Chương
2
Nguồn gốc
của Hội Phật Ðà
Cảm
thông với sự đau khổ của chúng sanh, Phật Thích Ca đã xuất
hiện ở thế gian này để truyền dạy cho chúng sinh phương
pháp giải khổ và thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Mục
đích của Ngài giúp cho chúng sinh hiểu được chân lý để
đạt đến giác ngộ. Trong thời mạt pháp, ác nghiệp của
chúng ta quá nặng, tạo nhiều chướng ngại cho việc tu tập.
Do thiếu trí tuệ và duyên lành, chúng ta đã gặp khó khăn
trong việc tìm gặp một bậc minh sư, người có khả năng
hướng dẫn mình và giảng giải chính xác lời dạy của Phật.
Vì biết như vậy nên Ðức Phật đã truyền dạy một pháp
môn đặc biệt cho loài người trong thời đại chúng ta, đó
là pháp môn Tịnh Ðộ.
Cố
học giả Phật giáo nổi tiếng Mai Nam Xương (Guang Xi Mei) từng
nói: “Nếu có thể chấp nhận và đề cao giáo lý Tịnh
Ðộ, không những chúng ta sẽ giải trừ những đau khổ tương
lai và lại còn có thể đạt được sự an lạc ngay trong hiện
tại. Ai không nhất tâm thọ trì giới pháp thì sẽ không bao
giờ thấu hiểu hay chứng nghiệm phúc lạc trong việc thực
hành pháp môn kỳ diệu này. Tương tự, người nào không thực
hành giáo lý sẽ không bao giờ chứng nghiệm sự thâm diệu
của chân lý ấy. Nếu muốn truyền bá giáo lý của Ðức
Phật trong thời đại này, chắc chắn chúng ta cần phải ủng
hộ và xiển dương pháp môn Tịnh Ðộ”.
Về
nguồn gốc, Hội Phật Ðà được Lão Cư Sĩ Hạ Liên Cư thành
lập lần đầu tiên sau Thế chiến thứ 2 (tức sau năm1945),
Lão Cư Sĩ Hạ Liên Cư là một giảng sư Phật học nổi tiếng,
quảng bá việc học và tu tập đặc biệt về Tịnh Ðộ Tông.
Pháp Sư Tịnh Không là người tiếp tục duy trì và phát triển
Hội này đến ngày nay. Với hơn bốn mươi năm kinh nghiệm
truyền bá PG, Pháp sư Tịnh Không đã hiểu rõ rằng Tịnh
Ðộ là pháp môn tốt nhất để giúp đỡ chúng sinh giải
thoát. Trong những năm gần đây, Ngài đã thuyết giảng không
mệt mỏi về giáo lý này khắp thế giới, phần lớn ở Á
châu, Úc châu và Bắc Mỹ.
Lão
Cư Sĩ Hạ Liên Cư (Lian Ju Xin)
Ngài
đã thành lập Hội Giáo Dục Phật Ðà (The Corporate Body Of
The Buddha Educational Foundation, 11Fl., No. 55, Hang Chow S. Rd., Sec.
1, Taipei, Taiwan, Tel: (02) 395-1198, Fax: (02) 391-3415)ø để
ấn tống kinh sách miễn phí cho PG thế giới. Ước nguyện
thật sự của Ngài là hỗ trợ thiết lập các Hội Phật
Ðà độc lập trên khắp thế giới. Ngài kỳ vọng những
tổ chức này sẽ cổ động một nền giáo dục chân chính,
giảng giải Luật Nhân Quả, phát Bồ đề tâm và khuyến khích
mọi người niệm hồng danh Ðức Phật A Di Ðà và nguyện
cầu vãng sinh Tịnh Ðộ.
Tôn
chỉ của Ngài là Phật tử đồng tu của các Hội Phật Ðà
nên tu tập theo năm bộ Kinh Tịnh Ðộ:
1.
Kinh Vô Lượng Thọ (Infinite Life Sutra,),
2.
Kinh A Di Ðà (The Amitabha Sutra, )
3.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật (The Sutra on Observing Amitabha Buddha
and His Pure Land, ),
4.
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm) (Universal
Worthy Bodhisattva's Conduct and Vows, ).
5.
Phẩm Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông (Kinh Lăng
Nghiêm) (the Foremost Attainment of Great Strength Bodhisattva through
Buddha Recitation ).
Và
một bộ luận: là Luận Vãng Sanh (, Vasubandhu Bodhisattva's Commentary
on the Way to Reaching Pure Land) của Bồ Tát Thiên Thân)
Pháp
Sư Tịnh Không cũng nhấn mạnh sự quan trọng trong việc tu
tập và phát triển Chánh kiến và thực hành giới hạnh của
mọi hành giả ngang qua việc áp dụng Năm cửa công đức
bao gồm Sáu pháp hòa hợp, ba vô lậu học, Sáu ba la mật và
Mười đại nguyện.
Cửa
công đức thứ nhất là hiếu kính đối với cha mẹ, Thầy
tổ và các bậc sư trưởng, từ bi không sát sinh và thực
hành mười điều thiện lành; quy y Tam Bảo, trì giới và có
oai nghi, tế hạnh; phát tâm Bồ đề, tin sâu giáo lý Nhân
quả, tụng đọc Kinh điển Ðại Thừa và khuyến khích người
khác tinh tấn tu tập để đạt được giải thoát.
Cửa
công đức thứ hai là Lục hòa (six harmonies) tức là sáu pháp
hòa kính, bao gồm chia xẻ cùng quan điểm và mục tiêu, giữ
cùng những giới luật, cùng sống và tu hành với nhau trong
hòa hợp, không tranh chấp, cùng chứng nghiệm sự an lạc trong
thực hành và chia đều cho nhau phúc lợi có được.
Cửa
công đức thứ ba là thực hành và phát triển ba môn vô lậu
học bao gồm trì giới, thiền định và trí tuệ.
Cửa
công đức thứ tư là áp dụng sáu Ba La Mật bao gồm Bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ
vào trong đời sống hằng ngày.
Cửa
công đức thứ năm là Mười đại nguyện (Ten Great Vows): 1.
Tôn trọng mọi người và xử sự một cách cẩn trọng; 2.
Khen ngợi đức hạnh của người; 3. Thực hành bố thí một
cách vô uý; 4. Biết hối hận những lỗi lầm của mình, vốn
là những chướng ngại cản trở chúng ta thấy được chân
tâm của mình và phát nguyện không tái phạm; 5. Hoan hỷ với
đức hạnh của người, tuyệt đối không ganh tyï; 6. Thỉnh
cầu các bậc thiện tri thức truyền bá Chánh Pháp; 7. Thỉnh
cầu các bậc Minh sư ở bên cạnh mình để hướng dẫn mình
tu tập; 8. Mãi mãi giữ những lời dạy của Ðức Phật ở
trong tâm thức mình; 9. Sống hòa hợp với mọi hoàn cảnh
và mọi người xung quanh; 10. Hồi hướng công đức có được
từ những việc trên cho chúng sanh, cầu mong chúng sanh đạt
được giác ngộ vô thượng.
Chúng
ta nên nhất tâm niệm hồng danh Phật A Di Ðà, không nghi ngờ,
không pha trộn với các pháp khác hay những ý nghĩ khác và
không gián đoạn, mong siêu sinh về Tây Phương Tịnh Ðộ,
rồi tái sinh ở thế gian để giúp đỡ người khác.
Chúng
ta thành tâm cầu mong cho mọi người sẽ nhận ra rằng nguồn
gốc của những nguyên nhân gây ra đau khổ là ở ngay trong
tâm nhiễm ô của chính mình. Chúng ta sẽ tinh tấn tu tập
để giải trừ những phiền não mê lầm và tà kiến theo lời
dạy trong Kinh Vô Lượng Thọ (Infinite Life Sutra):
“
Người đời phần đông phước mỏng, cùng tranh dành nhau những
sự không cần thiết, ở tại trong chỗ cực ác tột khổ
mà nhọc nhằn làm ăn để tự cung cấp. Không luận là người
tôn, kẻ ti, người nghèo, kẻ giàu, trẻ già, nam nữ đều
lo nghĩ về tiền tài, vất vả sầu khổ, mãi nghĩ mãi lo,
không lúc nào yên. Có ruộng lo ruộng, có nhà lo nhà, có trâu
ngựa, lục súc, nô tỳ, tiền của, y thực trăm ngàn thứ,
lại lo trăm ngàn thứ. Toan tính, cầu lợi, lo nghĩ, buồn sợ,
bỗng chốc bị trộm cướp, nước cuốn, lửa cháy, sung công,
tài sản tiêu tan, thân mang tai họa, lại sầu khổ phẩn uất.
Nếu tài sản không bị tiêu tan, nhưng cuối cùng vô thường
kéo đến, thân chết mạng chung, tay không ra đi, không mang
được món gì. Do những việc như thế nên không thể đắc
đạo. Các vị phải suy nghĩ chín chắn, nên xa lìa những điều
ác, chọn những điều lành rồi siêng năng thực hành.
Ái dục vinh hoa là những thứ không thể bảo tồn mãi mãi,
rồi sẽ ly tan, không có gì đáng để vui thích. May mắn gặp
Phật tại thế, phải cần kíp tu hành, người nào có chí
nguyện sanh về cõi nước An Lạc thì được trí tuệ sáng
suốt, công đức thu thắng. Không nên buông lung theo dục vọng
mà quên mất lời dạy trong Kinh Pháp, giới luật, để rồi
phải rơi lại ở phía sau”.
Nếu
đọc và làm theo lời dạy của Kinh này, công đức và trí
tuệ của chúng ta sẽ phát sinh, giải trừ được ác
nghiệp, sống lâu, mạnh khỏe và hạnh phúc. Thêm nữa, nếu
Kinh này được phân phát rộng rãi và được đón nhận thì
mọi người sẽ trở nên hiền lành và tử tế hơn. Kinh này
là chìa khóa giải quyết mọi vấn đề của chúng ta và thiết
lập cho nền hòa bình thế giới.
Chúng
ta thành lập các Hội Phật Ðà để các hành giả tu theo năm
cửa công đức và hợp với lời dạy của Pháp Sư Tịnh Không
để tu theo pháp môn Tịnh Ðộ và học Kinh Vô Lượng Thọ.
Làm như vậy chúng ta có thể báo Phật ân đức, trả ơn Quốc
Gia, ơn Cha Mẹ, ơn Thầy Tổ và chúng sinh. Chúng ta sẽ có
khả năng giúp những người nào còn chịu đau khổ. Chúng
ta đang có ở trước mặt một cơ hội hiếm có và quý báu
chỉ có thể gặp một lần trong vô số đại kiếp. Hỡi các
bạn đồng tu, chúng ta nên trưởng dưỡng đạo tâm, thanh
tịnh, bình đẳng, hiểu biết và từ bi để thông suốt, xả
ly, đạt được giải thoát, hợp với hoàn cảnh và quán tưởng
Phật A Di Ðà, làm theo lời dạy của Ngài và nguyện cầu
vãng sinh Tây Phương Tịnh Ðộ.