Đạo
Phật là đạo của con người. Đức Phật ra đời vì muôn
loài, trong đó chủ yếu là loài người. Cho nên mọi hành
động của Ngài đều nhắm đến con người. Đạo Phật dạy
chúng ta phải thấy được chân lý, đạt được lẽ thực,
nên nói tới đạo Phật là nói tới đạo giác ngộ.
Tôi
nhấn mạnh lại, đạo Phật là đạo giác ngộ chớ không
phải đạo của lòng tin. Chúng ta theo đạo Phật là
để tìm cầu sự giác ngộ, mà muốn được giác ngộ thì
phải vào đạo bằng trí tuệ, bằng cái nhìn đúng như thật,
chớ không thể nhìn khác hơn được.
Phật
tử khi bước chân vào đạo Phật, quý vị thấy Phật có
dạy chúng ta điều gì huyền bí mầu nhiệm không? Phật dạy
chúng ta toàn những sự thật. Ví dụ Phật tử tại gia, Phật
dạy phải giữ năm giới, rõ ràng có gì cao siêu huyền bí
đâu, chỉ là những lẽ thực. Nếu chúng ta sống giữ được
như thế thì mình là một con người tốt, hiện tại gây ảnh
hưởng tốt với gia đình xã hội, mai kia cũng được sanh
nơi tốt. Đó là lẽ thực chớ không có gì huyền bí cả.
Bởi vì Đức Phật là một con người thực, chứng nghiệm
lẽ thực cho nên những gì Ngài nói cũng là lẽ thực.
Lâu
nay chúng ta nhìn đạo Phật có vẻ huyền bí nhiều quá, mà
đã huyền bí thì tăng trưởng lòng tin chớ không tăng trưởng
trí tuệ. Nếu muốn đi đúng với tinh thần mở sáng
con mắt trí tuệ, chúng ta phải nhìn đạo Phật đúng như
Ngài muốn. Đọc lịch sử, chúng ta đều biết Đức Phật
là một vị Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, ra đời ở cõi này
lần chót tu hành chứng quả thành Phật. Cho nên công phu tu
của Ngài đã trải qua vô số kiếp vun bồi hạnh nguyện trí
tuệ rồi, đến đây là sắp viên mãn. Như vậy đương nhiên
Ngài có đủ khả năng tạo ra những cảnh huyền bí lạ lùng.
Vậy tại sao Ngài không từ trên không giáng xuống mà lại
xuất hiện trong một gia đình như những người thế tục,
rồi cũng sanh ra như bao nhiêu người?
Theo
ý riêng chúng tôi, tôi nghĩ Đức Phật sinh ra như mọi người
mà tu hành thành Phật thì chúng ta tu hành cũng sẽ thành Phật.
Vì thế Ngài sinh ra như mọi người là vì muốn độ loài
người. Khi lớn lên Ngài cũng phải học. Học rồi mới hiểu,
từ học hiểu đó sau này gặp duyên tốt, Ngài liền thức
tỉnh đi tu. Có thế hàng phàm phu chúng ta nhìn lại gương
lịch sử của Phật, thấy Ngài cũng là con người như mình,
thức tỉnh đi tu rồi thành đạo. Chúng ta cũng là người
như Ngài, nên cũng có quyền thức tỉnh đi tu rồi thành đạo.
Nếu Ngài sinh ra quá mầu nhiệm huyền bí, còn chúng ta sinh
ra quá tầm thường thì mình sẽ mặc cảm rằng việc làm
đó chỉ có bậc kỳ đặc như Ngài mới làm được, còn tầm
thường như mình thì bất khả thi. Nếu nhìn Đức Phật thế
ấy, chúng ta sẽ thấy Ngài rất gần gũi, rất thiết thực
với con người. Từ đó ta cố gắng tu để đạt được kết
quả như Phật. Như vậy đạo Phật mới thực tế chứ!
Hồi
xưa thái tử thấy cảnh già bệnh chết, Ngài thức tỉnh đi
tu. Bây giờ tất cả chúng ta cũng thấy cảnh già bệnh chết
nhưng thức tỉnh chưa? Phật thấy người già liền biết mình
sẽ già, thấy người bệnh liền biết mình sẽ bệnh, thấy
người chết liền biết mình sẽ chết, nên Ngài không cam
ngồi yên chờ cái già, bệnh, chết đến với mình nên đi
tu. Còn chúng ta thấy người già thì nghĩ đó là ông già,
mình còn trẻ chưa gấp gì. Thấy người bệnh nói người
ta bệnh chớ mình chưa bệnh, thấy người chết nói người
đó chết chớ mình chưa chết. Vì thế chúng ta không tỉnh
nên không vội vàng tu. Phật và chúng ta khác nhau ở chỗ tỉnh
và mê đó, chớ không phải khác nhau ở chỗ huyền bí.
Hiện
giờ chúng ta tu nếu gặp khó khăn trở ngại, có phân bì với
Phật hồi xưa tu khỏe, mình bây giờ tu cực quá không? Không
thể, vì Phật tu đâu có khỏe. Ngài cũng khó khăn, khổ sở
nhưng nhờ ý chí mãnh liệt, quyết tâm tột cùng nên mới
đạt đạo. Chúng ta ngày nay tu hơi khó khó thì nản, nói tu
gì khó quá. Tu mà sao không có phước, gặp tai nạn hoài, nghĩ
vậy rồi chán hết muốn tu. Người tu thời nay quan niệm rất
đơn giản, tu cho có phước hết tai nạn nên tới chùa tập
tu để cầu phước. Nếu lỡ gặp tai nạn thì trách Phật
không linh, nên nghỉ tu nghỉ đi chùa. Phải hiểu tu là chấp
nhận mọi khó khăn mọi nguy hiểm, để vươn lên trước những
thử thách cay đắng mới là người có lập trường, có ý
chí, như vậy mới mong đạt được sở nguyện. Hiểu thế
giả sử chúng ta có gặp khó khăn đến mấy, ta vẫn cười:
“Đây là cơ hội để mình tu, chớ không cầu xin ai”.
Phật
tử ngày nay đa số tu rất yếu ớt. Quý vị đòi lúc nào
cũng được như ý. Khởi sự qui y thọ năm giới rồi thì
cho rằng mình đã có phước, từ đây về sau muốn gì được
nấy, ít bệnh hoạn, ít tai nạn, ít khó khăn. Nếu quy y, thọ
giới rồi mà còn gặp tai nạn thì chán, mất niềm tin mình
tu sao không thấy phước, chỉ thấy họa. Tinh thần tu như
vậy rất yếu đuối. Tôi nghĩ Đức Phật hiện thân cầu
đạo khó khăn, cực khổ đủ điều là một tấm gương sáng
để chúng ta noi theo mà nỗ lực phấn đấu. Nhìn thấy Bồ
tát còn một đời thành Phật mà tu phải cay đắng như vậy,
huống nữa chúng ta là phàm phu? Đó là hình ảnh nhắc nhở
khích lệ chúng ta rất hay, rất thiết thực.
Hơn
nữa, tu là nguyện sửa chữa những tật xấu như tham sân
si. Nếu vào đạo muốn gì được nấy thì tham chẳng
những không giảm chút nào mà còn tăng trưởng thêm, càng
tu càng tham. Người biết tu khi gặp cảnh vui hợp ý
thì hoan hỷ tu, nhưng gặp những lúc khó khăn trái ý cũng
cười mà tu. Muốn được là tham, không được vẫn không
buồn là thắng cái tham, thắng một thứ độc. Còn muốn mà
không được, âu sầu buồn bã mất ăn mất ngủ là thua, là
kẻ bại trận trên đường tu. Chúng ta nỗ lực cố gắng
vượt qua những cái khó mới gọi là tu. Phải tâm niệm rằng
chính những sự khó khăn, nguy hiểm, thất bại mới tạo cơ
hội để ta biết được đạo lực của mình. Nếu dở thì
ráng tu nhiều hơn, nếu khá thì mừng để tiến lên. Đó mới
thực là người quyết tâm tu.
Sau
khi thành đạo rồi, Đức Phật chứng Tam minh, Lục thông,
Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v.v... Lục thông gồm có:
thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông,
túc mạng thông, lậu tận thông. Có lục thông, khi cần hiện
to liền hiện to, cần hiện nhỏ liền hiện nhỏ, cần đi
trên hư không thì đi trên hư không, cần chui xuống nước
thì chui xuống nước, cần độn thổ thì đi trong đất. Tóm
lại, Ngài có đầy đủ tất cả thần thông biến hóa, nhưng
khi đi hóa đạo, Đức Phật rất ít khi dùng thần thông, trừ
những trường hợp đặc biệt thôi. Rõ ràng chúng ta không
thấy sử ghi lại mỗi sáng Phật dùng thần thông bay lại
nhà tín đồ nhận cơm cúng dường, rồi bay về chỗ ngồi
thọ trai. Mà Ngài đi bộ từ tinh xá lần lần tới nhà Phật
tử nhận cơm, rồi ra gốc cây ngồi ăn hoặc nhận thọ trai
tại nhà v.v... chớ không bay đi bay về gì cả. Mình bây giờ
mà được thần thông thì biết, bay loạn trong hư không.
Tại
sao có thần thông mà Phật không dùng? Đó là điều chúng
ta cần phải lưu tâm. Hoặc khi đi giáo hóa gặp người chửi
mắng, Ngài chỉ im lặng đi, chớ không hiện thần thông khiến
ai khiếp sợ cả. Đó là bài học muôn đời mà hàng Tăng
Ni Phật tử phải nhớ. Chúng ta chỉ cần nghe ai nói lén đâu
đó ngoài xó hè, giông giống tên mình là ra mặt lên tiếng
ngay. Nếu nghe trực tiếp một lời chê xấu thì buồn tới
mất ăn mất ngủ. Vì mình nhận nhiều quá nên khổ, chớ
người ta nói mình không nhận như Phật thì đâu có khổ.
Phật tự tại không phải vì phép lạ, vì thần thông mà vì
tâm Ngài không dính mắc. Chúng ta bị trói buộc khổ đau vì
tâm dính mắc nhiều quá, cứng quá. Bây giờ muốn tu thì phải
gỡ bỏ tâm dính mắc đó. Chỉ có cách ấy thôi.
Trên
đường hoằng pháp, Đức Phật có một câu chuyện rất hay.
Lúc đó Ngài thành đạo chưa bao lâu, mới trên ba mươi tuổi.
Trên đường du hóa, một thầy Bà la môn giỏi về tướng
số, nhìn thấy dấu chân của Phật có cả ngàn khu ốc xoáy
tròn, ông đoán đây là quý tướng, người có bàn chân như
vậy là người phi thường. Vì vậy ông lần theo dấu chân
để tìm Phật. Đức Phật sau khi vào xóm khất thực rồi,
Ngài tới dưới một gốc cây ngồi thọ trai. Ông Bà la môn
tìm tới, thấy rõ ràng Phật có ba mươi hai tướng tốt, ông
biết chắc người này nếu ở thế gian sẽ làm Chuyển luân
Thánh vương, còn đi tu sẽ thành Phật. Bấy giờ ông bỗng
muốn gả con gái của mình cho Phật. Tuy biết con mình là cô
gái đẹp nhất trong vùng, nhưng ông ngại không dám nói, liền
quay về kêu vợ. Bà vợ theo ông đến chỗ Phật, vừa thấy
những tướng tốt của Thế Tôn, bà liền can ngăn ông vì
biết đây là bậc đã giác ngộ, bậc ly dục, không thể gả
con gái cho được. Nhưng ông kiên quyết xúi bà nài nỉ Phật,
nào là con gái mình đẹp tuyệt trần, nào là ông sẽ giao
hết sự nghiệp gia tài và gả con gái cho Ngài vô điều kiện…
Hai
ông bà nói gì thì nói, Phật cũng cứ tự nhiên thọ trai,
không trả lời. Năn nỉ mãi cho tới chiều tối, người hầu
tiểu thơ thấy hai ông bà đi lâu chưa về, mới chạy tìm.
Đến nơi, thấy hai ông bà đang năn nỉ Phật để gả tiểu
thơ nhưng Ngài không nhận. Cuối cùng Phật thấy mất thì
giờ quá, Ngài mới trả lời thế này: “Cô con gái của bà,
dù đẹp tuyệt trần nhưng với con mắt của ta, cô chỉ là
một đãy da hôi thối mà thôi”. Nghe câu đó, hai ông bà rụng
rời tay chân, hết còn năn nỉ nữa. Cô hầu nghe vậy liền
chạy về báo cho tiểu thơ hay: “Ông Cù Đàm chê cô là đãy
da hôi thối nên không nhận lời cầu xin gả con gái của ông
bà”. Tiểu thơ nghe thế tự ái, tức giận vô cùng thề sau
này sẽ trả thù. Quả nhiên về sau cô được làm hoàng hậu,
nhớ lại Cù Đàm đã dám khi mình là đãy da hôi thối nên
cô quyết tâm rửa hận.
Một
hôm Phật đi giáo hóa ngang qua vùng của hoàng hậu, có ngài
A Nan theo hầu. Nghe tin Đức Phật tới nước mình, bà liền
hạ lệnh cho dân địa phương: Cù Đàm đi tới đâu thì bủa
quanh chửi mắng tới đó. Nào chửi, nào chọi đá, nào ném
quả úng trứng úng vào mình hai thầy trò Đức Phật, nghĩa
là làm đủ điều nhục nhã cho Ngài để bà được hả dạ.
Lúc đó ngài A Nan tối mặt tối mày, chịu không nổi nữa
mới thưa:
- Bạch
Thế Tôn, chúng ta nên đi nơi khác.
Phật
hỏi:
- Đi
đâu, A Nan?
A Nan
thưa:
- Chúng
ta đi nơi nào đừng bị chửi mắng hoặc chọi đất đá như
thế này.
Phật
lại hỏi:
- Nơi
nào không có người chửi mắng chúng ta, A-nan?
A-nan
thưa:
- Thưa
Thế Tôn, chúng ta trở lại nước Xá Vệ, nước Ma Kiệt Đà.
Những nơi Thế Tôn đã từng giáo hóa, dân ở đó họ kính
Ngài sẽ không có ai chửi mắng.
Phật
lại hỏi:
- Này
A Nan, như một thầy thuốc giỏi có thể treo bảng trước
cửa nhà rằng “Nơi này chỉ trị những người bệnh nhẹ,
ai bệnh nặng thì đi nơi khác” không?
A Nan
thưa:
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Tại
sao?
- Vì
thầy thuốc giỏi thì phải trị những bệnh nặng, chớ còn
trị bệnh nhẹ thôi thì đâu có giá trị gì.
Phật
nói:
- Cũng
vậy, người nước Ma Kiệt Đà, nước Xá Vệ đã được
Ta giáo hóa hiền lành, họ biết tu tập, họ là những người
bệnh nhẹ. Còn dân ở đây chưa được Ta giáo hóa, họ còn
điên cuồng, chửi mắng đủ thứ, họ là người bệnh nặng,
ta cần ở lại để giáo hóa.
A Nan
chưa bằng lòng nên hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, nhưng họ có chịu nghe Thế Tôn nói đâu mà ở đây
giáo hóa?
Phật
liền tuyên bố giữa mọi người:
- Nếu
chừng nào người dân ở đây nói rằng “Không cần Cù Đàm
giáo hóa”, chừng đó Ta sẽ đi.
Khi
đó số người đứng chung quanh nghe câu chuyện đối đáp
của hai thầy trò, họ liền hô to rằng:
- Chúng
tôi là người bệnh nặng cần được ngài Cù Đàm giáo hóa.
Qua
câu chuyện này, quý vị thấy thế nào? Nếu chúng ta là Phật,
bị chửi bới bị chọi đất đá như thế, mình sẽ làm sao?
Mình liền ra uy, dùng thần thông bay lên hư không, hóa phép
lạ cho nó hoảng sợ chạy hết, khỏe biết mấy phải không?
Tội gì phải nghe chửi. Vậy mà Phật im lìm nghe họ chửi,
lại còn mở lòng từ bi ở lại để chữa bệnh cho những
bệnh nhân nặng. Phật là thầy thuốc giỏi, ai bệnh nặng
Ngài cần phải cứu giúp, quyết không bỏ dù họ có chửi
bới tới đâu. Người đang mê cuồng không biết phải quấy,
đó là người bệnh nặng cần được giáo hóa bằng tâm chớ
không dùng thần thông, không dùng phép lạ.
Nếu
lúc đó Phật dùng thần thông, dùng phép lạ thì bây giờ
chư Tăng Ni đi giáo hóa đến vùng bị chửi mắng, mình không
có phép lạ chỉ còn nước cuốn gói đi thôi, chớ biết làm
sao? Vì Phật có phép lạ nhưng Ngài không dùng, chỉ đem tâm
từ bi, đức nhẫn nhục để giáo hóa chúng sanh nên ngày nay
Tăng Ni mới có thể giáo hóa được. Ai chửi mình thì chửi,
ta chỉ thương thôi việc đó chúng ta có thể làm được.
Mở rộng lòng thương đối với kẻ mê muội nhiều đau khổ,
đó là tinh thần hết sức chân thật hết sức từ bi của
đạo Phật. Nhờ thuở xưa Đức Phật không dùng thần thông,
mà dùng lòng từ giáo hóa chúng sanh nên bây giờ chúng ta mới
tu, mới làm Phật sự được.
Thế
nhưng ngày nay thỉnh thoảng quý thầy gặp khó cũng bỏ chùa
chạy chỗ khác. Chúng ta phải có tâm thương người, dù khó
dù dễ gì cũng sẵn sàng giáo hóa thì mới làm tròn Phật
sự được. Với tình thương tràn trề chắc chắn không ai
không cảm hóa được. Tại vì nghe chửi quá, mình không sân
nhiều cũng giận ít nên thấy thiên hạ khó thương, không
khí căng thẳng tự nhiên muốn bỏ thôi. Còn Phật không giận
nên Ngài cứ thương, vì thế giáo hóa nơi nào cũng được
hết. Với đức độ cao dày, Đức Phật đã để lại tấm
gương sáng cho chúng ta học và làm theo. Ngài không nhìn thần
thông là tốt, để chúng ta thấy tinh thần xuất trần của
đạo Phật rất cụ thể.
Kinh
Trường A-hàm kể lại, một hôm Đức Phật ngồi trên bờ
hồ nhìn thấy những đóa sen nở tươi tắn, Ngài bảo: “Tất
cả hoa sen nở thơm tho thanh khiết này, gốc đều từ trong
lòng bùn nhơ”. Như vậy bùn nhơ là nơi để cho hoa sen
kết nụ, rồi từ từ nó chui ra khỏi bùn, nhú lên mặt nước
mới nở hoa thơm tho thanh khiết. Có hoa sen nào không từ bùn
nhơ mà ra đâu? Cũng thế, Đức Phật nói tất cả chúng sanh
đều có thể thành Phật. Nếu mọi người nỗ lực tu cũng
như nụ sen dưới bùn có khả năng vượt ra khỏi bùn, nhô
lên mặt nước và trổ hoa thơm tho.
Phật
là người ở trong vũng bùn dục lạc hoàng cung, Ngài như mọi
thanh niên khác, có gia đình có vợ con hẳn hoi. Từ đó Ngài
cố gắng tu hành vượt qua mọi cám dỗ thế gian, lần lần
chứng quả. Giống như hoa sen từ vũng bùn ngoi lên, rồi ra
khỏi nước nở thành đóa hoa tròn đẹp thơm tho. Qua đó chúng
ta thấy rõ đạo Phật không dạy mình tu cái gì ở bên trời
kia hay nơi nào xa lạ, mà tu ngay trong cõi dục lạc nhớp nhúa,
chúng ta vươn lên thoát ra để rồi đạt đạo. Như vậy tinh
thần xuất trần của đạo Phật là tinh thần từ chỗ nhơ
nhớp vượt lên thành thanh khiết, chớ không phải thanh khiết
có từ nơi thanh khiết.
Chúng
ta hiện giờ đang sống trong ngũ dục lạc, mình có quyền
tu để thành Phật không? Ai cũng có quyền hết. Không một
nụ sen nào từ dưới bùn mà không có quyền trồi lên và
nở hoa thơm tho, trừ những nụ sen bị sùng hoặc con gì cắn
thì nó mới tiêu mòn, không trồi lên được. Thế nên chúng
tôi cho rằng Đức Phật có thể sinh ra như một con người
bình thường cũng có thể chấp nhận được chứ! Như vậy
con người sẽ thấy Đức Phật gần gũi, cụ thể với nhân
loại và vì thế họ tự khẳng định niềm tin nơi khả năng
giác ngộ giải thoát của mình hơn.
Do
đó mỗi khi chúng ta nhìn thấy Phật ngồi trên tòa sen, tự
nhiên mình có cảm tưởng Phật là nụ sen đã ra khỏi nước
nở tròn thơm tho, chúng ta là những nụ sen còn đang ở trong
bùn. Nếu nỗ lực mai kia mình cũng được nở tròn thơm tho
thanh khiết như Phật vậy. Hình ảnh đó có tác dụng khích
lệ lớn lao vô cùng, giúp chúng ta cố gắng tu nhiều hơn.
Nếu Ngài ra đời không dính chút bụi trần nào hết thì bây
giờ đạo Phật khuyên người ta tu khó được. Bởi đức
Phật thanh khiết quá nên Ngài thành Phật, còn mình nhớp nhúa
quá làm gì thành Phật nổi? Ta sẽ mặc cảm không có phần
trong công phu tu hành. Vì vậy hình ảnh Đức Phật ra đời
bình dị như mọi người rất thích hợp với tinh thần vì
nhân loại, vì chúng sinh.
Chúng
ta học Phật, tu Phật nên nhìn đức độ của Ngài, chớ không
nên tưởng tượng quá nhiều về sự mầu nhiệm. Phải học
gương xử sự khéo léo, tấm lòng thương mênh mông, trí tuệ
tràn trề của Ngài đối với tất cả chúng sanh. Tinh thần
Phật dạy là tinh thần xuất thế, rất gần gũi con người.
Vì thế, Phật không muốn dùng những phương tiện kỳ lạ
để giáo hóa con người, đó là hình ảnh rất thích ứng
với hoàn cảnh chúng ta ngày nay. Có thế nhân loại mới thấy
đạo Phật thực tế, thân thiết và tu tập được.
Phật
tử chúng ta có thể hãnh diện vui mừng rằng, Đức Phật
là bậc thầy của tất cả muôn loài rất thực tế, rất
gần gũi, rất chí thiết. Nếp sống của Ngài là tấm gương
sáng cho chúng ta tu học theo một cách hiện thực sống động,
chớ không phải chuyện xa lạ. Đó là ý nghĩa rất thâm trầm
của đạo Phật. Vì vậy tôi muốn nhắc toàn thể Tăng Ni
cũng như Phật tử nên nhìn đạo Phật bằng cái nhìn cụ
thể, chớ không nên nhìn Đức Phật với cái nhìn phi thường
xa lạ. Cái phi thường của Đức Phật là tâm không dính mắc,
là trí tuệ tràn trề, là lòng từ bi mênh mông, chớ không
phải phi thường của những huyền bí, phép lạ.
Như
vậy, Đức Phật của chúng ta là bậc đã giác ngộ, giải
thoát với trí tuệ và tình thương tràn đầy. Đây chính là
nền tảng của đạo Phật, là cái sẵn có nơi mỗi người
chúng ta. Tăng Ni, Phật tử cố gắng thực hiện, cố gắng
tu tập rồi sẽ đạt được kết quả viên mãn như Phật.
HT.
Thích Thanh Từ
(Giác
Ngộ số Phật đản PL2551)
06-07-2007
11:23:15