Nếp
sống đạo đức Phật giáo không thể thực hiện với những
người sống một mình trong rừng sâu, xa lánh xã hội và mọi
người. Nhiều người phương Tây không hiểu đạo Phật cho
rằng đạo Phật chủ trương một cuộc sống phủ định xã
hội và thế giới hiện thực.
Nếu
chúng ta nghiên cứu với thái độ không thành kiến các giới
luật mà đức Phật chế định cho hàng tại gia cũng như xuất
gia, dưới ánh sáng của kinh điển đạo Phật Nguyên thủy
cũng như Ðạo Phật Ðại thừa, chúng ta thấy rất rõ tính
xã hội, tính nhân bản thể hiện đầy đủ trong những giới
luật đó.
Hãy
lấy giới sát sanh làm ví dụ. Giới không được giết hại
sanh vật có nghĩa là tôn trọng, bảo vệ sự sống của các
loài hữu tình, và trước hết là tôn trọng bảo vệ sự
sống của con người. Nếu nói theo từ ngữ hiện đại thì
không những tôn trọng bảo vệ sự sống, mà còn nâng cao
chất lượng sống, về cả hai mặt vật chất và tinh thần,
thật sự tôn trọng con người, tôn trọng nhân phẩm và nhân
quyền. Đó chính là ý nghĩa xã hội và nhân bản của giới
sát sanh của đạo Phật.
Hiện
nay, vấn đề ngăn chặn thảm họa của chiến tranh hạt nhân
chính là vấn đề bảo vệ sự sống của hành tinh này. Ðó
là giới sát sanh, hiểu theo tầm cỡ của cả hành tinh, của
cả loài người.
Nếu
hiểu rộng ra nữa, thì vấn đề không phải chỉ là bảo
vệ sự sống mà còn là nâng cao chất lượng sống của con
người về cả hai mặt vật chất và đạo đức, tinh thần,
đảm bảo mọi điều kiện cho một cuộc sống hạnh phúc
và sáng tạo, một cuộc sống xứng đáng của con người có
tình cảm và có lý trí. Ðó chính là tính xã hội của giới
sát Phật giáo, hiểu theo đúng ý nghĩa rộng lớn của nó.
Ðối
với giới không trộm cắp cũng vậy. Mặt răn đe của giới
này là không được trộm cắp, không được lấy của không
cho dưới tất cả mọi hình thức, lộ liễu hay tế nhị,
dấu lén. Tham nhũng, hối lộ, buôn gian bán lận, lừa đảo
v.v... đều thuộc phạm vi răn đe của giới này. Ai cũng có
thể hiểu một xã hội mà nạn tham nhũng, hối lộ, nạn lừa
đảo, buôn gian bán lận trở thành phổ biến thì xã hội
đó không thể tồn tại lâu dài được.
Kinh
sách Phật dù là thuộc đạo Phật Nguyên thủy hay là đạo
Phật Ðại thừa, đều đề cao hạnh bố thí dưới các hình
thức khác nhau của nó. Thứ nhất là tài thí, tức là giúp
đở người thiếu thốn về của cải vật chất như quần
áo đồ ăn, thức uống, nhà cửa, thuốc men, tiền bạc v.v...
Giá trị của hạnh tài thí không ở chỗ của cho nhiều hay
ít mà chủ yếu là ở chỗ dụng tâm của người cho, vì lòng
từ, lòng thương nguời thật sự, lòng bi tức là sự thông
cảm sâu sắc với mọi thống khổ của đồng loại, của
chúng sanh.
Lòng
bi là sự thông cảm của Phật tử với nỗi khổ đau và bất
hạnh của tất cả chúng sanh, của mọi người, đi đôi với
lòng hỷ tức là thái độ sẵn sàng chia sẻ niềm vui với
tất cả mọi chúng sanh, mọi người. Dù hình thức bố thí
là thế nào, là bố thí của cải, hay bố thí pháp (pháp thí
hay là tùy hỷ thí, tức chia sẻ niềm vui), người Phật tử
chỉ có một động cơ thôi thúc tức là lòng từ và lòng
bi, như đã nói. Một yếu tố nữa, thúc đẩy người Phât
tử thực hiện hạnh bố thí không mệt mỏi là trí tuệ.
Với con mắt trí tuệ, người Phật tử không thấy sự khác
biệt giữa mình và mọi người, mọi chúng sanh. Ðó là quan
điểm vô ngã, là tinh túy của đạo đức và triết lý Phật
giáo. Chủ thuyết vô ngã hướng dẫn mọi hành vi ứng xử
của người Phật tử, xuất gia hay tại gia.
Người
Phật tử tu hạnh Bồ tát, tức là phát tâm tu tập theo hạnh
nguyện Bồ tát, nhằm cầu đạt quả vị Thánh cao nhất tức
là thành Phật. Người Phật tử tu hạnh Bồ tát phải là
hiện thân của thuyết vô ngã. Mọi tư tưởng, lời nói và
hành động của người Phật tử tu hạnh Bồ tát phải hoàn
toàn thấm nhuần tư tuởng vô ngã không bợn chút vị kỷ.
Kiếp này sang kiếp khác người Phật tử tu hạnh Bồ tát
phải làm việc không mệt mỏi để giảm nỗi khổ của chúng
sanh, trợ giúp người nghèo kẻ khó, dù có phải hy sinh hạnh
phúc của mình cho đến bản thân cuộc sống của mình.
Ðức
Phật Thích Ca, trong các kiếp trước, khi còn tu hạnh Bồ tát
đã nêu gương sáng của một cuộc sống hoàn toàn vô ngã
vị tha như vậy.
Ðức
Phật nói trong kinh Sutta Nipata (Tập Kinh):
“Hãy
phấn đấu vì hạnh phúc và an lạc của nhũng người khác”.
Ðối
với Phật tử tu theo hạnh Bồ tát “phục vụ là hạnh phúc
và hạnh phúc chính là phục vụ”. Một cuộc sống phục
vụ năng động, tích cực không biết mệt mỏi, không đòi
hỏi ai phải trả ơn, cũng không đòi ai phải ca ngợi, tán
thán. Người Phật tử tu hạnh Bồ tát phải như là người
cha, người mẹ, người thầy, người anh em, ngườl bạn, đối
với tất cả mọi chúng sanh. Dù là xuất gia hay tại gia, người
Phật tử tu hạnh Bồ tát đều giữ vững lập trường đó.
Lý
tưởng của người Phật tử tu hạnh Bồ tát là một lý tưởng
xã hội cao đẹp nhất, vượt lên trên mọi yêu cầu của
những học thuyết xã hội tiến bộ nhất của mọi thời
đại.
Thật
là sai lầm, quả sai lầm khi phê phán đạo Phật chủ trương
một nếp sống thụ động, cá nhân và vị kỷ.
Có
thể kể ra đây những giới hạnh của đạo đức Phật giáo,
có ý nghĩa xã hội lớn lao, và đã được đức Phật nói
đến khi đức Phật còn tại thế như là những giới hạnh
tiêu biểu của người Phật tử:
A/
Bốn nhiếp pháp: tức là bốn pháp nếu thực hành thì có
tác dụng thâu nhiếp, thu hút, tổ chức chúng sanh vào con đường
đạo. Ðó là
1)
Bố thí: giúp chúng sanh về của cải vật chất, về giảng
thuyết đạo lý, bảo vệ chúng sanh khỏi bị sợ hãi.
2)
Ái ngữ: nói lời thân ái dịu hiền với chúng sanh.
3)
Lợi hạnh: làm tất cả mọi Phật sự và thế sự có lợi
lạc đối với chúng sanh.
4)
Ðồng sự: cùng làm việc với chúng sanh về tất cả mọi
công việc thế sự và Phật sự có lợi.
Rất
rõ ràng, bốn pháp đó chỉ có thể thực hành ở giữa xã
hội, vì xã hội, vì mọi người, nhằm thu hút lôi cuốn đông
đảo người vào con đường đạo chân chánh.
B/
Bốn vô lượng tâm: Các Phật tử được khuyến khích tu tập
bốn vô lượng tâm tức là:
a)
Từ: Có lòng thương đối với tất cả chúng sanh như lòng
thương của người mẹ đối với đứa con một của mình
vậy. Không được nhầm lẫn giữa lòng từ của Phật giáo
với lòng yêu thương bình thường, lúc nào cũng pha lẫn lòng
tham muốn vị kỷ, hẹp hòi và những tư tưởng chiếm đoạt
cho riêng mình. Từ là lòng thương không giới hạn, không phân
biệt, không đòi trả lại. Người Phật tử sống tu tập
lòng từ, cũng tức là thực hiện thuyết vô ngã trong đời
sống thực tế, bởi vì không còn phân biệt thân hay sơ giữa
mình và người hay chúng sanh nữa.
Ðức
Phật dạy rằng sức mạnh của lòng từ rất là lón. Những
tu sĩ Phật giáo sở dĩ sống yên ổn trong rừng sâu, là chính
nhờ lòng từ tỏa ra từ con người họ đã khiến cho thú
dữ lại gần họ cũng trở nên thuần hóa, không làm hại
họ được.
Ðức
Phật nói: “Ta sống trên sườn núi. Bằng sức mạnh của
lòng từ, Ta khéo lại gần ta sư tử và hổ báo, Ta sống giũa
rừng, xung quanh Ta là hổ báo, heo rừng, hưou nai và trăn. Không
có con thú nào sợ Ta, và Ta cũng không sợ con thú nào hết.
Sức mạnh của lòng từ là nơi nương tựa duy nhất của Ta.
Và Ta sống trên sườn núi như vậy”.
b)
Bi: Lòng bi là sự thông cảm của ngườí Phật tử với tất
cả nỗi khổ của người khác và chúng sanh. Với sự thông
cảm đó, Phật tử nguyện làm hết sức mình để giảm bớt
nỗi thống khổ của chúng sanh, dù cho có phải hy sinh cả
cuộc sống của mình.
c)
Hỷ: Lòng tùy hỷ có nghĩa là chìa sẻ niềm vui với mọi
người được may mắn, được hạnh phúc. Tương phản với
lòng tùy hỷ là lòng ganh ghét, chỉ vui khi thấy người khác
buồn khổ, và không chịu được khi thấy người khác được
vui. Cũng chỉ vì lòng ganh ghét ác độc này, mà ngày xưa Socrates
đã phải uống thuốc độc, Jesus phải bị đóng đinh trên
Thánh giá. Lòng ganh ghét dẫn tới những cử chỉ và hành
vi tàn nhẫn, mất cả tính người.
d)
Xả: Thái độ bình thản, không giao động trước mọi khen
chê, thuận cảnh cũng như nghịch cảnh là thái độ xả, một
thái độ rất khó thực hành nhưng cũng rất cần thiết giữa
thế giới tràn ngập hận thù, ganh ghét, vu khống và giả
dối này. Với thái độ xả, người Phật tử không có tư
tưởng tham đắm, cũng không có tư tưởng thù ghét, không
tìm cách xa lánh những nghịch cảnh, cũng không tìm cách cầu
tìm thuận cảnh, đối với bất cứ hoàn cảnh nào đều cũng
giữ được thái độ bình thản, vô tư, quân bình, không giao
động.
C/
Các hạnh Ba-la-mật (Paramitas)
Các
kinh sách Phật giáo Nam tông và Bắc tông đều nói tới những
hạnh Ba-la-mật, mà đức Phật Thích Ca khi còn là Bồ tát,
đã kiên trì thực hành trong nhiều kiếp sống, để cuối
cùng khi Ngài giáng sanh ở Ấn Ðộ, làm Thái Tử con vua Suddhodana,
Ngài đạt đưực quả thánh vô thượng tức là thành Phật.
Những
nguời tin theo Phật giáo Ðại thừa, phát tâm Bồ đề, cầu
đạt quả Phật, cũng phấn đấu trong kiếp sống hiện tại
và trong nhiều kiếp sống sau này, thực hành các giới hạnh
Ba-la-mật. Ba-la-mật nguyên chữ Sanskrit là Paramita, có nghĩa
là bờ bên kia, nghĩa bóng là hoàn thiện, hoàn mỹ, không còn
thiếu sót, khuyết điểm gì nữa, đạt tới trình độ lý
tưởng.
Những
người phát tâm tu các hạnh Ba-la-mật, phải phấn đấu thực
hành những giới hạnh đó đến chỗ toàn thiện toàn mỹ,
không những trong kiếp sống hiện tại và trong nhiều kiếp
sống liên tiếp, cho đến kỳ thành được Phật quả. Kinh
sách Ðại thừa nói tới sáu hạnh Ba-la-mật, còn Kinh sách
Phật giáo Nguyên thủy (Kinh Tạng Pali) nói tới 10 hạnh Ba-la-mật,
tuy số hạnh có khác nhau, nhưng nội dung của các giới hạnh
thì tương tự, chỉ khác về cách phân loại và phân tách.
Phân
tách các giới hạnh Ba-la-mật, theo kinh sách Nam tông, cũng
như Bắc tông, chúng ta càng thấm thía ý nghĩa xã hội nhân
bản và tích cực của đạo đức Phật giáo, càng thấy những
lời phê phán về tính vị kỷ, tiêu cực của đạo Phật
là hồ đồ, không căn cứ.
1.
Hạnh bố thí (P. Dana): Ðứng đầu các hạnh Ba-la-mật là
hạnh bố thí, có công năng chế ngự và loại bỏ mọi tư
tưởng vị kỷ, phát triển và mở rộng tư tưởng vị tha,
cả hai loại tư tưởng đó đều ở dạng tùy miên trong mỗi
người chúng ta(*). Nếu biết thực hành hạnh bố thí, thì
tư tưởng vị tha tùy miên sẽ phát triển, tư tưởng vị
kỷ tùy miên sẽ bị suy giảm dần, cho đến lúc, người Phật
tử chứng đạt lý vô ngã, trở thành bậc A-la-hán. Nhờ tu
hạnh bố thí, người Phật tử có được niềm hân hoan của
sự hy sinh và phục vụ, vì đã thiết thực làm giảm nhẹ
nỗi đau khổ của đồng loại. Như nhà văn hào Nga vĩ đại
Lép Tolstoi viết “Bản thân sự hy sinh đem lại một niềm
vui không thể tả được”, Tolstoi nói như vậy về Pie Bếtsukốp,
nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa
bình”. Ðó là niềm vui chân thật lắng tận đáy sâu tâm
hồn, người ngoài chỉ có thể thấy ánh lên đôi chút trên
sắc mặt chúng ta mà thôi. Ðó là niềm vui mà đức Phật
thường nói, niềm vui của xả, của giải thoát, làm nâng
cao con người, giúp cho con người thoát khỏi cái vỏ vị kỷ
vốn ràng buộc và làm khổ con người.
Hoffding
viết: “Niềm vui đó lớn và mạnh mẽ đến mức, nếu so
sánh thì tất cả mọi niềm vui khác đều mất hết ý nghĩa.
Một phút vĩ đại và đẹp đẽ có thể vượt trên cả một
cuộc đời kéo dài nhưng trống rỗng... (Cuốn “Đạo đức”
của Schleicher, 1903. trang 78-79 Bản dịch Pháp văn của Poitevich).
Người
Phật tử tu hạnh Bố thí Ba-la-mật không bao giờ nghĩ tới
chuyện đền ơn trả nghĩa, như quên không thấy mình là người
bố thí, cũng không thấy người được mình giúp đỡ. Hành
động bố thí của người Phật tử tu hành Ba-la-mật hoàn
toàn vị tha, không bợn chút vị kỷ. Trong các truyện Bổn
sanh (Jatakas), kể về hạnh bố thí của đức Phật Thích Ca,
khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát, chúng ta thấy Bồ tát trong nhiều
trường hợp đã bố thí cả thân mạng của mình để cứu
sống cho một bầy hổ đói (Jatakas-mala), hy sinh cả vương
quốc của mình, cả vợ con mình, để thực hành triệt để
hạnh bố thí.
Về
những mục đích cao cả và hoàn toàn vị tha của vị Bồ
tát tu hạnh bố thí, sớ giải tập “Eari Pitaka” viết như
sau: “Khi bố thí thức ăn, vị Bồ tát cầu mong cho người
mình giúp đỡ được sống thọ, có dung sắc đẹp đẽ, được
hạnh phúc, sức khoẻ, trí tuệ, và quả Thạh cao nhất là
Niết Bàn. Khi bố thí thức uống, vị Bồ Tát cầu chúc cho
người được mình bố thí không còn thèm khát dục vọng.
Khi bố thí quần áo, vị Bồ tát cầu chúc cho người được
mình bố thí có được hạnh tàm và quý, biết xấu hổ và
sợ hãi khi phạm tội lỗi khi bố thí mùi vị, vị Bồ tát
cầu chúc cho người mình giúp đỡ có được hương thơm của
giới đức, khi bố thí vòng hoa và hương liệu, vị Bồ tát
cầu chúc cho người mình giúp đỡ có được những giới
hạnh của chư Phật, khi bố thí chỗ ngồi, vị Bồ tát cầu
chúc cho người mình giúp đỡ đạt tới tọa vị Giác ngộ
vô thượng, khi bố thí nơi ở, vị Bồ tát cầu mong làm nơi
y chỉ nương tựa của thế gian, khi bố thí ánh sáng, cầu
mong có được năm con mắt: con mắt thịt (nhục nhãn), mắt
trí tuệ (tuệ nhãn), con mắt chư Thiên (Thiên nhãn), con mắt
của Phật (Phật nhãn), con mắt thấy biết tất cả (chánh
biến tri), cầu mong có được thân sắc tỏa sáng hào quang
của Phật, có được tiếng nói dịu ngọt như tiếng nói
của Phạm Thiên, có được hương thơm tỏa ra làm mọi người
ưa thích, bố thí thuốc men để cầu chứng được quả Niết-bàn
bất tử, giải phóng cho mọi người thoát khỏi tù ngục của
dục vọng, tự nguyện xuất gia, nuôi dưỡng nơi mình tấm
lòng người cha hiền đối với mọi người, tự mình không
có vợ để trở thành đấng thế tôn, từ bỏ vương quốc
thế gian để cầu có được vương quốc của chánh pháp”.
Những
lời nguyện như trên của vị Bồ tát tu hạnh bố thí Ba-la-mật
toát ra những tình cảm vị tha thật là cao quý. Ðạo Phật
phân biệt có hai loại bố thí chủ yếu. Bố thí tài vật,
như thức ăn, thức uống, các đồ vật dụng khác như thuốc
men, quần áo... Bố thí giáo pháp, đạo lý Người xuất gia,
không có tài sản riêng, cho nên không thể bổ thí tài vật
mà chỉ có thể bố thí pháp, tức là làm chức năng của
vị đạo sư tâm linh, hướng dẫn cuộc sống đạo đức hướng
thượng cho người Phật tử tại gia.
Trong
kinh “Phật Thuyết Như vậy” (trang 494), đức Phật nói:
“Này các Tỷ kheo, có hai loại bố thí. Bố thí tài vật
và bố thí pháp. Này các Tỷ kheo, đây là bố thí tối thượng
trong hai loại bố thí này tức là bố thí pháp”. (Kinh Phật
Thuyết Như Vậy, trang 494).
Một
sự phân tích khác kể thêm hai loại bố thí nữa là vô úy
thí và tùy hỷ thí.
Vô
úy thí: che chở cho người hèn yếu, giúp họ thoát khỏi nỗi
lo sợ thí dụ bị hãm hiếp, bị đánh đập, áp bức. Vô
úy thí là bố thí sự không lo sợ.
Tùy
hỷ thí: chia sẻ niềm vui với người, trái với thói thường
thế gian hay ghen tỵ, truớc thành công của người khác. Người
Phật tử trái lại, chia sẻ với lòng thành thực niềm vui,
niềm hạnh phúc của mọi người.
Như
chúng ta thấy, với một sự phân tích như vậy của đạo
đức học Phật giáo, bất cứ 1úc nào cũng có thể thực
hành bố thí, không kể là giàu hay nghèo, ngu hay trí v.v...
Nhưng
kinh sách Phật, khi giảng về hạnh bố thí, không hạn chế
vào sự phân tích trên. Kinh Ưu Bà Tắc giới, quyển 5 phân
tích có ba tình huống bố thí kém hiệu quả, công đức không
lớn:
–
Lúc đầu phát tâm bố thí nhiều, nhưng về sau giảm dần.
–
Chọn đồ xấu, hư hỏng để bố thí cho người.
–
Bố thí rồi lại hối tiếc.
Cũng
cuốn kinh nói trên phân tích thêm tám trường hợp công đức
của bố thí bị giảm:
–
Bố thí cho người xong, thì lại nói về khuyết điểm của
người được bố thí.
–
Bố thí xong, liền cao rao về công đức bố thí của mình.
–
Ðầu tiên nói không có gi để bố thí, rồi sau lại cho.
–
Bố thí với tâm không bình đẳng.
–
Bố thí cho người, rồi đối với người yêu sách này khác.
–
Bố thí rồi nói lời bất nhã, không lịch sự với nguời
được bố thí.
–
Bố thí xong, lại kể ơn, đòi đền ơn.
–
Bố thí xong, tâm sinh hoài nghi... (không hiểu bố thí như vậy
có lợi hay không có lợi).
Có
thể nói Phật giáo trong các kinh sách của mình, hoặc là do
đức Phật giảng, hoặc là các đệ tử cùng thời hay là
về sau này giảng, đã vạch phân minh, thế nào là thiện,
thế nào là ác thậm chí còn nói rõ thế nào là thiện nhiều,
thế nào là thiện ít, xử sự như thế nào để làm điều
lành một cách hoàn thiện nhất, như trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới
quyển 5 đã phân tích như trên.
Mà
không phải chỉ một Kinh Ưu Bà Tắc Giới. Kinh Tăng Nhất
A Hàm quyển 37 phân tích có 8 sự kiện cần chú ý trong trường
hợp có bố thí tài vật (tài thí):
–
Bố thí đúng thời, nghĩa là vào thời điểm thích hơp.
–
Vật bố thí phải tốt đẹp, tươi...
–
Tự mình cầm hai tay bố thí, không nhờ người khác bố thí
hộ.
–
Thường xuyên phát nguyện bố thí, trong tâm không kiêu căng.
–
Bố thí với mục đích độ thoát chúng sanh, chứ không có
mong cầu đền đáp.
–
Bố thí nhằm cầu chứng cảnh giới Niết Bàn vô thượng,
chứ không cầu sanh lên các cõi Trời.
–
Bố thí ưu tiên cho những đối tượng là ruộng phước (các
bậc chân tu, những người thiện lành v.v...), không ưu tiên
bố thí cho người ác.
–
Hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh được cùng hưởng,
không dành riêng công đức cho mình.
Du
Già Sư Ðịa Luận, cuốn 39 viết:
“Không
được lấy của cải người khác mà bố thí, nếu người
ấy chưa đồng ý.
Không
được làm môi giới, đem thê thiếp người khác mà bố thí.
Không
được bố thí thức ăn,uống có côn trùng...”
Lại
viết:
“Vị
Bồ tát bố thí không được so đo quả báo, không được
vì danh lợi và tiếng khen thế gian, không được mong cầu
đền đáp, không mong cầu được cung kính và cúng dường,
không được bố thí với tâm địa nhỏ nhen. Dù vật bố
thí ít ỏi, tâm địa phải giữ cho rộng lớn, huống hồ
là có vật bố thí nhiều, tâm địa lại càn phải giữ cho
rộng lớn”.
Nói
một cách khác, vị Bồ tát tiến hành bố thí với tâm không
vuớng mắc, không chấp thủ, như không vướng mắc vào danh,
vào lợi, vào sắc thanh, huơng, vị xúc, pháp v.v... Kinh Kim
Cang gọi là bố thí mà không vướng mắc vào tướng (vô trú
tướng bố thí).
Câu
trong Kinh Kim Cang rất rõ:
“Sở
vị bất trú sắc bố thí, bất trú thanh, hương, vị, xúc,
pháp bố thí, Bồ tát ưng như thị bố thí, bất trú ư tướng”.
Nghĩa
là: “Gọi là không chấp sắc mà bố thí, không chấp thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Vị Bồ tát nên bố thí như vậy, không
có chấp tướng”. Phật nói rằng, nếu Bồ tát bố thí mà
không chấp tướng thì công đức vô lượng vô biên như hư
không ở bốn phương vậy. Vị Bồ tát khi tiến hành bố thí,
không thấy mình bố thí không thấy tài vật bố thí, cũng
không thấy người được bố thí. Không thấy ở đây, không
phải là không thấy bằng mắt, mà không chấp thủ, không
vướng mắc.
2.
Giữ giới Ba-la-mật: Người Phật tử tu hạnh Bồ tát sống
cuộc đời đạo đức hoàn toàn trong sạch, làm đầy đủ
bổn phận của người tại gia và xuất gia, đồng thời biết
chế ngự mình không để phạm lỗi lầm, dù là nhỏ nhặt.
Kinh Singalovada, thuộc Trường Bộ kinh IV, trg l80–193 nêu cụ
thể bổn phận của cha mẹ, con cái, chồng vợ, thầy trò,
Tăng sĩ, người làm công. Tuy rằng đức Phật nói lên khá
cụ thể những bổn phận nói trên của người đời, cách
đây hơn 2500 năm, nhưng những lời khuyên của đức Phật
đến nay vẫn không mất giá trị thời sự. Các bổn phận
được sắp xếp theo 5 mục, có thể để cho tiện ghi nhớ:
Con
cái có bổn phận nuôi dưỡng cha mẹ, làm tròn bổn phận
đối với cha mẹ, giữ gìn gia đình và truyền thống, bảo
vệ tài sản do cha mẹ để lại, làm tang lễ khi cha mẹ qua
đời. Cha mẹ đối với con cái cũng có các bổn phận:
ngăn chặn con cái không làm ác, khuyến khích con cái làm thiện,
dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con, đúng thời
để gia tài lại cho con.
Học
trò đối với thầy giáo có các bổn phận: đứng dậy chào
thầy, hầu hạ thầy, chăm học, tự mình phục vụ thầy,
chuyên tâm học nghề. Thầy đối với trò cũng có các bổn
phận: khéo dạy cho học trò những gì mình đã được học,
giữ gìn những điều học được, dạy cho trò nắm vững
tay nghề, khen học trò với các bạn bè quen biết, đảm bảo
nghề nghiệp cho học trò.
Chồng
đối với vợ có các bổn phận: kính trọng vợ, chung thủy
với vợ, giao quyền hành nội trợ cho vợ, mua sắm nữ trang
cho vợ.
Vợ
đối với chồng có các bổn phận: làm tốt đẹp bổn phận
của mình đối với chồng, khéo đón tiếp bà con, chung thủy
với chồng, khéo giữ gìn tài sản của chồng, khéo léo nhanh
nhẹn trong mọi công việc.
Bè
bạn đối đãi với nhau có các bổn phận: bố thí ái ngữ,
lợi hạnh, đồng sự, không lường gạt, che chở, bảo vệ
bạn nếu bạn phóng túng, giữ gìn tài sản của bạn nếu
bạn hoang phí, làm nơi nương tựa cho bạn khi bạn gặp nguy
hiểm, không xa bạn khi bạn gặp khó khăn, tôn trọng gia đình
bạn.
Người
chủ đối với người làm công có các bổn phận: giao việc
vừa sức, lo ăn uống và tiền công, lo điều trị thuốc men
khi người làm công ốm,chia sẽ thức ăn ngon cho người làm
công, cho nghỉ phép.
Người
làm công đối với chủ nhân có các bổn phận: thức dậy
trước chủ, ngủ sau chủ, bằng lòng với số vật dụng được
người chủ cung cấp, khéo làm công việc, đem lại danh tiếng
tốt đẹp lại cho chủ...
Gia
chủ đối với các vị Sa môn và Bà-la-môn có các bổn phận:
đối đãi với các vị ấy với lòng từ trong ý nghĩ, lời
nói và hành vi ứng xử, niềm nở đón tiếp khi các vị ấy
đến, cúng dường các vị ấy những vật dụng cần thiết
Các
vị Sa môn và Bà-la-môn đối với các gia chủ có các bổn
phận: Ngăn làm điều ác, khuyến khich làm điều thiện, thương
yêu gia chủ với lòng từ bi, giảng pháp, giảng đạo lý chưa
từng được nghe, làm cho thanh tịnh, đúng đắn những điều
đưọc nghe, chỉ bày con đường tái sanh lên các cõi Trời...
Ngoài
những bổn phận nói trên, vị Bồ tát giữ giới Ba-la-mật
phải giữ đủ năm giới, nếu là người tại gia, và giữ
đủ các giới theo giới bổn Patimokkha, nếu là xuất gia làm
Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni.
3.
Viễn ly Ba-la-mật (P. Nekkhma): là sự từ bỏ mọi dục vọng,
thèm muốn vị kỷ, cho tới mọi tư tưởng và ý nghĩ về
cái Ta, cái của Ta. Mặc dù, có khi vị Bồ tát có thể làm
quốc vuơng, đại thần, vị trưởng giả giàu có, sống trong
cảnh giàu sang quyền quý, thế nhưng vị Bồ tát không chút
tham đắm, xem tất cả của cải, danh vọng thế gian chỉ là
bèo bọt, tồn tại sớm chiều.
Biểu
trưng một cách đầy đủ nhất cho thái độ xả viễn ly là
cuộc sống xuất gia của Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni, thiểu dục,
tri túc, nổ lực không mệt mỏi cho sự phát triển tâm linh
của bản thân, đồng thời cũng lo lắng cho tiến bộ tâm
linh của các bạn đồng tu và mọi người khác. Một cuộc
sống thanh tịnh ở trong nội tâm cũng như ở hình thức bề
ngoài. Người xuất gia sống cuộc sống không chút ưu tư trong
hiện tại, không hối tiếc quá khứ, cũng không lo lắng tương
lai. Người xuất gia không ở cố định một nơi, không bám
vào một trú xứ cố định nào, và sẵn sàng đi mọi nơi
cần thiết, vì hạnh phúc của chúng sanh. Có thể nói cuộc
sống xuất gia là nếp sống lý tưởng đối với những ai
cầu đạo giải thoát, cầu thoát ly các dục vọng. Nhưng không
phải người nào tu hạnh Bồ tát cũng đều có điều kiện
xuất gia. Thế nhưng dù là tại gia hay xuất gia, người tu
hạnh Bồ tát luôn luôn nổ lực sống nếp sống trong sạch,
vô ngã vị tha, làm chủ bản thân và nội tâm mình, nhìn sự
vật đúng như chúng tồn tại nghĩa là vô thường vô ngã,
không bị chúng chi phối, nhằm động viên, phát huy những
tiềm năng cao cả vốn có sẵn trong người mình.
4.
Trí tuệ Ba-la-mật: từ Pali của Trí tuệ là Panna, là sự
hiểu biết thế giới, sự vật như chúng tồn tại khách quan,
thật sự: mọi sự vật, quá trình thuộc thế giới hiện
tượng đều là vô thường, vô ngã (không thực thể) do đó,
nếu tham đắm chúng thì sẽ thất vọng và đau khổ.
Vị
Bồ tát phát tâm cứu độ chúng sanh, cũng không coi thường
các kiến thức về thế gian và thế tục bởi lẽ kiến thức
này cần thiết cho sự nghiệp thâu nhiếp và hóa độ chúng
sanh.
Có
ba loại trí tuệ. Thứ nhất là văn tuệ nghĩa là nghe nhiều
mà có trí tuệ. Ðó là ngày xưa, việc in ấn chưa có, hay
là tuy có mà chưa phổ biển. Học trò nhờ nghe thầy giảng
mà có kiến thức. Kinh tạng Pali thường đề cao các bậc
gọi là đa văn như là những người được học nhiều, nghe
nhiều. Thí dụ, ông A Nan là thị giả của đức Phật, được
tán dương là đa văn đệ nhất là vị đệ tử bác học hàng
đầu. Thứ hai là tư tuệ, tức là nhờ suy nghĩ, tư duy mà
có trí tuệ. Thứ ba là tu tuệ, là loại tri thức cao cấp,
thành tựu đưọc nhờ nếp sống đạo đức và thực hành
thiền định. Nội dung của tu tập thiền định là chỉ (làm
cho nội tâm bình lặng), và quán dùng nội tâm bình lặng và
sáng suốt để thấy sự vật như là chúng tồn tại, thấy
bản chất của sự vật, một cái thấy siêu việt không phải
bằng con mắt thịt, mà bằng con mắt tuệ, cũng không phải
bằng tư biện logic.
Trí
tuệ là hạnh hàng đầu của Phật tử, là mục đích thứ
nhất trong tám mục đích của Bát chânh đạo, là một trong
bảy giác chi (bảy pháp dẫn tới giác ngộ), là một trong
bốn căn (cơ sở của sự giác ngộ), cũng là một trong bốn
lực (bốn sức mạnh của nguời tu đạo giải thoát). Chính
trí tuệ trực tiếp dẫn tới giác ngộ và giải thoát tối
hậu.
5.
Tinh tấn Ba-la-mật: Là quyết tâm và nổ lực hoàn thiện,
là sức mạnh tinh thần, là sức kiên trì liên tục, không
buông lơi của người Phật tử tu hạnh Bồ tát, trong sự
phấn đấu loại bỏ những nết hư tật xấu vốn có, né
tránh không mắc phải những nết hư tật xấu của ngưòi
khác, phát triển những ưu điểm, những điều lành vốn có,
học hỏi, bắt chước những ưu điểm, điều hay của người
khác mà mình chưa có.
Ðức
Phật thường xuyên động viên, khích lệ đệ tử phấn đấu
không mệt mỏi, ngày đêm tu học để gột sạch mọi phiền
não, mọi điều dơ bẩn khỏi nội tâm. Kinh Pháp Cú, kệ 12
viết:
“Ai
sống một trăm năm,
Lười
nhác không tinh tấn,
Tốt
hơn sống một ngày,
Tinh
tấn tận sức mình”.
Ý
tứ của câu kệ trên là cả một đời lười biếng, không
đáng sống bằng một ngày sống tinh tấn, làm hết sức mình.
Tăng Chi Bộ Kinh I, trg 440, phân biệt có bốn loại tinh cần.
Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập và
tinh cần hộ trì. Tinh cần chế ngự là nổ lực làm cho những
pháp bất thiện chưa sanh, từ nay không còn sanh khởi nữa.
Tinh cần đoạn tận, là nổ lực đoạn trừ hết những pháp
bất thiện và ác đã sanh khởi. Tinh cần tu tập là nỗ lực
tu tập, thực hành những pháp thiện lành trước đây chưa
sanh khởi và tinh cần hộ trì là nổ lực khiến cho những
pháp thiện đã được sanh khởi tiếp tục tăng trưởng và
được duy trì.
Tất
nhiên, vị Bồ tát thực hành hạnh tinh tấn Ba-la-mật, tuy
nổ lực như vậy, phấn đấu như vậy, nhưng với tâm an tịnh,
không xao động, mặc dù vẫn đầy nhiệt tình. Trong kinh “Phật
Thuyết Như Vậy” (Ittvutaka), vị Tỷ kheo tinh tấn siêng năng
được mô tả như sau:
“Này
các Tỷ kheo, hãy sống với đẩy đủ giới, đầy đủ giới
bổn Patimikkha, được chế ngự với giới bổn Patimokkha. Hãy
sống đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các
lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập trong các pháp học. Vị
Tỷ kheo trong khi đi, tham sân được từ bỏ, hôn trầm thụy
miên, trạo hối, nghi đều được từ bỏ, đoạn tận, tinh
cần, tinh tấn, không thụ động, niệm được an trú, không
thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm
được định tỉnh, nhất tâm. Nếu Tỷ kheo, trong khi đi, có
sở hành như vậy, vị ấy được gọi là có nhiệt tâm, thường
hằng, tinh tấn. siêng năng... Ðức Phật nói tiếp là trong
khi đứng, nằm, ngồi mà nếu vẫn giữ được tâm như vậy,
thì vị Tỷ kheo đuợc gọi là người có nhiệt tâm, liên
tục thường hằng, tinh tấn, siêng năng...” (Xem kinh
“Phật Thuyết Như Vậy”, trg 58).
6.
Nhẫn nhục Ba-la-mật: Vị Bồ tát thực hành hạnh nhẫn nhục
Ba-la-mật, chịu mọi thử thách của nghịch cảnh từ thiên
nhiên (mưa, nắng, bão, gió) cũng như từ phía xã hội (bị
nói vu, nói xấu, chê bai, và nhiều sự ngược đãi khác),
nhưng không bao giờ tỏ vẻ sân hận, hay là thoái chí trên
con đường tu đạo giải thoát và cứu độ chúng sanh. Vị
Bồ tát luôn luôn thấy cái hay, cái đẹp trong người khác,
để khuyến khích tán thán, tuy cũng vẫn thấy được khuyết
điểm của người khác, nhưng không phải là để chê bai hay
thành kiến, mà để giúp đở sửa chữa khuyết điểm cho
họ.
7.
Trung thực Ba-la-mật: Vị Bồ tát tu hạnh trung thực Ba-la-mật,
bao giờ cũng tôn trọng sự thật và lời hứa. Làm và nói,
đối với vị Bồ tát, bao giờ cũng đi đôi. Theo kinh Bổn
Sanh Harita Jataka số 481, vị Bồ tát trong các kiếp sống của
mình có thể vi phạm cả bốn trong năm giới, tức là giết
hại, lấy của không cho, tà dâm, uống rượu v.v... nhưng không
bao giờ được vi phạm giới nói dối, không trung thực. Trong
“Kinh Giáo Giới La Hầu La ở rừng Am ba la”, đức Phật
răn dạy La Hầu La rằng, một người nới dối có dụng tâm
thì không có việc ác gì mà anh ta không làm. Và dức Phật
dạy rằng, tuyệt đối không được nói dối, dù là nói để
mà đùa. Ðức Phật nói: “Này Lahula, đối với ai biết mà
nói dối, không có tàm quý thời Ta rói rằng, người ấy không
có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Lahula, hãy quyết
tâm không nói dối, dù nói để mà chơi. Như vậy, này Lahula
người phải học tập.” (Trung Bộ kinh II).
Tất
nhiên, nếu sự thật đó nói ra gây đau khổ và bất hạnh
cho người khác thì vị Bồ tát sẽ giữ yên lặng, không nói.
Nhưng vị ấy đã nói ra lời gì, thì đó là lới nói thật.
Còn nếu đó là lời nói thật có lợi cho người, thì dù
nói ra có thiệt hại cho mình đi nữa, vị Bồ tát cũng không
ngần ngại nói lên sự thật đó. Trong kinh “Phật Thuyết
Như Vậy”, từ Như Lai (chỉ đức Phật) được định nghĩa
như là bậc Thánh nhất trí trong lời nói và việc làm. “Này
các Tỷ kheo! Như Lai nói gì làm vậy, làm gì nói vậy. Vì
rằng, nói gì làm vậy, làm gì nói vậy, nên được gọi là
Như Lai” (trg 500).
8.
Quyết tâm Ba-la-mật: Người Phật tử tu hạnh Bồ tát, trên
thì cầu chứng Phật quá vô thượng, dưới thì nguyện độ
thoát tất cà chúng sanh, phải nuôi dưỡng một quyết tâm
rất lớn, trong sự nghiệp tu đạo Bồ tát của mình. Nếu
thiếu quyết tâm lớn, mà giữa đường gặp khó khăn, người
phật tử sẽ rất dễ thoái chí. Ðức Phật Thích Ca khi còn
là Thái Tử, mặc dù sống trong cảnh giàu sang quyền quý,
mặc dù có vợ đẹp, con xinh, nhưng đã thể hiện quyết tâm
của mình bằng hành vi được gọi là “một sự từ bỏ
vĩ đại” nghĩa là cởi bỏ tất cả danh vọng, tiền tài,
gia đình êm ấm, chỉ vì mục đích cao cả là cầu đạo giải
thoát để cứu vớt chúng sinh ra khỏi cảnh già, đau, chết
và bất hạnh khác của cuộc đời. Người Phật tử tu hạnh
Bồ tát có thể gặp phải vô vàn khó khăn, gian khổ, trong
hành trình lâu dài cầu đạo giải thoát vô thượng, nhưng
quyết tâm của vị ấy không bao giờ đổi dời, vị ấy không
bao giờ giữa đường thoái lui.
9.
Từ Ba-la-mật: Từ là lòng từ, lòng của vị Bồ tát thương
yêu chúng sanh như người mẹ thương yêu con một của mình
vậy. Hạnh từ đã được nói và phân tích trong mục Bốn
vô lượng tâm, cho nên ở đây không bàn thêm.
10.
Xả Ba-la-mật: Xả là thái độ không giao động, trước khen
và chê, hạnh phúc hay bất hạnh. Từ Pali Upekkha là xả, gồm
có upa, một trạng từ với nghĩa một cách đúng đắn, chính
xác, khách quan. Và Ikkha, với nghĩa thấy, biết. Nhờ thấy
biết đúng đắn, mà giữ được thái độ nội tâm bình lặng,
không giao động. Không được hiểu thái độ xả là bàng
quan vô trách nhiệm, thiếu tình cảm giữa nguời và người.
Cần nói thêm rằng, người Phật tử tại gia tu hạnh Bồ
tát rất khó giữ được thái độ xả giữa một thế giới,
trong một xã hội đầy mâu thuẫn và biến động, trong đó
sự vùi dập, dèm pha, vu cáo, nói xấu v.v... đều là chuyện
thường ngày và thường tình. Tuy vậy, vị Bồ tát tại gia
hay xuất gia đều phải tu tập hạnh xả Ba la-mật, tu tập
đến mức hoàn thiện, khiến cho ngoại cảnh dù biến động
thế nào cũng không thể chi phối mình được nữa. Ðó là
thái độ đạt tới được của vua Trần Nhân Tông, khi vua
viết câu thơ chữ Hán, kết thúc bài phú văn nôm “Cư Trần
Lạc Ðạo”:
“Ðối
cảnh vô tâm mặc vấn thiền”
Nghĩa
là tiếp xúc với ngoại cảnh mà giữ được thái độ xả
tức vô tâm, tâm không còn tham trước, chấp thủ, thì cũng
không cần tu thiền nữa. Bởi vì, tâm không giao động, không
còn bị ngoại cảnh chi phối, tức là đỉnh cao của thiền
rồi. Nội tâm của người tu hạnh xả, phải như đáy sâu
của đại dương, không có đợt sóng nào trên mặt biển làm
xao động được. Có thể nói, 10 hạnh Ba-la-mật của vị
Bồ tát nói lên giá trị cao cả của nền đạo đức Phật
giáo hoàn toàn vị tha, không bợn chút vị kỷ, một nếp sống
có kỷ luật nội tâm vững trãi, trung thực, kiên trì, bình
lặng, nhưng vẫn thấm nhuần một lòng từ bi vô hạn đối
với tất cả chúng sanh, tất cả mọi loài hữu tình.
Sáu
hạnh Ba-la-mật của Phật giáo Ðại thừa.
Như
đã nói trên, giữa sáu hạnh Ba-la-mật của Phật giáo Ðại
thừa và 10 hạnh Ba-la-mật của Phật giáo Nguyên thủy, theo
kinh tạng Pali, không có sự khác biệt mấy về nội dung, mà
chỉ có sự khác nhau về con số và cách phân tích.
Sáu
hạnh Ba-la-mật của Ðại thừa là Bố thí, trì giới nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Như vậy là năm
trong sáu hạnh Ba-la-mật của Ðại thừa đã có trong 10 hạnh
Ba-la-mật của Phật giáo Nguyên thủy rồi. Chỉ trừ định,
tức là thiền định. Thế nhưng xả, cũng là một hành tướng
của định, và là hành tướng của thiền định ở trình
độ cao, tức là hành tướng của tâm đã chứng tam thiền
và tứ thiền. Cảnh giới Tam thiền được kinh Phật định
nghĩa là xả niệm lạc trú, một trạng thái không còn các
hoạt động tâm thức như tầm và tứ, và không có cả hỷ
nữa. Người hành thiền thấy niềm vui (lạc) trong xả. Và
đến Tứ thiền thì ngay niềm vui (lạc) cũng không còn, cảnh
giới Tứ thiền là cảnh giới xả niệm thanh tịnh và nhất
tâm.
Như
vậy, giữa 10 hạnh Ba-la-mật của Phật giáo Nguyên thủy và
sáu hạnh của Phật giáo Ðại thừa không có gì khác biệt
về nội dung, cũng như về mức độ thâm sâu.
Thực
là sai lầm và hồ đồ khi một số tác giả gán cho đạo
đức của Phật giáo Nguyên thủy những tư tưởng như là
vị kỷ, hẹp hòi, thụđộng. Vị A-la-hán sở dĩ được kinh
Phật gọi là bậc vô học là vì vị ấy không còn có nhược
điểm và khuyết điểm nữa, mọi tư tưởng “tôi và của
tôi” đều rũ sạch, nội tâm của vị A-la-hán hoàn toàn
trong sáng, là vàng ròng rồi, không còn cần phải tinh luyện
nữa. Sao lại có thể phê phán A-la-hán còn có tư tưởng vị
kỷ, hẹp hòi. Với người mới chứng sơ quả (tức Sotapanna:
Tu-Đà-hoàn), mọi tư tưởng về cái Ta cũng phải được loại
bỏ rồi, huống hồ là đối với vị A-la-hán, là vị đạt
tới quả Thánh cao nhất của Phật giáo Nguyên thủy. Thực
vậy, người chứng sơ quả đoạn trừ ba kiết sử đầu tiên,
trong 10 kiết sử. Kiết sử là cái ràng buộc. Kiết sử đầu
tiên là tư tưởng sai lầm về có cái Ta và của Ta. Kiết
sử hai là nghi, và kiết sử ba là giới cấm thủ (chấp nhận
và thực hành những lễ bái và cám giới sai lầm, có hại).
Chú
thích
(*)
Tùy miên là tiềm ẩn, không bộc lộ, có điều kiện mới
bộc lộ thành lời nói và hành động.
(Bài
này được đăng trong Tập văn VU LAN, số 54 PL 2546 – 2002)
