Trấn
Châu Lâm Tế Tuệ Chiếu
Thiền
Sư Ngữ Lục
Nhất
Hạnh dịch
I
- Dạy Chúng
II
- Ðối Trị Căn Cơ
III
- Du Hành
I
- Dạy Chúng
1.
Thiền Sư khai thị:
Thời
bây giờ, người học Phật cần phải có chánh kiến. Có chánh
kiến rồi thì sinh tử không còn động được tới mình nữa,
lúc ấy ở và đi đều tự do, không cần đi tìm cái siêu
việt mà cái siêu việt tự tìm tới mình. Này các bạn tu
(đạo lưu), các vị cổ đức ngày xưa vị nào cũng đều
có hiến tặng con đường thoát cho người, còn chỗ chỉ dạy
của ông thầy tu núi này chỉ là khuyên các vị đừng có
để cho người ta làm mê hoặc. Sử dụng được lời khuyên
này thì hãy sử dụng liền, đừng có chần chừ, nghi hoặc.
Người tu học thời nay nếu không thành đạt được, đó
là vì sao? Ðó là vì họ không có đức tự tin. Bởi vì quý
vị không đủ đức tự tin cho nên quý vị cứ bận rộn (gấp
gáp) chạy theo hàng vạn thứ hoàn cảnh bên ngoài rồi bị
các hoàn cảnh ấy xoay chuyển làm mất hết tự do. Nếu quý
vị ngừng được những tư tưởng chạy đuổi tìm cầu ấy
lại thì quý vị sẽ thấy giữa quý vị và Tổ Phật không
có gì khác nhau. Quý vị có muốn biết Tổ Phật là ai không?
Tổ Phật chính là quý vị đang đứng trước mặt tôi mà
nghe pháp đấy. Kẻ tu hành mà không có đủ đức tự tin thì
cứ hướng ra ngoài mà rong ruổi tìm cầu. Dù tìm được một
cái gì thì cái ấy cũng chỉ là những hình thái đẹp đẽ
của văn tự mà không phải là cái năng lượng tuệ giác sống
động của Tổ sư. Chư vị thiền đức ơi, đừng có lầm!
Trong giây phút hiện tại này mà quý vị không gặp gỡ được
Tổ Phật thì trong ngàn vạn kiếp sau quý vị sẽ phải luân
hồi trong ba cõi, cứ tiếp tục chạy theo để nắm bắt những
cảnh huống dễ chịu để rồi sẽ liên tiếp sinh vào trong
bụng trâu lừa.
Này
các bạn tu, theo cái thấy của ông thầy tu núi là tôi đây
thì quý vị có khác gì đức Thích Ca đâu? Ngày hôm nay, trong
mọi sinh hoạt thường nhật của chúng ta, quý vị còn cảm
thấy thiếu thốn điều gì? Có lúc nào mà sáu đạo thần
quang của quý vị ngừng chiếu tỏa? Ai mà thấy được như
thế thì sẽ suốt đời là một kẻ vô sự.
Này
các vị đại đức, ba cõi không an, giống như nhà lửa, nơi
đó không phải là chỗ cư trú lâu dài của quý vị. Quỷ
vô thường mỗi phút giây đều ra tay sát hại, không phân
biệt già trẻ, quý tiện. Nếu quý vị muốn không khác với
Tổ Phật thì đừng hướng ngoại tìm cầu. Mỗi tâm niệm
mà phát ra được ánh sáng thanh tịnh, đó là pháp thân Bụt
đang ở ngay trong nhà của quý vị. Ánh sáng vô phân biệt
phát ra từ mỗi tâm niệm của quý vị chính là báo thân Bụt
đang ở ngay trong nhà của quý vị. Ánh sáng vô phân biệt
phát ra từ mỗi tâm niệm của quý vị chính là hóa thân Bụt
đang ở ngay trong nhà của quý vị. Ba thân ấy không là gì
khác ngoài quý vị đang đứng trước mặt tôi nghe pháp. Cái
công dụng (mầu nhiệm) này chỉ có thể có được khi quý
vị không hướng ngoại truy cầu. Nương tựa vào các nhà nghiên
cứu và chú giải kinh luận, người ta đi tìm ba thân như những
tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì không phải như thế.
Ba thân ấy chỉ là danh ngôn, và cũng chỉ là ba cái nương
tựa vào nhau mà có. Các vị cổ đức đã nói: ‘Thân là
dựa vào ý nghĩa mà thành lập, độ là dựa vào bản thể
mà luận’. Vậy thì thân của pháp tánh và độ của pháp
tánh thật ra (rõ ràng) chỉ là quang ảnh.
Này
các vị đại đức, các vị nên biết rằng cái con người
đang cầm nắm và đùa giỡn được với quang ảnh đó là
nguồn gốc của chư Bụt. Ðối với kẻ ấy, chỗ nào cũng
là nhà để trở về (nơi nào cũng là quê hương trở
về của người tu tập). Sắc thân tứ đại của quý vị
không biết nói pháp, nghe pháp; tỳ vị gan mật không biết
nói pháp, nghe pháp; hư không không biết nói pháp nghe pháp...
Vậy thì cái gì biết nói pháp, nghe pháp? Ðó là cái sáng
rỡ, rõ ràng, không chút mảy may hình tướng trước mặt quý
vị đấy. Chính cái đó biết nói pháp, nghe pháp. Nếu thấy
được như thế thì quý vị sẽ không khác gì với Tổ, với
Bụt. Chỉ có một điều là giữ nó cho miên mật, đừng để
cho nó bị gián đoạn, mắt chạm đến đâu là thấy được
đến đấy.
Chỉ
vì tình thức phát sinh nên trí tuệ ngăn cách, cũng vì tri
giác biến đổi cho nên chân thể bị biến hình, vì thế mới
có luân hồi trong ba cõi, chịu đựng mọi thứ khổ đau. Theo
cái thấy của tôi, thì không có gì là không thâm diệu, không
có gì là không giải thoát.
Này
các bạn tu, tâm pháp không hình tướng, thông suốt mười
phương, nơi mắt gọi là cái thấy, nơi tai gọi là cái nghe,
nơi mũi gọi là cái ngửi, nơi miệng gọi là đàm luận, nơi
tay gọi là cầm nắm, nơi chân gọi là chạy nhảy, tất cả
chỉ từ một cái tinh minh (shining) chia ra thành sáu hòa hợp.
Chỗ nào tâm ý không còn phát sinh thì chỗ ấy cũng là giải
thoát. Tôi nói như thế nghĩa là sao? Chỉ vì mọi thứ tìm
cầu của quý vị chưa chấm dứt cho nên quý vị mới bị
lọt vào những cái bẫy của cổ nhân bày ra.
Này
các bạn tu, hãy thử sử dụng cái thấy của tôi xem. Hãy
chặt đứt hết những cái đầu của mọi báo thân và hóa
thân của Bụt. Hãy thấy rằng các bậc Bồ Tát trong mười
địa chỉ là những người làm công, các vị Ðẳng Giác và
Diệu Giác đều là những tên tù đang mang gông cùm, các vị
La Hán, Bích Chi đều như những cái hố xí, Bồ Đề và Niết
Bàn đều như những cái cọc buộc lừa. Tại sao? Chỉ vì
các vị không thông đạt được cái Không của ba a tăng kỳ
kiếp cho nên quý vị mới gặp phải những chướng ngại (mà
quý vị đang có). Nếu là một người tu chân chính thì quý
vị sẽ không như thế. Chỉ nên tùy duyên giúp làm tiêu nghiệp
cũ, cứ thanh thản mặc áo, cần đi thì đi, cần ngồi thì
ngồi, đừng có một khoảnh khắc nào mong cầu quả vị Bụt.
Tại
sao? Người xưa nói: ‘Nếu muốn tìm Bụt bằng cách lao tác,
thì Bụt sẽ trở thành điềm báo trước của sinh tử’.
Này
các vị đại đức, thì giờ quý báu, quý vị hãy ngừng lại
cái tâm bôn ba chạy sang nhà láng giềng để học thiền học
đạo, tìm câu tìm chữ, cầu Tổ cầu Bụt, cầu thiện tri
thức. Ðừng lầm lạc như thế. Này các bạn tu, các vị chỉ
có một cha một mẹ, vậy thì còn đi tìm gì nữa? Các
vị hãy tự nhìn lại đi. Cổ nhân nói: ‘Diễn Nhã Ðạt
Ða (Yajnadatta) tưởng đã mất đầu, nhưng khi cái tâm đi tìm
cầu ngưng lại là chàng đạt tới vô sự (sans affaires) ngay’.
Các
vị đại đức, các vị hãy sống cuộc đời của chính mình
một cách rất bình thường, đừng làm dáng làm điệu. Có
một bọn đầu hói không phân biệt được thế nào là tốt
xấu, nói rằng mình thấy thần thấy quỷ, chỉ Ðông vẽ
Tây, cầu mưa cầu tạnh, bọn này quyết chắc sẽ phải trả
nợ đã vay, và sẽ có ngày trước mặt Diêm Vương nuốt hòn
sắt nóng. Con cái nhà lành có thể bị bọn dã hồ tinh mị
này mê hoặc, một ngày nào đó bọn ấy cũng sẽ phải trả
nợ tiền cơm tiền gạo, không tránh thoát được đâu.
2.
Thiền Sư khai thị:
Này
các bạn tu, các vị rất cần tìm cầu cho được chánh kiến,
phải biết đi hiên ngang trong thiên hạ để khỏi bị bọn
yêu tinh nói trên mê hoặc. Con người cao quý nhất là con người
vô sự. Chỉ cần đừng nghĩ đến chuyện tạo tác (đến
chuyện sự nghiệp). Chỉ nên làm một con người bình thường.
Nếu quý vị cứ nghĩ tới chuyện hướng ngoại tìm cầu và
tính toán tức là quý vị đã sai lầm rồi vậy.
Hãy
đừng cầu Bụt, Bụt chỉ là danh từ suông. Các vị có biết
kẻ đi tìm cầu là ai không? Các Bụt và Tổ trong ba đời
từ xưa nay cũng chỉ đi tìm Pháp. Ngày hôm nay các vị tham
thiền học đạo cũng chỉ là để cầu Pháp. Ðược Pháp
thì mới giải quyết xong, còn chưa thì vẫn còn luân hồi
trong năm đường. Mà Pháp là gì? Pháp là pháp của tâm.
Tâm không hình, thông suốt mười phương, có diệu dụng ngay
trước mắt. Vì người ta không có đủ tín tâm nên mới nhận
lầm danh từ và câu nói, hướng về phía văn tự để tìm
cầu pháp của Bụt. Cũng vì vậy cho nên mới bị xa cách với
Pháp như trời xa đất.
Này
các bạn tu, nếu tôi nói Pháp thì Pháp ấy là gì? Tôi
nói Pháp của tâm địa, có thể giúp ta vào phàm vào thánh,
vào tịnh vào uế, vào chân vào tục. Nhưng không phải cái
chân tục phàm thánh nơi quý vị có thể được diễn bày
bằng các danh từ và các ý niệm về chân tục phàm thánh.
Với lại cái chân tục phàm thánh ấy không bao giờ tự gọi
mình bằng các danh từ chân tục phàm thánh.
Này
các bạn tu, nếu nắm được cái then chốt này thì nên áp
dụng ngay vào đời sống hàng ngày. Ðừng nên vướng vào
danh tự. Tôi gọi đó là huyền chỉ (nguyên tắc mầu nhiệm).
Pháp
của ông thầy tu núi này nói ra với pháp của người trong
thiên hạ nói ra rất khác. Dù cho Văn Thù, Phổ Hiền
có xuất hiện ra trước mặt, mỗi vị hiện một thân khác
nhau đến hỏi pháp, thì vừa mở miệng ra nói ‘Bạch Hòa
Thượng’ là tôi đã có thể nhận ra được chân tướng
của họ rồi. Tôi cứ ngồi yên đây, hễ có ai tới gặp
tôi là tôi liền nhận ra được chân tướng và tung tích của
người ấy. Tại sao thế? Tại vì cái thấy của tôi khác:
ngoài thì không kẹt vào ý niệm phàm thánh, trong thì không
dựa vào những cái gọi là nguyên tắc căn bản, vì vậy cái
thấy ấy được thông suốt, chẳng còn chỗ nghi ngờ.
3.
Thiền Sư khai thị:
Này
các bạn tu, trong Phật pháp không cần có sự dụng công (mệt
nhọc).
Nguyên
tắc là bình thường vô sự (tenir dans l’ordinaire, sans affaires):
mặc áo, ăn cơm, đi tiêu, đi tiểu, mệt thì đi nghỉ.
Kẻ ngu có thể cười ta nhưng người trí sẽ hiểu ta. Cổ
nhân nói: ‘hướng ngoại để công phu, toàn là bọn ngu xuẩn’.
Các vị nên tùy nơi làm chủ, nơi nào cũng chân, không để
cảnh duyên bên ngoài lôi kéo. Như vậy thì dù có tập khí
ngàn xưa, có gây năm nghiệp vô gián thì tất cả cũng thành
ra biển cả giải thoát. Người học đạo ngày nay, phần lớn
đều không hiểu pháp, giống như con dê gặp gì cũng ăn, không
phân biệt thầy tớ, chủ khách. Những kẻ ấy lấy tâm
tà vào đạo, sẵn sàng đi vào những nơi huyên náo, không
thể gọi họ là người xuất gia chân chính. Họ chỉ là những
người thế tục. Người xuất gia chân chính thì phải có
được những chánh kiến bình thường: phân biệt được Bụt
với Ma, Chân và Ngụy, Phàm và Thánh. Ðược như thế
mới gọi là chân xuất gia. Nếu không phân biệt được Ma
với Bụt, thì chỉ xuất một gia này để vào một gia khác,
gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là xuất gia.
Bây giờ đây lại có một loại hiện tượng nữa gọi là
hiện tượng Bụt Ma, đồng thể không phân biệt, như nước
với sữa hòa lại. Nghe nói Ngỗng Chúa chỉ uống sữa.
Các bạn tu mắt sáng thì theo tôi nên đánh ngã cả Ma lẫn
Bụt, nếu quý vị còn có khuynh hướng yêu thánh ghét phàm
thì quý vị sẽ còn phải chìm đắm trong biển sinh tử dài
dài.’
Hỏi:
Thế nào là Bụt, thế nào là Ma?
Thiền
Sư đáp: Trong tâm của quý vị mà có một tư tưởng nghi
ngờ (vô minh) thì đó là Ma. Nếu quý vị đạt tới tính vô
sinh của vạn pháp, biết rằng tâm là huyễn hóa, thật ra
không có một đối tượng nào, một hiện tượng nào có thật,
đâu đâu cũng là thanh tịnh, thì đó là Bụt. Tuy vậy, người
ta thường nghĩ là Bụt và Ma là hai cảnh giới nhiễm tịnh
khác nhau. Theo cái thấy của tôi thì không có Bụt cũng không
có chúng sinh, không có xưa cũng không có nay, đạt được
thì đạt ngay, không cần phải đi qua thời gian, không cần
tu không cần chứng, không được không mất, trong bất cứ
thời gian nào đều cũng không hề có một pháp nào khác biệt.
Nếu có một pháp nào khác hơn, thì tôi nói pháp đó cũng
chỉ là mộng, là huyễn, đó là tất cả cái gì tôi muốn
nói.
Này
các bạn tu, mỗi vị đang ngồi trước mặt tôi nghe pháp đây,
ngay trong giờ phút hiện tại, đều là bản chất sáng tỏ,
rõ ràng. Người nào cũng không bị ủng trệ, người nào cũng
thông suốt mười phương, tự tại trong ba cõi; người nào
cũng có thể tự do đi vào mọi cảnh giới không bị trở
ngại. Mỗi người trong thời gian một nháy mắt có thể thấu
nhập pháp giới, gặp Bụt thì nói chuyện Bụt, gặp Tổ nói
chuyện Tổ, gặp La Hán nói chuyện La Hán, gặp ngạ quỷ nói
chuyện ngạ quỷ, rong chơi khắp mọi quốc độ để giáo
hóa chúng sinh mà không cảm thấy một giây phút nào xa cách.
Ở đâu cũng thanh tịnh, ánh sáng soi thấu mười phương, thấy
được vạn pháp là nhất như.
Này
các bạn tu, ngày nay muốn làm một kẻ đại trượng phu thì
phải tỏ ngộ được sự thật bản lai vô sự. Chỉ
vì đức tin của quý vị chưa chín cho nên quý vị còn tiếp
tục tìm cầu trong mỗi giây phút, bỏ đầu tìm đầu, không
tự mình dừng lại được.
Các
vị cứ hình dung những vị gọi là bồ tát viên đốn hiện
thân, đi vào pháp giới, hướng về tịnh độ, ghét phàm yêu
thánh mà xem. Nếu có những vị bồ tát như thế thì
họ vẫn còn vướng vào sự nắm bắt và buông bỏ. Trong tâm
họ ý niệm về nhiễm tịnh vẫn còn. Theo kiến giải của
Thiền thì không thể như vậy. Cái mà tôi chủ trương là
tất cả đều phải đang xảy ra ngay trong giờ phút này, không
cần đợi tương lai. Trong giây phút hiện tại, thuốc và bệnh
phải chữa trị lẫn nhau cùng một lúc, bởi vì thuốc và
bệnh là hai cái tương đãi, ngoài ra không có cái gì khác
gọi là có thật. Nếu thấy được như thế thì đó là người
xuất gia chân thật, xứng đáng có thể được tiếp nhận
phẩm vật cúng dường tương đương mười ngàn lạng vàng
mỗi ngày.
Này
các bạn tu, đừng để cho các bậc lão sư (giả mạo) đây
đó ấn chứng bừa bãi để rồi đi rêu rao: ‘Tôi đã hiểu
thế nào là thiền, tôi đã hiểu thế nào là đạo’, để
rồi cứ biện luận thao thao như một dòng thác chảy. Tất
cả những hành động đó chỉ là để tạo thêm nghiệp địa
ngục. Nếu là người học đạo chân chính, thì ta không cần
đi bươi móc những lỗi lầm của thế gian mà chỉ cần lập
tức tìm cầu chánh kiến. Ðạt được kiến giải chân chính
tròn đầy mới gọi là thành công.
Hỏi:
Thế nào là chánh kiến?
Thiền
Sư đáp: Chánh kiến là thấy được tính cách thành, trú,
hoại, không của các pháp khi quý vị đi vào phàm, thánh, nhiễm,
tịnh; đi vào các quốc độ của chư Bụt bất kỳ ở đâu;
đi vào lầu các của Di Lặc; và đi vào pháp giới của Tỳ
Lô Giá Na. Chánh kiến là thấy được các tướng không tới
không đi, không sinh không diệt của các hiện tượng xuất
thế, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập niết bàn của
Bụt. Chánh kiến là thấy được tường tận tướng Không
của các pháp, rằng không pháp nào có thật khi quý vị đi
vào pháp giới vô sinh, rong chơi trong các quốc độ, và đi
vào thế giới hoa tạng. Chánh kiến là thấy rằng chính cái
con người không cần chỗ tựa đang nghe pháp kia chính là mẹ
của chư Bụt. Tại sao? Tại vì các Ðức Thế Tôn đều
do chỗ không nương tựa mà phát sinh. Nếu ngộ được vô
y thì thấy rằng bản chất của Bụt cũng là vô đắc.
Thấy được như thế là chánh kiến. Người tu không hiểu,
cứ chấp vào danh và cú, bị những danh từ như thánh, phàm
v.v... làm trở ngại, khiến cho mắt tuệ của họ không mở
ra được, do đó họ không thấy được thực tại một cách
rõ ràng. Mười hai thể tài của giáo lý cũng chỉ là để
làm rõ sự thật này. Người tu chẳng hiểu mới hướng tới
văn cú để vọng tìm kiến giải. Ðó là thái độ đi tìm
chỗ bám víu nương tựa, làm cho mình rơi vào vòng nhân quả,
chưa có thể thoát khỏi vòng sinh tử trong ba cõi.
Nếu
các vị muốn được tự do đi lại trong sinh tử thì hãy nhận
diện cho được con người đang nghe pháp đây, tuy là vô hình,
vô tướng, vô căn, vô bản, không có trú xứ, nhưng linh động
hoạt bát vô cùng, có thể thi thiết ra muôn ngàn diệu dụng,
mà công dụng nào cũng đều có tính cách vô trụ.
Trái
lại, nếu càng có ý niệm tìm cầu thì càng cách xa, càng
sai trái. Tôi gọi điều này là bí quyết (mầu nhiệm).
Các
bạn tu, đừng tự đồng nhất mình với cái anh bạn mộng
huyễn này, tại vì sớm muộn gì chàng ta cũng phải được
trả lại trong tay quỷ vô thường. Trong thế giới này, các
vị cần những gì để tìm giải thoát? Các vị chỉ cần
một bát cơm, một manh áo, ngoài ra phải để hết tâm lực
và thì giờ để tìm thiện tri thức, đừng phí uổng ngày
giờ, đuổi theo sự vui chơi. Thì giờ quý báu, cuộc sống
vô thường, nói chung là bốn đại (địa, thủy, hỏa, phong)
và nói riêng là bốn tướng (sanh, trụ, dị, diệt) đều đang
bức bách ta. Các vị bây giờ đây phải nhận diện bốn cảnh
vô tướng để cho đừng bị hoàn cảnh lôi kéo.
Hỏi:
Bốn cảnh vô tướng là bốn cảnh nào?
Thiền
Sư đáp: Một niệm vô minh (nghi ngờ) nổi lên là quý vị
bị đất làm chướng ngại.
Một
niệm tham ái nổi lên là quý vị bị nước làm chướng ngại.
Một
niệm sân hận nổi lên là quý vị bị lửa làm chướng ngại.
Một
niệm hí hửng nổi lên là quý vị bị gió làm chướng ngại.
Nếu
thấy được như thế thì quý vị không còn bị hoàn cảnh
lôi kéo, ở đâu quý vị cũng sử dụng được hoàn cảnh,
nổi lên ở phương Ðông thì lặn xuống ở phương Tây, nổi
lên ở phương Nam thì lặn xuống ở phương Bắc, nổi lên
ở phía giữa thì lặn xuống ở phía bên, nổi lên ở phía
bên thì lặn xuống ở phía giữa, đi trên nước như đi trên
đất, đi trên đất như đi trên nước. Tại sao làm được
như thế? Ðó là tại vì quý vị đã thấy được bốn đại
như mộng như huyễn.
Này
các bạn tu, cái kẻ đang ngồi nghe pháp đây không phải chỉ
là bốn đại của quý vị, kẻ đó đang sử dụng được
bốn đại mà bốn đại không sử dụng được kẻ đó. Thấy
được như thế thì đi, ở tự do. Theo cái thấy của tôi
là ta không nên chán ghét cái gì hết (hoặc yêu thích cái
gì hết). Quý vị yêu thánh, ghét phàm phải không? Thánh chỉ
là danh từ thánh. Có những hành giả leo lên núi Ngũ Ðài
Sơn để tìm đức Văn Thù. Làm thế là sai rồi. Trên núi
Ngũ Ðài Sơn làm gì có đức Văn Thù! Quý vị có muốn biết
đức Văn Thù không? Văn Thù chính là cái diệu dụng trước
mặt quý vị, xưa nay vẫn thế, ở đâu cũng không hề có
sự nghi ngại. Ðó là đức Văn Thù sống động. Cái ánh sáng
vô phân biệt của mỗi niệm trong tâm của quý vị chiếu
tới đâu thì đức Phổ Hiền chân thật hiện ra tới đó.
Mỗi niệm trong tâm của quý vị mà không bị trói buộc, chỗ
nào cũng tự do thì đó là tam muội của bồ tát Quan Thế
Âm.
Ba
cái ấy thay phiên nhau làm chủ và làm bạn. Khi xuất
hiện thì cả ba đều xuất hiện, một là ba, ba là một. Thấy
được như thế mới có khả năng học kinh, học giáo.
4.
Thiền Sư khai thị:
Người
học đạo thời nay cần có đức tự tin, đừng hướng ra
ngoài mà tìm cầu. Tìm cầu như thế rốt cuộc chỉ vướng
vào trần cảnh, không phân biệt được tà chính. Nói rằng
có Bụt có Tổ thì đó cũng chỉ là những dấu tích trong
kinh giáo. Thói thường thì khi có ai nêu lên một câu, một
lời trong kinh ra, dù nghĩa lý là ẩn hay hiện, thì mình có
khuynh hướng lập tức đặt ra nghi vấn, rồi nhìn trời nhìn
đất, tìm tới kẻ khác mà tham vấn, và càng tham càng thấy
mờ mịt. Kẻ đại trượng phu là người không cần bàn vua
bàn giặc, bàn thị bàn phi, bàn sắc bàn tài, không bỏ hết
thì giờ vào sự đàm luận. Tôi đây, mỗi khi có người tới,
dù người ấy xuất gia hay tại gia, tôi cũng nhìn thấy được
tường tận gốc gác của kẻ ấy, nhận diện được rằng
tất cả những âm thanh, danh từ và văn cú mà kẻ ấy đưa
ra đều là mộng huyễn, và cũng thấy được con người thật
của kẻ ấy, con người thật không bị trần cảnh làm chướng
ngại. Cái cách nhìn này chính là tông chỉ huyền diệu của
Bụt. Cảnh giới của Bụt không bao giờ tự xưng mình là
‘cảnh giới của Bụt’. Chính cái con người học đạo
vô y (không nương tựa bám víu) ấy mới chứng nghiệm được
cảnh giới kia. Nếu có ai tới hỏi tôi về Bụt, tôi sẽ
ứng hiện cảnh giới thanh tịnh; muốn hỏi tôi về Bồ Tát,
tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới từ bi; muốn hỏi tôi về
bồ đề, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới tịnh diệu; muốn
hỏi tôi về niết bàn, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới
tịch tĩnh. Cảnh thì muôn ngàn sai khác, nhưng người thì không.
Vì vậy cho nên ta có thể ứng vật hiện hình, như mặt trăng
trong nước.
Này
các bạn tu, nếu quý vị muốn đạt được pháp chân như
thì phải trở nên một bậc đại trượng phu (con người lớn)
mới được, còn nếu cứ yếu đuối và cứ tiếp tục thỏa
hợp thì không bao giờ thành. Cũng như một cái bình rạn nứt
không thể chứa được đề hồ. Nếu muốn làm pháp khí lớn
thì phải cương quyết không để cho kẻ khác lường gạt,
tới đâu cũng tự mình làm chủ (active sovereignty, not as a victim),
đứng đâu mình cũng chân thật là mình (vrai, true). Có ai đến,
mình cũng không bị ảnh hưởng. Có một niệm nghi ngờ là
ma vương đã thâm nhập. Ðối với một vị Bồ Tát, nghi hoặc
tức là cơ hội của Ma sinh tử. Khi cảnh vật hiện tới,
thì phải quán chiếu. Phải tin ở diệu dụng đang có của
tâm, thì sẽ thấy được vô sự. Mỗi niệm của quý
vị có công năng sinh ra ba cõi rồi theo cảnh giới đó mà
có sáu trần. Trong cái ứng dụng hằng ngày của quý vị,
quý vị đang thiếu thốn cái gì? Trong một sát na,
quý vị có thể đi vào nhiễm tịnh, đi vào lầu các Di Lặc,
đi vào các cõi nước ba Mắt, rong chơi mọi nơi và chỉ thấy
tất cả đều là giả danh (không danh).
Hỏi:
Các cõi nước của ba Mắt là gì?
Thiền
Sư đáp: Các vị và tôi đi vào cõi nước của Tịnh Diệu,
mặc áo Thanh Tịnh, nói về Bụt Pháp Thân, rồi đi vào cõi
nước Vô Sai Biệt, mặc áo Vô Sai Biệt, nói về Bụt Báo
Thân, rồi đi vào cõi nước Giải Thoát, mặc áo Quang Minh,
nói về Bụt Hóa Thân. Tất cả các cõi nước của ba
Mắt ấy đều do nương tựa (y) vào thể và vào nghĩa mà biến
hiện. Theo kinh luận, thì Pháp thân là căn bản, Báo thân và
Hóa thân là công dụng. Theo cái thấy của tôi thì Pháp thân
không biết thuyết pháp. Vì thế cho nên cổ nhân nói: thân
thì nương vào nghĩa mà thành lập, độ thì căn cứ vào thể
mà luận bàn (cái thân được thành lập do ý nghĩa người
ta gán cho chúng. Các độ chỉ có mặt đứng về phương
diện thể tánh của chúng mà thôi: thân y nghĩa lập, độ
cứ thể luận). Thân của pháp tánh và độ của pháp tánh
như thế rõ ràng đều là những pháp được kiến lập. Các
cõi nước cũng như thế, đều nương vào nghĩa và vào thể
mà thiết lập, tất cả đều chỉ là lá vàng và nắm tay
không mà người ta sử dụng để gạt trẻ thơ.
Tất
cả chỉ là như trái tật lê và gai ấu, toàn là chuyện đi
tìm những giọt nước mát trong một mảnh xương khô.
Ngoài tâm không có pháp, trong tâm cũng không có pháp, vậy
quý vị đi tìm gì?
Các
vị, đâu đâu người ta cũng nói tới đạo, rằng có tu thì
có chứng. Ðừng lầm. Dù có tu chứng đi nữa thì cái đó
cũng chỉ là nghiệp sinh tử. Nói mình tu lục độ vạn hạnh,
tôi thấy đó cũng là tạo nghiệp. Cầu Bụt cầu Pháp là
tạo nghiệp địa ngục, cầu Bồ Tát cũng vậy, học kinh học
giáo cũng là tạo nghiệp. Bụt và Tổ sư là những người
vô sự. Ðối với các bậc ấy, hữu lậu hay hữu vi,
hoặc vô lậu hay vô vi, đều là nghiệp ‘thanh tịnh’.
Có
một bọn đầu sói mắt mù, ăn no liền ngồi xuống thực
tập thiền quán, nắm giữ tâm niệm không cho phát khởi, chán
ồn ưa tĩnh. Phép thực tập của họ chẳng qua chỉ là pháp
ngoại đạo. Có vị Tổ sư đã nói: ‘Những kẻ tập
trung tâm ý để quán chiếu cái tịnh rồi lấy tâm quán chiếu
bên ngoài, hoặc nhiếp tâm lắng lại bên trong, ngưng tâm vào
định, những kẻ ấy đều đang tạo tác. Còn quý vị,
những người đang ngồi đó để nghe pháp, quý vị làm thế
nào để con người của quý vị có thể tu, có thể chứng,
có thể trang nghiêm tốt đẹp? Con người của quý vị không
thể tu, không thể chứng, không thể trang nghiêm? Nếu dạy
người ta trang nghiêm được thì cái gì mà không trang nghiêm
được? Ðừng lầm.
Này
các bạn tu, nếu các bạn nắm bắt lấy những lời của các
hạng thiền sư ấy rồi cho đó là chân đạo, cho rằng đó
là những bậc thiện tri thức bất khả tư nghì, còn mình
là tâm phàm phu không dám đo lường các bậc tôn túc ấy,
thì quả thật các vị là những kẻ đui mù. Ðó là thứ
thành kiến mặc cảm mà quý vị sẽ mang theo suốt đời, và
như thế là quý vị cô phụ đôi mắt của chính mình quá.
Quý vị như một con lừa con đứng trên băng giá và đang run
lên cầm cập: ‘Tôi không dám phỉ báng các bậc thiện tri
thức đâu, tôi sợ tạo thành khẩu nghiệp’. Này các
bạn tu, chỉ khi nào mình là một vị thiện tri thức lớn
mình mới dám phỉ Bụt, báng Tổ, chỉ trích cuộc đời, mới
dám bài xích giáo điển trong tam tạng, mới dám la mắng người
khác như la mắng con nít, mới có thể trong các hoàn cảnh
thuận nghịch tìm ra được con người. Cho nên trong mười
hai năm qua, ngó lại đời mình, cố tìm cho ra một cái gì
có tính chất của nghiệp báo, dù nhỏ như hạt cải mà tôi
cũng không tìm ra được. Chúng ta thường chỉ gặp những
vị thiền sư giống như các cô dâu mới về nhà chồng, cứ
nơm nớp sợ sẽ bị người ta đuổi ra khỏi chùa, không cho
ăn cơm. Cũng vì thế mà họ chẳng có an cũng chẳng có lạc.
Các bậc tiền bối có tinh thần tiên phong từ xưa đến nay
đi đâu cũng bị người ta không tin mà lại còn bị xua đuổi.
Cái đó mới là cái quý. Chứ nếu đi đến đâu ai cũng tin
cũng công nhận ngay thì làm được cái gì? Vì vậy cho nên
một khi con sư tử rống lên là lập tức con dã can vỡ óc.
Này
các bạn tu, ở đâu người ta cũng nói có đạo để tu, có
pháp để chứng. Các vị nói chứng pháp gì, tu đạo gì? Trong
đời sống của quý vị hiện nay, quý vị đang thiếu thốn
cái gì, quý vị muốn tu bổ chỗ nào nữa? Những sư bé sanh
sau đẻ muộn vì không hiểu thấu chỗ ấy cho nên cứ mãi
chạy theo bọn chồn hoang tinh mị, cứ để cho bọn này huyên
thuyên nói ra những điều có công năng ràng buộc kẻ khác,
cho rằng ‘lý hành phải tương ứng, ba nghiệp phải hộ trì’
mới có thể thành Bụt. Họ cứ tiếp tục nhai đi nhai lại
những điều như thế, giống hệt như mưa dầm dai dẳng mùa
Ðông.
Cổ
đức có dạy: ‘Giữa đường gặp người đạt đạo, tốt
nhất là đừng nói chuyện tu với họ’.
Cũng
vì vậy cho nên lại có người nói: ‘Nếu ta có ý tu đạo,
thì đạo sẽ chẳng để cho ta tu. Rồi đủ các thứ cảnh
giới tà vạy sẽ dành nhau sinh khởi. Một khi lưỡi gươm
trí tuệ rút ra thì sẽ không còn một vật gì nữa. Vì khi
bên sáng còn chưa xuất hiện thì bên tối đã thành sáng rồi’.
Và
cũng vì vậy cho nên cổ nhân nói: ‘Tâm bình thường là đạo’.
Này
các vị đại đức! Các vị đang đi tìm gì? Trong giây phút
hiện tại, các vị đang ngồi trước mặt tôi nghe pháp, sáng
rỡ và rõ ràng, không cần nương tựa vào đâu cả, các vị
không thiếu thốn gì hết mà phải đi tìm cầu.
Nếu
quý vị muốn giữa quý vị và chư Bụt chư Tổ không có gì
khác thì quý vị phải thấy điều này, đừng có nghi ngờ
gì nữa, đừng có sai lầm gì nữa. Nếu cái thấy này cứ
được tiếp tục duy trì như thế mãi (tâm tâm bất dị) thì
quý vị là những vị Tổ sống. Nếu cái thấy ấy không còn
được như thế (tâm nhược hữu dị) thì giữa tánh và tướng
sẽ có sự phân biệt. Sở dĩ tâm không khác cho nên tánh và
tướng mới không bị phân biệt ra làm hai.
Hỏi:
Thế nào gọi là cái thấy được tiếp tục (tâm tâm bất
dị)?
Thiền
Sư đáp: Ðặt câu hỏi là đã có sự phân biệt (sự sai
khác) rồi, và làm cho tánh tách rời khỏi tướng.
Này
các bạn tu, xin đừng lầm. Tất cả các pháp thế gian và
xuất thế gian đều không có tự tánh, đều là vô sinh, cho
nên chúng chỉ là giả danh (tên gọi suông), chính cái tên
cũng là trống rỗng. Tại sao quý vị lại nhận cái danh làm
cái thật? Như vậy là lầm lớn.
Giả
sử có gì đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là những biểu
hiện nương tựa vào nhau, gọi là y (y tha). Bồ đề cũng thế
mà niết bàn cũng thế, giải thoát cũng thế, mà ba thân cũng
thế. Cảnh trí (connaissance des objects) cũng thế mà Bồ
Tát hay Bụt cũng thế, đều là những cảnh do y biến. Quý
vị tìm cái gì nơi những cảnh giới Bụt được biểu hiện
trên sự nương tựa (vào nhau) đó? Tam thừa và mười hai thể
tài giáo pháp cũng chỉ là giấy vệ sinh. Bụt là thân huyễn
hóa, Tổ là những vị tỳ kheo già. Quý vị có phải
do mẹ mình sinh ra hay không? Ði tìm Bụt quý vị sẽ bị
ma Bụt hớp hồn, đi tìm Tổ sẽ bị ma Tổ trói buộc. Các
vị càng cầu càng khổ, tốt hơn hết là chỉ nên vô sự.
Có một bọn thầy tu đầu sói hay nói với người học đạo:
‘Bụt là mục tiêu tối hậu (cứu cánh). Phải tu trong
ba a tăng kỳ kiếp lớn (ba đại vô lượng kiếp) cho công
thành quả mãn thì mới thành Bụt được.’ Này các
bạn tu, nếu nói Bụt là cứu cánh, là mục tiêu tối hậu,
thì tại sao chỉ mới có tám mươi năm đã phải nằm nghiêng
giữa hai cây Sa La trong rừng Song Lâm tại thành Câu Thi Na mà
chết? Bụt bây giờ ở đâu? Cho nên ta phải biết rõ
ràng Bụt cũng sinh tử như ta, không khác. Nếu nói có ba mươi
hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp là Bụt, thì hóa ra
Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Bụt sao? Cho nên phải
biết rằng tất cả đều là huyễn hóa. Cổ nhân bảo: ‘Như
Lai hiện thân tướng, vì chiều theo thế gian, sợ người sinh
đoạn kiến, tạm thiết lập giả danh. Tạm gọi băm hai tướng,
tám mươi cũng hư thanh, có thân không giác thể, vô tướng
mới chân hình’.
Các
vị nói Bụt có sáu thần thông không thể nghĩ bàn. Vậy
thì chư thiên, chư thần tiên, các loài A tu la và các loài
quỷ có sức mạnh lớn, vì có thần thông cho nên họ là Bụt
cả hay sao? Các bạn tu, các bạn chớ lầm. Khi đoàn A
tu la giao chiến với quân trời Ðế Thích bị thua, cùng với
8.400 quyến thuộc núp vào trong một lỗ củ sen, họ có thần
thông như vậy, liệu họ có là Bụt, là Thánh chăng? Theo chỗ
tôi nói thì tất cả những cái đó chỉ là thần thông của
nghiệp và thần thông của sự nương tựa (nghiệp thông, y
thông).
Sáu
phép thần thông của Bụt rất khác. Bụt đi vào cảnh giới
của Sắc mà không bị sắc mê hoặc, đi vào cảnh giới của
Thanh mà không bị thanh mê hoặc, đi vào cảnh giới của Hương
mà không bị hương mê hoặc, đi vào cảnh giới của Vị mà
không bị vị mê hoặc, đi vào cảnh giới của Xúc mà không
bị xúc mê hoặc, đi vào cảnh giới của Pháp mà không bị
pháp mê hoặc, tại vì Bụt đã đạt tới cái thấy là sáu
cái (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) đều biểu hiện
tính Không (không tướng) và những cái ấy đều không thể
ràng buộc người tu không bám víu (vô y đạo nhân). Những
người tu này tuy vẫn còn mang chất liệu hữu lậu của năm
uẩn mà đã có thể thực hiện được phép lạ là đi trên
mặt đất (địa hành thần thông).
Này
các bạn tu, Bụt chân thật thì vô hình, Pháp chân thật thì
vô tướng. Tại sao quý vị lại nương vào trên cái huyễn
hóa mà tạo tác ra những mô hình để nắm bắt? Dù có nắm
bắt được cái gì đi nữa, thì cái ấy cũng chỉ là chồn
hoang tinh mị, không phải là Bụt chân thật, mà chỉ là kiến
giải của ngoại đạo. Người tu chân chính thì không nắm
bắt Bụt, nắm bắt Bồ Tát, nắm bắt A La Hán, không nắm
bắt những cái gì gọi là hay đẹp nhất trong ba cõi. Người
ấy một mình thong dong, không bị sự vật nào câu thúc. Dù
trời đất có đảo ngược tôi cũng không bị một chút nghi
hoặc nào làm cho ngần ngại. Dù cho chư Bụt mười phương
có xuất hiện trước mặt thì tôi cũng không khởi một tâm
vui mừng. Dù cho địa ngục và ba đường dữ xuất hiện trước
mặt tôi thì tôi cũng không khởi một niệm sợ hãi. Tại
sao thế? Tại vì tôi đã thấy được tướng Không của các
pháp, khi biểu hiện gọi là có, khi không biểu hiện gọi
là không, ba cõi đều do tâm, vạn pháp đều do thức. Cũng
vì vậy cho nên tất cả đều là mộng huyễn, đều là hoa
đốm giữa hư không, tại sao ta phải đi tìm bắt cho mệt
nhọc?
Duy
chỉ có con người thật của các bạn đang có mặt nghe pháp
trong giờ phút này và ngay ở đây mới có thể đi vào lửa
mà không bị cháy, đi vào nước mà không bị trôi, đi vào
địa ngục và ba đường mà như đi du ngoạn trong công viên,
đi vào giới ma đói và súc sinh mà không nhận chịu quả báo.
Tại sao như thế? Tại vì các vị không kỳ thị bất
cứ một cái gì. Nếu quý vị còn yêu thánh ghét phàm thì
quý vị sẽ còn bị nổi chìm trong biển sinh tử. Phiền
não do tâm mà có, nếu vô tâm thì phiền não làm sao trói buộc
được ta? Không mất công phân biệt, không kẹt vào tướng
thì tự nhiên chứng đắc được đạo quả ngay trong khoảnh
khắc.
Nếu
các vị cứ bôn ba chạy đi tìm người mà học đạo thì dù
có học hỏi trong vô lượng kiếp cuối cùng cũng vẫn còn
qua lại trong cõi sinh tử. Chẳng bằng làm một con người
vô sự, đi vào chùa, xếp bằng lại mà ngồi.
Này
các bạn tu, giả dụ có kẻ học nhân từ nơi khác đến tham
học. Sau khi chủ khách đã trông thấy nhau, khách bèn
nói ra một câu để thăm dò vị thiện tri thức đang ngồi
trước mặt. Kẻ ấy ném ra một câu hiểm hóc vào khóe
miệng của vị thiện tri thức, có ý muốn hỏi: ‘Thầy có
hiểu cái này chăng?’ Nếu vị thiện tri thức biết đó là
một cái đối tượng (cảnh) thì ông ta sẽ nắm ngay lấy
cái đó và liệng nó vào trong hố. Vị học nhân sẽ tìm lại
được thái độ bình thường của mình, và sẽ xin vị thiện
tri thức nói lên cho một lời. Vị thiện tri thức cũng sẽ
làm như đã làm, và sẽ chặt đứt được luôn cái ý muốn
tìm cầu mới này. Lúc đó vị học nhân sẽ nói: ‘Thầy
thật là một vị thượng căn thượng trí, là một vị đại
thiện tri thức’. Và vị thiện tri thức sẽ nói: ‘Ðạo
hữu hoàn toàn chẳng phân biệt được cái gì tốt cái gì
xấu’.
Hoặc
vị thiện tri thức có thể đưa ra một đối tượng (cảnh)
và đùa bỡn với vị học nhân. Vị học nhân có khả năng
nhận diện được rằng đó chỉ là một đối tượng (cảnh),
không để mình rơi vào trong cái bẫy của đối tượng đó
và từ tư thế khách ông chuyển ra đứng vào tư thế chủ.
Vị thiện tri thức bây giờ thị hiện nửa thân, và vị học
nhân hét. Vị thiện tri thức cũng có thể lại sử dụng những
thứ ngữ ngôn trăm lối của mình mà dằn mặt vị học nhân.
Nhưng vị học nhân có thể nói: ‘Cái ông thầy sói đầu
này chẳng biết phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu’.
Vị thiện tri thức liền ca ngợi: ‘Ngươi thật là một người
tu học chân chính’.
Ðó
đây có những vị thầy (thiện tri thức) không có khả năng
biện biệt được tà chính. Khi có học nhân tới hỏi
về cảnh trí của bồ đề, niết bàn và ba thân, các vị
lão sư mù này liền tìm mọi cách giải thích. Bị các
vị học nhân kia chê trách, họ liền lấy gậy đánh, nói
rằng đã đi học đạo mà còn vô lễ. Thật ra, quý vị cũng
đừng giận họ, bởi vì họ tuy được gọi là thầy mà chưa
có con mắt tuệ, thế thôi.
Có
một bọn sói đầu không biết được tốt xấu ra sao, cứ
chỉ Ðông trỏ Tây, ưa mưa thích tạnh, khen chiếc đèn lồng
này đẹp hay cây trụ kia xinh. Nhìn họ xem, để coi lông mày
của họ còn có bao nhiêu sợi! Những cơ sự như thế xảy
ra không phải là không có nguyên do. Kẻ học nhân không hiểu,
cho nên tâm trí bị mê cuồng. Những kẻ đó hoàn toàn là
một bọn chồn hoang tinh mị. Những bậc học nhân chân chính
thấy họ thì khúc khích cười chê, nói rằng bọn sói đầu
mù mắt này chỉ gây rối loạn và mê hoặc trong nhân gian.
Này
các bạn tu, những người xuất gia còn trẻ thì cần phải
học đạo. Tôi đây (hồi còn trẻ) ngày nào cũng lưu tâm
học hỏi giới luật và uy nghi, và đã từng nghiên cứu tìm
hiểu và tham vấn không biết bao nhiêu kinh luận. Sau một
thời gian tôi mới biết đó chỉ là những phương dược cứu
đời, được diễn bày qua hình thức lý thuyết. Vì vậy cho
nên tôi đã nhất thời buông bỏ tất cả để đi tham vấn
và thực tập thiền. May mắn vì gặp được các bậc thiện
tri thức lớn cho nên tôi mới có được con mắt đạo để
có khả năng nhìn thấy rõ ràng, nhận được ai thật sự
là những vị cao túc đang có mặt trên đời, ai là giả dối.
Cái thấy này không phải tự mình có được từ khi mẹ mình
sinh ra, mà là một cái thấy do sự mài dũa, luyện tập, thể
nghiệm và nghiên tầm rồi một mai tự mình chứng ngộ.
Này
các bạn tu, nếu các bạn muốn có được kiến giải đúng
theo sự thực thì đừng để cho người khác mê hoặc. Bất
cứ nội hướng hay ngoại hướng, hễ gặp cái gì thì đừng
sợ hãi mà phải tìm cách diệt ngay cái đó. Gặp Bụt thì
giết Bụt, gặp Tổ thì giếp Tổ, gặp A La Hán thì giết
A La Hán, gặp cha mẹ thì giết cha mẹ, gặp thân quyến thì
giết thân quyến, như vậy mới giải thoát được. Ðừng
để cho sự vật trói buộc thì ta mới có thể ung dung tự
tại.
Trong
số các bạn tu bốn phương, chưa từng có một người nào
tới đây mà không mang theo một cái gì mà họ đang vướng
mắc phải. Ông thầy núi là tôi đây hễ nhận ra được cái
đó thì đánh liền. Nếu họ diễn tả cái ấy bằng tay thì
tôi đánh vào tay, nếu họ diễn tả cái ấy bằng miệng thì
tôi đánh vào miệng, nếu họ diễn tả cái ấy bằng mắt
thì tôi đánh vào mắt. Chưa có một ai tới mà chứng tỏ
được rằng mình có độc lập tự do, tất cả đều vướng
vào những cái bẫy sập của cổ nhân giăng ra. Tôi đây, tôi
không có pháp nào để hiến tặng cho quý vị cả. Tôi chỉ
giúp trị bệnh và cởi trói cho quý vị.
Các
vị học giả từ các nơi tới, quý vị hãy thử đừng nương
tựa vào bất cứ một vật nào xem. Tôi muốn bàn bạc với
các vị. Từ mười lăm năm nay, tôi thực sự chưa gặp
được một (con) người, chỉ gặp toàn những hồn ma nương
tựa vào tre vào gỗ, vào cỏ vào lá, những con chồn hoang
tinh mị đang gặm nhấm loạn xạ trên những đống phân. Thật
là những bọn mù. Họ chỉ làm uổng phí phẩm vật cúng dường
của tín thí mười phương. Kiến giải của họ chỉ nghèo
nàn như thế đó, vậy mà họ cứ tuyên bố: ‘Chúng tôi là
những người xuất gia’.
Tôi
muốn nói với quý vị rằng không có Bụt, không có Pháp,
không có Tu cũng không có Chứng. Quý vị đi tìm cầu cái gì
từ nơi người khác? Quý vị thiếu thốn cái gì? Ðừng làm
như những kẻ đui mù, trên cái đầu của mình lại muốn
đặt thêm một cái đầu khác. Này các bạn tu, trong giờ phút
này, cái diệu dụng của quý vị không khác gì cái diệu dụng
của Tổ, của Bụt cả. Chỉ vì quý vị không có niềm tin
cho nên quý vị mới đi tìm cầu bên ngoài. Ðừng có lầm
lẫn. Không có pháp nào ở ngoài để tìm, không có pháp nào
ở trong để đạt. Chi bằng nên nghe lời tôi, hãy nghỉ ngơi
đi và thực tập làm một người vô sự. Cái gì đã phát
khởi, đừng để cho nó tiếp tục; cái gì chưa phát khởi,
đừng để cho nó phát khởi. Làm được như thế còn
có giá trị hơn mười năm đi hành cước.
Theo
cái thấy của tôi thì quý vị có cần phải làm gì đâu,
chỉ nên sống cho bình thường thôi. Hãy mặc áo, ăn cơm,
ngày này qua ngày khác làm một người vô sự. Các vị từ
bốn phương tới đây đều nghĩ rằng mình là những người
có tâm cầu Bụt, cầu Pháp, cầu giải thoát, cầu ra khỏi
ba cõi. Ðồ ngu. Ra khỏi ba cõi thì quý vị đi đâu? Bụt và
Tổ đều là những danh từ mà người ta ưa thích, để người
ta sử dụng mà trói buộc chính mình. Quý vị có biết ba cõi
là gì không? Ba cõi chính là đất tâm của chính quý vị,
những người trong giây phút này đang ngồi đây nghe pháp.
Một niệm tham dục của quý vị phát khởi, đó là dục giới.
Một niệm sân hận của quý vị phát khởi, đó là sắc giới.
Một niệm nghi ngờ của quý vị phát khởi, đó là vô sắc
giới. Những cái ấy đều là bàn, ghế, chiếu, giường đang
có mặt trong căn nhà của quý vị. Ba cõi không bao giờ
tự nói rằng: ‘chúng tôi là ba cõi’. Chính quý vị đang
có mặt tại đây với cái tinh minh sáng chói chiếu rõ muôn
vật, chính quý vị là người ước lượng thế giới và cho
ba cõi, mỗi cõi một cái tên.
Này
các vị đại đức, sắc thân bốn đại này là vô thường,
kể cả tỳ, vị, gan, mật, tóc, lông, răng, móng. Nếu nhìn
vào, ta chỉ thấy tướng Không của các pháp. Khi quý vị ngưng
lại được mọi ý niệm thì đó đã là cội bồ đề. Nếu
ý niệm mà chưa ngưng được thì đó là cây vô minh. Vô minh
không có chỗ ở, không có thỉ chung, nếu quý vị không ngưng
được tâm ý thì quý vị sẽ leo lên cây vô minh, đi vào sáu
nẻo, chui qua bốn cách thọ sinh để mang lông và đội sừng.
Nhưng nếu quý vị ngưng được thì quý vị đạt ngay tới
thế giới của pháp thân thanh tịnh. Ðạt được trạng thái
một niệm không sinh (nhất niệm bất sinh) thì quý vị leo
lên được trên cây bồ đề, biến hóa thần thông trong ba
cõi, sử dụng hóa thân sinh ra từ ý (ý sinh thân), đạt được
pháp hỷ và thiền duyệt, hào quang nơi thân sẽ bắt đầu
tự chiếu, nghĩ tới cái mặc thì sẽ có ngàn muôn lớp áo
gấm sa, nghĩ tới cái ăn thì sẽ có đầy đủ hàng trăm hảo
vị và quý vị sẽ không bao giờ lâm vào các chứng bệnh
ngặt nghèo. ‘Bồ đề không có chỗ ở (trú xứ) vì vậy
cho nên gọi nó là vô đắc.’
Này
các bạn tu, là bậc đại trượng phu (con người lớn), các
vị còn nghi ngờ gì nữa? Cái diệu dụng đang xảy ra trong
giờ phút hiện tại, đó là ai vậy? Nắm được nó để
sử dụng, và đừng bị kẹt vào danh từ, cái đó gọi là
huyền chỉ (tông chỉ huyền diệu). Ai thấy được như
thế, kẻ ấy không còn bị một cái gì làm trở ngại. Người
xưa nói: ‘Tâm tùy vạn cảnh mà đổi thay, và cái đổi thay
này đâu có gì là lạ? Hãy tùy theo sự thay đổi ấy mà nhận
ra tự tánh của mình, nhận ra được rồi thì vượt thoát
cả mừng lẫn lo.’
5.
Thiền sư khai thị:
Này
các bạn tu, theo kiến giải của thiền tông, thì sống chết
là lẽ tuần hoàn (trong vũ trụ). Ta cần phải để hết tâm
ý trong khi tham vấn. Khi chủ và khách gặp nhau, thế nào cũng
có lời qua tiếng lại. Hoặc ứng hiện ra những hình tướng
khác nhau, hoặc sử dụng toàn thân mà đối phó với đương
sự. Có khi lại sử dụng những phương tiện cơ quyền như
mừng giận, hoặc hiện nửa thân, hoặc ngồi trên lưng sư
tử hay trên lưng voi chúa... Trong trường hợp một học nhân
đích thực thì người này có thể hét lên hoặc đưa ra một
cái bẫy (bình keo) trước mặt vị thiện tri thức. Nếu vị
này không nhận ra được cái ‘cảnh’ ấy mà lại rơi vào
trong cái bẫy, cứ nương vào cái ‘cảnh’ ấy đặt ra đủ
thứ mô hình, thì vị học nhân lại có thể hét lên nữa.
Nếu vị thiện tri thức còn chưa chịu buông bỏ, thì đó
thật là trường hợp của một bệnh nan y. Trường hợp này
gọi là trường hợp khách khán chủ.
Hoặc
giả vị thiện tri thức chẳng đưa ra cái gì hết, mà cứ
đợi kẻ học nhân đưa ra cái gì thì đoạt lấy cái đó.
Kẻ học nhân có thể tuy bị tước đoạt tất cả những
gì mình muốn đưa ra mà vẫn còn chống cự lại, chết vẫn
không chịu buông ra. Trường hợp này là trường hợp chủ
khán khách.
Hoặc
giả kẻ học nhân đứng trước vị thiện tri thức đưa ra
một đối tượng (cảnh) thanh tịnh. Vị thiện tri thức nhận
ra được đối tượng ấy, nắm lấy và liệng xuống hầm
sâu. Vị học nhân liền nói: ‘Thầy quả là một vị thầy
lớn.’ Vị thiện tri thức trả lời: ‘Ối chà, anh chẳng
biết cái gì là tốt cái gì là xấu.’ Vị học nhân bèn
lạy xuống. Trường hợp này gọi là chủ khán chủ.
Hoặc
kẻ học nhân trình diện trước vị thiện tri thức như một
người có mang gông cùm. Vị thiện tri thức thấy thế liền
đem tới và đeo thêm cho vài cái gông và vài cái cùm khác.
Vị học nhân vui mừng quá đỗi đến nỗi không phân biệt
được (ai là chủ ai là khách). Trường hợp này gọi là khách
khán khách.
Này
các vị đại đức, những gì tôi vừa nói chỉ là để giúp
quý vị nhận diện được ma quái và tà đạo, và phân biệt
được tà chính.
Này
các bạn tu, chân lý khó đạt tới, Phật pháp rất u huyền,
tuy nhiên ta vẫn có thể đi vào các lãnh vực ấy để đạt
được kiến giải. Ngày này qua ngày khác, tôi chỉ ngồi đây
mà thuyết giảng và đánh phá, nhưng hầu hết bọn họ có
chịu để ý đâu. Ngàn lần vạn lần họ vẫn tiếp tục
dẫm chân lên những vùng đất đen tối, không nhận ra được
một cái gì rõ ràng, độc lập, chiếu sáng. Chỉ vì các vị
còn thiếu đức tự tin, cứ đi tìm kiến giải trên chữ nghĩa
văn cú. Nửa đời người đã đi qua (nửa cõi trăm năm đã
đi qua) mà cứ vẫn còn ỷ lại vào kẻ khác, tiếp tục khiêng
tử thi của chính mình như một gánh nặng mà đi trong cõi
nhân gian. Có ngày thế nào họ cũng sẽ phải trả tiền
giày dép.
Này
các vị đại đức, khi nghe tôi nói rằng ngoài kia không có
pháp gì để tìm cầu cả, thì lại có những kẻ học nhân
hiểu lầm, nghĩ rằng phải đi tìm ở bên trong. Họ ngồi
xuống bất động, quay mặt vào tường, lưỡi dán vào đóc
họng, cho rằng đó là pháp môn của Bụt, của Tổ. Họ lầm
to. Nếu quý vị cho cái tĩnh (cảnh thanh tịnh bất động)
là đạo thì quý vị đã nhận cái vô minh là ông chủ. Người
xưa đã nói:
‘Lẳng
lặng là cái hầm sâu đen ngòm, thật là dễ sợ.’ Nếu
ngược lại, quý vị nhận cái động là đạo thì hóa ra các
loài cây cối đang động đậy ngoài kia đều là đạo hay
sao? Ðộng là phong đại, bất động là địa đại, động
và bất động cả hai đều không có tự tính. Nếu quý vị
muốn tìm nó trong cái động, nó sẽ đứng trong cái tĩnh;
nếu quý vị muốn tìm nó trong cái tĩnh, nó sẽ đứng trong
cái động, giống như con cá trong dòng suối đang vỗ sóng
nhảy lên.
Này
các vị đại đức, động và bất động chỉ là hai cảnh
giới, con người tu không vướng mắc (vô y đạo nhân) có
thể sử dụng cả động và bất động.
6.
Thiền sư khai thị:
Như
tôi đây, khi có học giả tới, thì tôi sử dụng ba phép quyết
đoán để đối phó với ba loại căn cơ. Nếu người có căn
cơ dưới trung bình tới, tôi sẽ đoạt cảnh của họ, nhưng
không đoạt pháp của họ. Nếu người có căn cơ trên trung
bình tới, tôi sẽ đoạt cả cảnh cả pháp của họ. Nếu
là người có căn cơ bén nhạy tới, tôi sẽ không đoạt cảnh
cũng không đoạt pháp cũng không đoạt người. Nếu là người
có kiến giải vượt bực tới, tôi sẽ sử dụng toàn thân
để đối phó, mà không liệt họ vào một loại căn cơ nào
cả.
Này
các vị đại đức, trong trường hợp này, pháp lực của
kẻ học nhân sẽ không để cho một ngọn gió nào đi qua và
tốc độ của pháp lực ấy, lửa đá và điện quang cũng
không vượt qua được. Vị học nhân ấy chỉ cần chớp mắt
là đã đánh mất sự tương giao, chỉ cần khởi ra một niệm
là đã đi vào sự sai trái. Có hiểu được hay không là chỉ
ngay trong giây phút đó mà thôi.
Này
các vị đại đức, các vị mang bát, mang túi và mang một
khúc ruột già đầy phân đi tới người ta để tìm cầu Phật
và Pháp, quý vị có biết ai là kẻ đang đi tìm cầu ấy không?
Ðó là một kẻ sống động, linh hoạt, không vương vào dây
mơ rễ má nào cả, lùa thì không vào, xua cũng không đi, chạy
tìm thì nó càng lúc càng xa, không tìm thì nó đứng ngay trước
mặt, tiếng nói của kẻ ấy đang vọng ngay vào tai quý vị.
Không có đủ niềm tin nơi đây thì thật phí cả một cuộc
trăm năm.
Các
bạn tu, chỉ trong một khoảnh khắc là ta có thể đi vào cảnh
giới của Hoa Tạng, đi vào cảnh giới của Bụt Tỳ Lô Giá
Na, đi vào các quốc độ của giải thoát, của thần thông,
của thanh tịnh, đi vào pháp giới, đi vào uế, đi vào tịnh,
đi vào phàm, đi vào thánh, đi vào ngạ quỷ súc sinh và nơi
nào ta cũng không tìm kiếm ra được cái gọi là sinh tử.
Tất cả đều chỉ là danh từ suông (không danh), là hoa đốm
huyễn hóa trong hư không, không đáng để ta nhọc công đi
tìm bắt. Lúc đó thì ta sẽ buông bỏ được hết tất cả
mọi cái đắc, thất, thị và phi.
Này
các bạn tu, cái thấy về Phật pháp của tôi, tôi đã tiếp
nhận từ các hòa thượng Ma Cốc, Ðan Hà, Ðạo Nhất, Lô
Sơn và Thạch Ðầu. Sự trao truyền của truyền thống này
đã phổ biến trên thiên hạ, nhưng vì chưa tin nhận được
nên nhiều người còn nhạo báng. Như ý chỉ của Tổ
Ðạo Nhất, thuần nhất và không tạp loạn như thế, mà cả
ba trăm năm mươi người tới học cũng không nắm bắt được.
Tổ Lô Sơn thảnh thơi và chính chân như thế, nắm vững được
cả hai chiều thuận nghịch như thế, mà đệ tử cũng còn
hoang mang không thăm dò được bờ mé của trí tuệ ngài. Tổ
Ðan Hà cũng vậy, đùa giỡn với hạt châu, khi ẩn khi hiện,
kẻ học nhân tới không ai là không bị Tổ la mắng. Hành
tung của Tổ Ma Cốc thì đắng như vỏ cây hoàng bá, ai đến
gần cũng không được. Tổ Thạch Củng thì bí quyết là tìm
người trên đầu một mũi tên làm cho ai nấy cũng đều sợ
hãi. Còn cái cách hành xử của ông thầy tu núi là tôi đây
thì đó là sự thành hoại chân thực (chân chính thành hoại).
Tôi đùa bỡn với sự thần biến tâm linh, tôi đi vào được
trong tất cả mọi cơ cảnh, và ở đâu tôi cũng duy trì được
(bản lĩnh của mình là) vô sự, cảnh không bao giờ đoạt
được tôi. Nếu có ai tới tìm, tôi sẽ đi ra nhìn người
ấy. Kẻ ấy không biết tôi. Tôi liền mặc áo vào. áo có
nhiều thứ. Kẻ học nhân nhìn thấy áo, trong tâm liền phát
sinh kiến giải và kẹt ngay vào ngôn cú của tôi. Tội nghiệp
cái ông thầy đui mù không mắt này quá đi, ông ta nhận lầm
cái áo là tôi, cho tôi là hoặc vàng hoặc xanh hoặc trắng
hoặc đỏ. Thấy thế tôi mới cởi hết áo đi và để lộ
cái ‘thanh tịnh’ ra. Vị học nhân thấy thế, liền sinh
tâm vui mừng và ham muốn. Tôi liền cởi bỏ luôn cái áo ‘thanh
tịnh’ ấy ra nữa. Bấy giờ kẻ học nhân thất kinh, hoang
mang, cuống cuồng bỏ chạy, nói rằng tôi ‘trần truồng
như nhộng.’ Tôi mới nói với kẻ ấy: ‘Chú có biết cái
con người mặc áo trong tôi là ai chưa?’ Hốt nhiên kẻ kia
quay đầu lại và nhận ra tôi.
Này
các vị đại đức, các vị đừng có kẹt vào cái áo. Áo
là bất động, chỉ có người mới có thể mặc áo. Có cái
áo thanh tịnh, có cái áo vô sinh, có cái áo bồ đề, có cái
áo niết bàn, có áo Tổ, có áo Bụt.
Các
vị đại đức, nếu những cái đó chỉ là âm thanh, danh từ
và văn cú thì tất cả đều chỉ là những chiếc áo được
biến hiện ra, vận dụng từ huyệt khí hải dưới rốn đi
lên làm hàm răng lách cách phát ra thành câu, thành ý, nên
biết rõ những thứ ấy chỉ là trò huyễn hóa.
Này
các đại đức, bên ngoài là hành động phát ra âm thanh ngôn
ngữ, bên trong là tâm tư làm phát sinh ý niệm, tất cả đều
chỉ là những loại áo. Tại sao các vị lại nhận những
cái áo ấy làm kiến giải chân thật? Nếu cứ tiếp
tục như thế thì dù có tu trải qua muôn vạn kiếp nhiều
như vi trần thì cũng chỉ là để hết mặc áo này lại mặc
áo khác (chưa phải là thần thông mà chỉ là y thông), chưa
thoát ra được luân hồi sinh tử. Tất cả đều không bằng
thực tập vô sự. ‘Gặp nhau không biết nhau, trò chuyện
tên chẳng biết.’
Ðời
nay, người tu không đạt được đạo cũng vì cứ nhận lầm
danh tự làm kiến giải. Họ ghi chép lại những câu nói, những
lời lẽ của các ông già đã chết vào trong một cuốn sách
lớn, đem cất dấu trong bốn năm lớp túi vải, không cho ai
nhìn thấy, cho những điều ghi chép trong đó là ‘huyền chỉ’,
rồi cất giấu bảo trọng. Lầm to. Này bọn mù kia, trong những
khúc xương khô ấy, các anh tìm sao cho ra một giọt nước
mát? Có một bọn không biết thế nào là xấu tốt, từ trong
giáo pháp rút ra những huyền đàm lý luận, chế thành văn
cú lý nghĩa, giống như bỏ vào miệng những cục phân rồi
nhả ra và mớm lại cho kẻ khác, chẳng khác gì người thế
tục chơi trò chuyền miệng. Một đời đi qua oan uổng, vậy
mà cứ nói ‘ta là người xuất gia’. Khi có kẻ đến tham
vấn về Phật pháp, chúng ngậm miệng, không nói nên lời,
hai mắt mở ra, thất thần và đen ngòm như những chiếc ống
khói, còn miệng thì trệ xuống như thể một chiếc đòn gánh
trĩu nặng hai đầu. Những kẻ như thế thì dù Bụt Di Lặc
có ra đời bây giờ đi nữa, họ cũng bị đày đi các thế
giới khác hoặc gửi xuống địa ngục để nhận chịu quả
báo đau khổ.
Này
các vị đại đức, các vị bôn ba khắp nơi để tìm kiếm
cái gì cho đến nỗi hai bàn chân của quý vị bành ra như
thế? Có Bụt đâu mà tìm, có Ðạo đâu mà thành, có Pháp
đâu mà đắc? Bụt với các tướng tốt mà bạn
đang đi tìm ấy không giống bạn đâu. Muốn tự biết bản
tâm bạn, thì phải thấy được Bụt với bạn không hợp
cũng không ly.
Này
các bạn tu, chân Phật vô hình, chân Ðạo vô thể, chân Pháp
vô tướng, cả ba pháp ấy dung hợp nhau làm thành một. Ai
không thấy được điều này thì đều còn là chúng sinh với
nghiệp thức mang mang.
Hỏi:
Xin Thiền Sư khai thị cho chúng con: Chân Phật là gì, chân
Pháp là gì, chân Ðạo là gì?
Thiền
Sư đáp: Bụt thật (chân Phật) là sự thanh tịnh của
tâm mình. Pháp thật (chân Pháp) là ánh sáng của thân mình.
Ðạo thật (chân Ðạo) là ánh sáng thanh tịnh vô ngại (chiếu
soi) khắp chốn. Ba cái là một, cả ba đều là giả danh
mà không thật có. Người học đạo chân chính thì phải duy
trì chánh niệm về ba đối tượng ấy một cách miên mật.
Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma từ Ấn Ðộ sang đây, chỉ cốt đi tìm
kiếm cho được một con người không bị kẻ khác làm mê
hoặc. Cuối cùng ngài gặp được Huệ Khả, Tổ thứ hai.
Chỉ với một câu nói thôi ngài đã giúp cho Tổ Huệ Khả
giác ngộ và thấy rõ rằng tất cả công phu trước đó đều
là vô dụng. Theo cái thấy của tôi, thì chúng ta không khác
gì Tổ và Bụt, hiểu ngay được câu đầu thì ta trở thành
bậc thầy của Tổ và Bụt, và nếu đến câu thứ hai ta mới
hiểu thì ta cũng có thể trở thành bậc thầy của loài người
và loài trời. Nhưng nếu đến câu thứ ba mới hiểu
thì ta tự cứu ta cũng còn chưa được huống hồ là mong làm
thầy thiên hạ.
Hỏi:
Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma qua đây có ý gì?
Thiền
Sư đáp: Nếu đã có ý, thì tự cứu mình cũng chưa được
(huống hồ để độ người).
Hỏi:
Nếu không có ý, thì làm sao Tổ thứ hai đắc pháp được?
Thiền
Sư đáp: Ðắc tức là vô đắc.
Hỏi:
Nếu đắc quả là bất đắc, thì làm sao lại có cái ý bất
đắc?
Thiền
Sư đáp: Cũng vì đi tìm tâm khắp nơi mà không ngưng được,
cho nên Tổ mới nói: ‘Ô hay! Kẻ trượng phu kia. Sao ngươi
có đầu rồi mà còn đi tìm đầu mãi vậy?’ Nghe được
câu nói ấy mà biết đem ánh sáng trở về soi chiếu tự tâm,
không còn tìm cầu cái gì khác nữa, thì mình biết được
thân và tâm mình không khác gì với thân và tâm của Tổ và
Bụt, và ngay trong giây phút này đạt được trạng thái vô
sự. Cái đó mới gọi là đắc pháp.
Này
các đại đức, trong giờ phút này đây, vì vạn bất đắc
dĩ cho nên tôi mới nói ra những lời nói không mấy tao nhã.
Quý vị đừng có vì vậy mà hiểu lầm tôi. Theo cái thấy
của tôi thì thật ra chẳng có đạo lý gì để cho ta thuyết
giảng. Nếu cần làm gì thì cứ làm đi, nếu không thì
cứ nghỉ ngơi đi cho khỏe.
Khắp
nơi người ta nói lục độ vạn hạnh là Phật pháp, còn tôi
thì tôi nói đó chỉ là những phương tiện điểm trang, những
phương tiện để mình làm Phật sự chứ chưa phải là Phật
pháp. Cho đến những việc như trì trai, giữ giới, bưng
một bát dầu đừng để nó sóng sánh rơi ra một giọt v.v...,
tất cả những cái ấy nếu không có khả năng làm cho con
mắt đạo của quý vị sáng ra thì rốt cuộc quý vị cũng
phải bị người ta đòi trả tiền cơm nước như thường.
Tại sao?
Vào
đạo không thông lý
Luân
hồi đền tín thí
Trưởng
giả tám mươi mốt
Cây
khô ra mộc nhĩ
Dù
cho quý vị có ở một mình trên đỉnh cô phong, mỗi ngày
ăn một bữa, ngồi thiền suốt đêm, không đặt lưng xuống,
tu tập sáu thời một ngày tinh chuyên, thì quý vị cũng chỉ
là những người đang tạo nghiệp. Dù cho quý vị có
bố thí cả quốc thành, thê tử, đầu, mắt, tủy, não, voi,
ngựa, bảy báu, mọi thứ đều đem ra cho hết thì những cái
ấy rốt cuộc cũng chỉ làm đau nhức thân tâm, đem về những
quả báo khổ đau. Tất cả đều không bằng làm một kẻ
vô sự, thuần nhất, không tạp loạn. Cho dù các vị Bồ Tát
đã đi qua mười địa có muốn đem hết tâm mình mà đi tìm
dấu vết của một người tu vô sự như thế cũng không tìm
ra được. Sở dĩ người ấy được chư thiên ca tụng, được
Ðịa thần nâng gót, được chư Bụt mười phương xưng tán,
là tại vì sao? Tại vì những người tu ấy, ngay trong giây
phút hiện tại, đang ngồi đây nghe pháp mà đang không để
lại dấu vết gì.
Hỏi:
‘Bụt Ðại Thông Trí Thắng ngồi trong đạo tràng trong mười
kiếp liên tục mà Phật pháp không biểu hiện trước mắt,
và ngài không thực hiện được Phật đạo.’ Câu ấy
có nghĩa gì?
Thiền
Sư đáp: Ðại Thông có nghĩa là ở đâu cũng tự mình
đạt tới được sự thật vô tánh và vô tướng của vạn
pháp. Trí Thắng có nghĩa là ở đâu cũng không có một niệm
nghi hoặc, không thấy mình có đắc bất cứ một pháp nào.
Bụt có nghĩa là sự thanh tịnh của tâm, ánh sáng (của sự
thanh tịnh) ấy thấu triệt được cùng pháp giới. Mười
kiếp liên tục ngồi ở đạo tràng chính là mười Ba La Mật.
Phật pháp không biểu hiện trước mắt có nghĩa là Phật
vốn không sinh, Pháp vốn không diệt, thì làm sao biểu hiện
trước mắt? Không thực hiện được Phật đạo có nghĩa
là Bụt đâu có cần thành Bụt nữa. Cổ nhân nói: ‘Bụt
thường ở thế gian mà không nhiễm pháp thế gian.’ Này các
bạn tu, nếu quý vị muốn làm Bụt thì đừng tùy thuộc vào
vạn vật. Tâm sinh thì mọi pháp sinh, tâm diệt thì mọi pháp
diệt, một tâm không sinh, thì các pháp không làm gì mình được
nữa.
Trong
thế gian cũng như ngoài thế gian (xuất thế gian), chẳng có
Bụt mà cũng chẳng có Pháp, không thật sự có trong giây phút
hiện tại mà cũng chẳng sẽ là không trong tương lai.
Dầu nói có cái gì đi nữa, thì đó cũng chỉ là những danh
ngôn và chương cú, chỉ có tác dụng tiếp dẫn được bọn
con nít. Phương tiện thiết lập ra như thuốc để trị bệnh,
sự biểu hiện danh cú có ra là vì thế. Với lại danh cú
không tự gọi mình là danh cú. Chính quý vị đang có mặt
đây trong giờ phút này với cái linh giác thấy, nghe sáng rỡ
như một ngọn đuốc chiếu sáng kia, chính quý vị mới là
người đã an bày ra tất cả các danh cú.
7.
Thiền sư khai thị:
Các
vị đại đức, phải tạo ra năm nghiệp vô gián thì mới
được giải thoát.
Hỏi:
Năm nghiệp vô gián là gì?
Thiền
Sư đáp: Năm nghiệp vô gián là giết cha, giết mẹ, làm
Bụt chảy máu, chia rẽ tăng đoàn và thiêu đốt linh tượng.
Cha ở đây có nghĩa là vô minh. Nếu quý vị ngưng được
sự tìm cầu, dù cho trong một khoảnh khắc, cái sinh khởi
và cái hoại diệt (của các Pháp) như tiếng vang âm hưởng
với hư không, nếu quý vị trong trường hợp nào cũng vô
sự được, thì đó là đã giết được cha vô minh. Mẹ đây
là sự tham ái. Nếu quý vị trong khi đi vào cõi Dục để
tìm cầu đối tượng của sự tham ái mà có thể, dù cho trong
một khoảnh khắc, thấy được rằng các pháp đều Không
và bất cứ nơi đâu cũng được vô trước, đó gọi là giết
được mẹ tham dục. Bụt ở đây là sự vướng mắc vào
các kiến giải phân biệt. Nếu quý vị đi vào trong pháp giới
thanh tịnh mà không làm phát sinh những kiến giải phân biệt,
dù chỉ trong một sát na, tới đâu cũng giữ được trí vô
phân biệt của mình, đó là quý vị đã làm Bụt (của biến
kế sở chấp) chảy máu. Tăng đoàn ở đây là sự vướng
mắc vào các ý niệm phiền não và sở y. Nếu quý vị đạt
được cái thấy là tất cả các phiền não và kết sử đều
không và chẳng có chỗ nương tựa (sở y), thì dù chỉ trong
một khoảnh khắc, quý vị cũng đã phá được tăng đoàn
của phiền não, kết sử và sở y. Kinh tượng ở đây là
những ý niệm về nhân duyên, về tâm và về pháp. Nếu quý
vị, dù chỉ trong một khoảnh khắc, thấy được tính Không
của nhân duyên, của tâm và của pháp và đoạn trừ được
tất cả những khái niệm mình có về nhân duyên, về tâm
và về pháp, đó là quý vị đã thiêu đốt được các kinh
tượng của khái niệm, của tâm và của pháp.
Này
các vị đại đức, nếu làm được như thế, các vị sẽ
không còn bị kẹt vào các danh từ phàm và thánh.
Quý
vị trong mỗi ý niệm đã quen nhìn vào nắm tay không và ngón
tay chỉ, cho đó là sự thật, dựa trên căn cảnh mà hình
dung ra các pháp hư ngụy không thật có. Các vị có mặc cảm
tự ti, cho nên chỉ biết khúm núm co rút mình lại, và tiếp
tục nói: ‘Ta chỉ là một kẻ phàm phu, còn vị ấy là một
bậc thánh nhân.’ Bọn trọc đầu ngu ngốc kia ơi! Tại sao
các ngươi lại chạy đi hối hả tìm cái chết bằng cách
đội lốt sư tử lên đầu để kêu thành tiếng của những
con dã can như thế? Là kẻ đại trượng phu mà tại sao
các ngươi không thở ra được khí phách của kẻ đại trượng
phu? Những gì đã có sẵn trong nhà mình mà mình không
tin, lại cứ đi tìm kiếm ở những nhà khác? Tại sao lại
cứ sa vào cái bẫy danh cú của cổ nhân, hết nương vào âm
lại tựa vào dương, rốt cuộc chẳng tự mình đạt được
gì cả. Gặp hoàn cảnh nào cũng bám vào, gặp đối tượng
nào cũng nắm bắt, tiếp xúc tới đâu thì bị lừa gạt tới
đó, quý vị không hề có tiêu chuẩn nhận thức nào cả.
Các
bạn tu, các bạn đừng bị kẹt vào lời nói của ông thầy
tu núi này. Tại sao? Tại vì những lời tôi nói không thực
sự có nền tảng nào cả, đó chỉ là những bức vẽ nhất
thời trên không gian, dù chúng là những hình tượng có màu
có sắc. Này các bạn tu, đừng lấy Bụt làm tiêu chuẩn tuyệt
đối. Theo tôi thì cái quan niệm ta có về Bụt ấy cũng chỉ
như một cái hố xí, và theo nghĩa đó, Bồ Tát và La Hán cũng
chỉ là những kẻ đem tới gông cùm. Vì vậy mới có
hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Ðàm và Ương
Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca.
Này
các bạn tu, Bụt không phải là cái gì mà quý vị có thể
nắm bắt được, cho đến giáo lý ba thừa, năm tánh, đốn
giáo, viên giáo, tích môn, bản môn v.v..., tất cả chỉ là
thuốc và bệnh cùng hiện khởi đối lập nhau nhất thời,
không phải là những pháp có thật. Mà dù cho có cái
gì đi nữa thì đó cũng chỉ là những cái giả bày như có
thật, những biểu hiện tạm thời dưới dạng văn tự để
cho công chúng có tạm thời mà sử dụng. Chỉ nói thế thôi!
Này
các bạn tu, có một bọn thầy tu thực tập hướng nội công
phu, nghĩ rằng mình đang mong cầu pháp xuất thế. Họ lầm.
Cầu Bụt thì mất Bụt. Cầu Ðạo thì mất Ðạo. Cầu Tổ
thì mất Tổ. Các đại đức, đừng lầm! Tôi không cần quý
vị giải thích kinh luận cho hay, không cần quý vị làm quốc
vương hay đại thần, tôi không cần quý vị biện giải thao
thao như một dòng sông, tôi cũng không cần quý vị trở thành
những bậc thông minh và trí tuệ. Tôi chỉ cần quý vị có
được kiến giải chân chính. Nếu quý vị có giảng
giải được một trăm bộ kinh luận đi nữa thì quý vị cũng
không bằng được một ông thầy tu tầm thường mà vô sự.
Giảng giải được kinh luận một cách thao thao chỉ làm cho
các vị thêm tự hào tự đắc và sinh ra khinh miệt kẻ khác.
Ðó cũng chỉ là tâm sự của bọn A tu la, chỉ nghĩ đến
thắng bại. Vô minh và sự tranh chấp nhân ngã chỉ làm lớn
lên cái nghiệp địa ngục. Tỳ khưu Thiện Tinh (Sunaksatra)
đấy, thông giải được mười hai thể tài của kinh điển
vậy mà vẫn phải rơi vào địa ngục như thường, không còn
được ở lại trên trái đất. Hơn hết là nên vô sự
và chấm dứt mọi tìm cầu, đói thì ăn, buồn ngủ thì nhắm
mắt lại, kẻ ngu có thể cười ta, nhưng người trí sẽ hiểu
được ta.
Này
các bạn tu, đừng đi tìm cầu gì trong văn tự để cho tâm
mình thêm động, trí mình thêm mệt và phổi mình phải hớp
vào những luồng khí lạnh, vô ích. Chi bằng thấy được
trong một khoảnh khắc rằng các hiện tượng duyên khởi là
vô sinh và siêu việt được cả các vị bồ tát quyền học
trong ba thừa.
Các
vị đại đức, đừng chần chừ cho qua ngày tháng. Ngày
xưa, khi chưa thấy đạo, còn đang ở trong vùng mờ mịt đen
tối, tôi đã không lúc nào dám làm biếng, bầu máu nóng trong
người luôn luôn thúc đẩy tôi bôn ba đi tham cầu học đạo.
Sau đó nhờ đạt được trí lực, bây giờ mới có dịp ngồi
đây nói chuyện với quý vị. Tôi khuyên quý vị là đừng
vì chuyện cơm áo và danh lợi mà để thì giờ đi qua. Gặp
được thiện tri thức là một điều hy hữu, cũng giống như
gặp hoa ưu đàm đang độ nở, lâu lắm mới có một lần.
Có những vị từ khắp nơi về đây, nghe nói có lão già Lâm
Tế, liền tìm tới định vấn nạn thử giăng bẫy để lừa
tôi nói ra những lời ngôn giáo, nhưng các vị ấy đã thất
bại. Và khi lão tăng này đã đưa toàn thân ra để phơi bày
công dụng, thì quý vị ấy ngồi đó hai mắt tráo trưng, miệng
câm như hến, hoang mang đến nỗi không biết trả lời tôi
ra sao. Tôi xin nói cho quý vị biết: với sức dẫm đạp của
rồng voi thì lừa ngựa không thể nào chịu nổi.
Các
vị ấy đã đi khắp nơi, đã trỏ ngực vỗ sườn, nói rằng
mình hiểu thiền hiểu đạo. Nhưng các vị ấy đã không thể
không tới đây, có khi đi hai người, có khi đi ba người một
lúc, nhưng rốt cuộc tới đây họ cũng chẳng phô trương
được một cái gì cả. Úi chà! Các vị cứ đem cái thân
và cái tâm ấy của quý vị đi khắp nơi để khua tung hai
mảnh da môi, lừa gạt dân trong xóm, coi chừng có ngày sẽ
bị ăn thiết bổng. Bọn họ không phải là thật người xuất
gia đâu, kỳ thực họ đang bị lùa về cảnh giới A tu la.
Chỗ chí lý của đạo không phải là dùng lý luận để đề
cao giáo lý của mình và để chinh phục người đạo khác.
Chư Bụt và chư Tổ nối tiếp nhau cũng đi theo tinh thần này
và cũng không có chủ đích nào khác. Nếu các ngài có thiết
lập ngôn giáo thì những ngôn giáo này cũng chỉ nằm trong
những mô thức giáo hóa đưa người vào các phạm trù ba thừa,
năm tánh và quả báo trời người. Giáo pháp viên đốn thì
không như thế. Ðồng tử Thiện Tài thật ra chưa từng đi
qua một cuộc tham vấn tìm cầu nào cả.
Các
vị đại đức, đừng sử dụng tâm ý một cách lầm lạc.
Biển lớn không bao giờ chấp nhận tử thi. Mang gánh nặng
của tâm lý tìm cầu mà rong ruổi khắp nơi trong thiên hạ,
điều này chỉ gây thêm chướng ngại cho cái thấy của chính
tâm mình. Nếu mặt trời không bị mây che thì khắp nơi
bầu trời được chiếu sáng. Mắt không bị dụi thì sẽ
không có hoa đốm trong hư không.
Này
các bạn tu, nếu các bạn muốn sống theo tinh thần của Pháp
thì chỉ cần chấm dứt nghi ngờ. Triển khai ra thì ôm lấy
cả pháp giới, thu vén lại thì tơ tóc cũng không dung, một
mình sáng rỡ, chưa từng thiếu thốn. Cái mà tai không nghe,
mắt không thấy, ta gọi nó là cái gì? Người xưa nói: Nói
nó là một vật thì cũng không đúng. Quý vị hãy tự mình
quán chiếu xem có cái gì khác hơn không? Nói mãi cũng không
cùng, mỗi người phải tự nỗ lực. Xin chào quý vị.
II
- Ðối Trị Căn Cơ
Quan
Phủ Thường Thị họ Vương cùng với các quan thỉnh thiền
sư lên pháp tọa. Thiền sư bước lên nói:
- Hôm
nay vì việc bất đắc dĩ thuận theo nhân tình cho nên tôi
mới lên ngồi trên pháp tòa này. Nếu nói đến chuyện chính
thức đề xướng việc lớn của truyền thống tổ tông Thiền,
tôi sẽ không thể mở miệng ra được và quý vị cũng sẽ
không biết đặt chân vào đâu. Nhưng hôm nay vì quan Thường
Thị cứ thỉnh cầu mãi thì làm sao tôi còn có thể giấu
kín được tông chỉ cương yếu của Thiền? Vậy thì có vị
chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận thì hãy xin ra đối
diện với đại chúng đây để nêu ra vài chứng cứ xem sao?
Có
một vị xuất gia bước ra hỏi:
-
Ðại ý của Phật pháp là gì?
Thiền
sư hét. Vị xuất gia kia lạy. Thiền sư nói:
-
Ông thầy này có thể nói chuyện được đấy.
Một
vị khác hỏi:
-
Thiền sư xướng lên khúc hát của truyền thống nào, và tiếp
nối tông phong của ai?
Sư
đáp:
-
Ngày xưa hồi tôi còn ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi
đặt câu hỏi, ba lần bị đánh.
Vị
này suy nghĩ. Sư liền hét. Sau đó sư còn đánh thêm cho một
cái và nói:
-
Thầy đừng có mong đóng cọc trong hư không.
Có
vị tọa chủ lên hỏi:
-
Giáo lý của ba thừa và của mười hai thể tài không lý không
làm sáng lên được tính Bụt trong ta?
Thiền
sư nói
-
Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới.
Tọa
chủ thưa:
-
Không có lý Bụt lại đánh lừa người?
Sư
hỏi:
-
Bụt ở đâu?
Vị
tọa chủ không nói được. Sư bảo:
-
Có quan Thường Thị ở đây mà thầy lại muốn gạt ông thầy
tu già này hả? Rút lui mau, rút lui mau! Ðể chỗ cho người
khác hỏi.
Thiền
sư lại nói:
-
Vì việc lớn cho nên chúng ta mới thiết lập ra buổi tiệc
pháp hôm nay. Còn ai muốn hỏi hay nói gì nữa không? Hãy mau
ra đây. (Tôi nói trước cho quý vị biết) Khi quý vị vừa
mở miệng ra, thì quý vị đã đánh mất cái liên hệ rồi.
Tại sao? Quý vị có nghe Đức Thế Tôn nói rằng ‘pháp không
dính tới văn tự, không thuộc nhân cũng không do duyên’ hay
không? Chỉ vì đức tin của quý vị nơi tự thân còn chưa
tới, cho nên hôm nay chúng ta chỉ có được những giây leo
ký sinh (những lời nói lẻ), chỉ có tác dụng làm ủng trệ
cái tâm của quan Thường Thị và của các quan khác, và làm
cho Phật tính của quý vị ấy thêm lu mờ. Tốt hơn là nên
rút lui.
Rồi
thiền sư hét lên và nói :
-
Những người niềm tin bạc nhược kia ơi, bỏ ra cả ngày
để chỉ nói qua nói lại như vậy cũng vô ích thôi! Quý vị
đứng lâu mỏi chân rồi, vậy xin tạm biệt!
Có
lần thiền sư đến Hà phủ. Quan Thường Thị họ Vương thỉnh
thiền sư lên pháp tòa. Lúc bấy giờ có thầy Ma Cốc bước
ra hỏi:
-
Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Ðại Bi, con mắt nào là
con mắt chính?
Thiền
sư nói:
-
Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Ðại Bi, con mắt nào là
con mắt chính? Nói mau, nói mau!
Ma
Cốc kéo thiền sư xuống tòa rồi tự ngồi lên trên tòa.
Thiền sư đến gần, nói:
-
Không hiểu?
Ma
Cốc còn đang lưỡng lự thì thiền sư kéo Ma Cốc xuống,
rồi tự ngồi lên. Ma Cốc đi ra khỏi pháp đường. Thiền
sư cũng đi xuống.
Một
hôm thiền sư lên pháp đường nói:
-
Trên đống thịt đỏ au này có một con người thật không
có vị trí, thường đi ra đi vào ngay trước mặt quý vị.
Ai chưa thấy được thì hãy nhìn kỹ xem, nhìn kỹ xem!
Lúc
bấy giờ có một vị xuất gia đi lên, hỏi:
-
Con người thật không có vị trí là gì?
Thiền
sư từ thiền sàng bước xuống, nắm lấy vị ấy và bảo:
-
Thầy nói đi, thầy nói đi (con người thật không có vị trí
là gì?).
Vị
ấy lưỡng lự. Thiền sư bèn thả vị ấy ra rồi nói:
-
Con người thật không có vị trí là cái cọng cứt khô gì?
Nói
xong liền quay về phương trượng.
Thiền
sư vừa lên pháp đường thì có một vị xuất gia ra lạy.
Sư hét. Vị xuất gia nói:
-
Xin lão hòa thượng đừng thử con.
Thiền
sư hỏi:
-
Thầy nói tôi nghe đi, cái (tiếng hét) ấy đã rơi vào đâu?
Vị
xuất gia liền hét.
Có
một vị thầy khác lên hỏi:
-
Ðại ý của Phật pháp là gì?
Thiền
sư hét. Thầy ấy lạy. Thiền sư hỏi :
-
Khuyết điểm là ở chỗ nào?
Thầy
ấy nói:
-
Nếu tái phạm sẽ không tha thứ lần nữa.
Thiền
sư liền hét.
Hôm
ấy hai vị thủ tọa của hai thiền đường vừa thấy nhau
thì đồng thời cùng hét. Có một thầy hỏi thiền sư:
-
Trong trường hợp này có chủ có khách đàng hoàng không?
Thiền
sư nói:
-
Chủ khách rõ ràng đó.
Và
thiền sư nói:
-
Ðại chúng, nếu quý vị muốn biết về nguyên tắc tứ tân
chủ thì hãy tới hỏi hai vị thủ tọa hai thiền đường.
Nói
xong thiền sư bước xuống.
Thiền
sư lên pháp đường, có một vị xuất gia hỏi:
-
Ðại ý Phật pháp là gì?
Thiền
sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh
cho một cái. Lại có một vị xuất gia khác lên hỏi:
-
Ðại ý Phật pháp là gì?
Thiền
sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét.
Vị ấy do dự, liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo:
-
Này đại chúng, người vì pháp thì không sợ táng thất thân
mạng. Hai mươi năm về trước hồi còn ở với tiên sư Hoàng
Bích, ba lần tới hỏi về đại ý Phật pháp ba lần tôi được
ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu
bằng một cành ngải cứu (armoise) vậy. Ðến hôm nay tôi vẫn
còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy thì ai có thể
lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy?
Lúc
bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong chúng đi
lên và nói:
-
Con đây có thể làm được việc ấy.
Thiền
sư cầm gậy đưa cho vị kia. Vị kia ngần ngại khi tiếp nhận
cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.
Thiền
sư lên pháp đường, có vị xuất gia hỏi:
-
Chuyện đầu lưỡi gươm bén là chuyện gì vậy?
Thiền
sư nói:
-
Nguy rồi! Nguy rồi!
Vị
kia lưỡng lự, liền bị thiền sư đánh cho một cái.
Lại
có người hỏ