theo để kiếm
tiền nên mới khổ.
Thật
tế đang sống trên bánh sắt lửa hồng, bánh xe là trái đất
đang quay. Người chưa ngộ đang sống trong bánh xe sắt lửa
hồng, người đã ngộ sống trong đại viên cảnh trí. Thức
thứ 8 là A lại da; khi ngộ chuyển thành đại viên cảnh trí,
chiếu soi khắp nơi, không chỗ nào thiếu sót).
Con
chồn con trâu nay vốn chẳng mê (theo lý đúng con chồn con
trâu thì mê, nhưng ngài Trung Phong nói vốn chẳng mê, vì tất
cả chúng Phật tánh bằng nhau, không mê cũng không ngộ). Thì
Di Lặc, Thích Ca xưa đâu có chứng (bởi vì không thêm không
bớt). Mây trắng lững lờ bay trên hư không (nó không có ý
tưởng gì hết, tại mình thấy có tụ lại có rời ra).
Mặt
trăng qua lại đâu động đâu tịnh (chúng ta thấy có động
là do cảm giác của mình mà ra. Hiện tại mình ngồi trong
Thiền đường này, thấy không có động; nhưng Thiền đường
ở trên mặt đất đang quay, mình cho là có động có tịnh.
Thật tế trong động có tịnh, trong tịnh có động; chẳng
phải động tịnh).
Gom
trần sa trong vòng pháp giới, nhốt pháp giới trong hang thái
hư (trần sa là hình dung số nhiều. Pháp giới bao gồm vũ
trụ, gồm: pháp có và pháp không. Pháp giới không có phạm
vi, sao nhốt được trong hang thái hư!
Lúc
1 người kiến tánh thì 10 phương không thảy đều tiêu mất
là thế nào? Pháp giới ở trong hư không là tâm của mọi
người. Khi đã chứng ngộ thì tâm trống rỗng, chẳng có
hư không chẳng có pháp giới. Cho nên nói tiêu mất, tức là
tánh không, cũng là thật tế của bản tâm chẳng có nghĩa
lý). Mới nói:
Con
tò vò nuốt mất núi Tu di,
Con khỉ giật mình xuất đại định.
(Con
Tò Vò nhỏ xíu bằng hạt bụi, làm sao nuốt mất núi Tu di
được! Vì không cho lấy nghĩa lý để giải thích. Tánh con
khỉ hay chuyển động, không yên một chỗ. Làm sao nó giật
mình xuất định! Đại định thì không có xuất nhập. Ngồi
thiền có xuất định, có nhập định.
Trong
lúc nhập định không biết có thời gian. Như ngài Huệ Trì
em của sơ Tổ Tịnh Độ là ngài Huệ Viễn, nhập định hơn
700 năm. Khi Ngài xuất định có người hỏi nhập định được
bao lâu rồi? Ông trả lời: Mới có một chút.
Gần
đây có Hòa thượng Hư Vân đang nấu khoai mà nhập định.
Bạn đạo đến thăm thấy ông đang nhập định, đánh thức
cho ông xuất định. Ngài Hư Vân hỏi: Khoai chín chưa? khi coi
lại nồi khoai, thấy đã lên mốc, tính ra đã 15 ngày rồi.
Lục
Tổ nói: Lúc đại định, dù cầm kiếm ra trận vẫn định,
chứ không phải ngồi một chỗ cho là định.
Mục
đích Tham thoại đầu là đến chỗ không có niệm gì nổi
lên, gọi là vô thỉ vô minh; khi phá tan vô thỉ vô minh tức
là kiến tánh).
Lời
nghĩa giải:
“Chẳng
biết huyền chỉ, uổng công niệm tịnh”. Người nghĩa giải
cho rằng: Huyền chỉ tức là chí đạo (thể đồng tên khác,
đều cùng một bản tâm), nếu chẳng biết được (coi tên
khác cho là khác); dẫu cho niệm tịnh trải qua hằng sa kiếp,
tu chứng đủ loại, cũng là ngoài tâm cầu pháp, chỉ tự
thêm lao nhọc, Tổ sư cũng không chấp nhận.
(Ngồi
thiền nhập định như ngài Huệ Trì nhập định hơn 700 năm
không được kiến tánh. Ở trong cõi tứ không của vô sắc
giới, cõi trời cao nhất là phi tưởng phi phi tưởng, nhập
định 8 muôn đại kiếp [1đại kiếp = 4 trung kiếp; 1 trung
kiếp = 20 tiểu kiếp; 1 tiểu kiếp = 16 triệu năm], hết thời
gian này cũng không khỏi luân hồi. Vì sao? Còn có tâm cầu
pháp, cho a lại da [thức thứ 8] là Ta; có Ta thì có hy vọng
gọi là cầu, nên không được giải thoát. Vì thế Tổ sư
không chấp nhận).
Tịch
nghĩa giải:
Huyền
chỉ như kiếm bén kim cang, kẻ chẳng biết cố nhiên là mất
mạng, biết được cũng không khỏi chạm nhằm bị thương.
Vậy có phương tiện nào tránh khỏi 2 lỗi này?
(Ý
thức gồm có 2 mặt: Biết và không biết, đều là nhất niệm
vô minh. Tu Như Lai thiền là dùng cái biết để tu. Tu Tổ Sư
thiền là dùng không biết để tu. Nếu muốn kiến tánh, làm
sao tránh khỏi biết và không biết?).
Kệ
kết thúc:
Huyền
chỉ có ai tự biết được,
Thích
Ca, Di Lặc còn đang mơ.
Đáng
thương cho kẻ chìm không tịch,
Cô
đơn ở núi lạnh nhiều năm.
(Chỉ
có tham thiền đến chứng ngộ mới tự biết được, chứ
chẳng ai cho mình biết được.
Đức
Phật Thích Ca đã thành Phật; Di Lặc sau này cũng thành
Phật, Mặc dù ở cõi trời Đâu suất đã thành Phật. Chư
Phật đã chứng ngộ rồi, tại sao nói còn đang mơ? Tại mình
đang mơ nên không biết người khác. Đã không biết người
khác, làm sao biết Phật Thích Ca đang mơ! Do mình đang mơ nên
thấy tất cả đều đang mơ.
Mình
chưa quên mình thì không thể kiến tánh được. Một mình
khổ công tu ở trên núi lạnh trải qua nhiều năm, ham cái
không tịch, tức là chìm nơi không tịch, mới đáng thương
xót.
Như
cõi trời phi tưởng phi phi tưởng chìm nơi không tịch 8 muôn
đại kiếp, không giác ngộ được. Con người có mấy mươi
năm, mà ở trên núi lạnh cô đơn, chìm đắm trong không tịch,
có ích lợi gì! Cho nên, Thiền tông cần ngộ, chứ không cần
ngồi yên một chỗ).
