| I
Vấn
Ðại
bi làm đạo nghiệp
Hằng
sa Phật xưa nay
Hoa
tâm Bồ tát trổ
Hẳn
sinh ba cõi nầy.
Ngại
chi đời ác trược
Ba
đường dữ vào ra
Nay
cầu sinh cõi tịnh
Sao
gọi rằng lợi tha ?
Ðáp
Nầy
đại phu nên biết
Bồ
tát ví mầm xanh
Tạm
nói rằng hai tướng
Kết
quả chứng vô sanh
Lại
có hàng Bồ tát
Cánh
khép ươm tà hoa
Vô
sinh chưa chứng đươc
Thường
kề cận Phật Ðà
Bậc
chứng vô sinh nhẫn
Nếu
lìa bỏ chúng sinh
Cầu
đất lành chim đậu
Lời
trách chẳng vô tình.
Ví
như hàng Bồ tát
Sơ
phát tâm Bồ đề
Ðại
Trí Ðộ thường nói
Phàm
phu nghiệp nặng nề.
Khá
biết bởi vì sao?
Ác
nghiệp chốn trần lao
Lẫy
lừng và cùng khắp
Non
thẳm mấy tầng cao
Nhẫn
lực chưa thành tựu
Cho
dù với đại bi
Như
chim non cánh mỏng
Trời
rộng dễ gì bay
Tự
pháp ắt sinh tâm
Vô
minh tùy cảnh chuyển
Danh
sắc khéo buộc ràng
Biết
đâu là giả huyễn
Tự
cứu cũng chẳng xong
Cảnh
xấu ác đầy dẫy
Chánh
nhân đà khó gặp
Phật
đạo dễ gì thấy
Trì
giới và bố thí
Do
nhân gieo đời xưa
Thọ
sinh hàng quyền quý
Tham
đắm mấy cho vừa
Ví
gặp thiện tri thức
Chánh
lý nghịch tà tâm
Nghĩa
sâu trái lòng cạn
Tịnh
hạnh ngược tham sân
Thân
sinh thì thân diệt
Tam
đồ lại thọ thân
Trải
hằng vô lượng kiếp
Sinh
làm kẻ cô bần
Chuyển
xoay đà mấy thuở
Luân
lạc một tâm nầy
Xưa
nay nào có khác
Nan-hành-đạo
vậy thay.
Thành
Xá Ly ngày xưa
Lời
kinh Duy Ma Cật
{Chẳng
tự cứu lấy mình
Há
cứu người mà được ?}
Ðại
Trí Ðộ lại nói
Ví
có hai người kia
Người
thân bị nước cuốn
Muốn
cứu dưới dòng gieo
Biết
đâu là đáy vực
Biết
đâu sức cuồng lưu
Cứu
nhau đà chẳng được
Thác
lũ cánh bèo trôi
Còn
lại một người trí
Thả
bè xuôi dòng xanh
Cứu
lấy người chẳng khó
Ví
Bồ tát vô sanh
Lại
ví như trẻ thơ
Chớ
rời xa bóng mẹ
Lại
ví như chim non
Nhảy
chuyền trên nhánh lá
Phàm
phu cũng chẳng khác
Tâm
niệm A Di Ðà
Ðến
khi thanh tịnh nghiệp
Chứng
được quả vô sinh
Bấy
giờ nương Pháp nhẫn
Dong
thuyền giữa biển khơi
Mặc
tình muôn lớp sóng
Mặc
thế sự đổi dời
Bậc
bi tâm hành giả
Muốn
vào biển trầm luân
Nên
cầu sinh đất tịnh
Dị-hành-đạo
gọi chung.
II
Vấn
Thể
vạn pháp vốn Không
Xưa
nay thường vắng lặng
Bồ
tát bỏ Sa Bà
Lại
cầu nơi Cực Lạc
Như
kinh thường nói rằng
Nay
muốn cầu tịnh độ
Trước
phải tịnh tâm mình
Tâm
tịnh tức độ tịnh
Như
lời kinh mà suy
Ngôn
hạnh chẳng đồng nhất
Bỏ
đây cầu nơi kia
Lý
nào là lý Phật ?
Ðáp
Phân
hai nghĩa rõ ràng
Tổng-đáp
và Biệt-đáp
Bỏ
đây cầu nơi kia
Cho
rằng chẳng bình đẳng
Lại
như ông, chấp đây
Bỏ
cầu sinh tịnh giới
Há
chẳng lại là người
Bỏ
kia cầu đây thôi
Nếu
nói chẳng đây, kia
Nầy
đại phu phải biết
Ông
lại chính là người
Mắc
phải lỗi đoạn diệt.
Dòng
Kim Cang Bát Nhã
Phật
thuyết trên đài hoa
{Tu
Bồ Ðề nên rõ
Tướng
vạn pháp một thừa
Chớ
nên nói lời rằng
Người
phát tâm vô thượng
Nơi
đó, chính là người
Ðoạn
diệt tất cả tướng
Khá
biết bởi vì sao?
Người
phát tâm vô thượng
Tánh,
Tướng chẳng rời nhau
Há
nói tướng đoạn diệt.}
Lại
như phần biệt-đáp
Nói
đến lý vô sinh
Cùng
như về tánh tịnh
Tôi
vì ông minh bạch
Vô
sinh tức bất sinh
Bất
sinh thì bất diệt
Do
giả hợp tựu thành
Chính
vì không tự tánh
Chẳng
từ đâu mà lại
Nên
gọi là bất sinh
Ðại
phu- ông phải biết
Sóng
vỡ- một dòng xanh.
Sao
gọi là bất diệt ?
Bởi
chẳng đi về đâu
Ðại
phu- ông phải biết
Bàng
bạc mây trên đầu.
Vô
sinh hoặc vô diệt
Vẫn
không ngoài các pháp
Ðó
chính thực chân như
Chân
như trong vạn pháp.
Chẳng
cầu sinh tịnh độ
Hoặc
chẳng muốn Di Ðà
Vô
sinh nào nghĩa ấy
Chấp
một- chẳng lìa xa.
Xưa
kia Ngài Long Thọ
Dùng
Trung Quán hiển khai
Lời
xưa đâu đấy tỏ
Sấp,
ngữa một bàn tay.
{Các
pháp nhân duyên sinh
Ta
nói chính là Không
Ðó
gọi là giả danh
Cũng
là nghĩa Trung Ðạo}
Các
pháp chẳng tự sinh
Chẳng
nơi khác mà sinh
Chẳng
cộng, chẳng vô nhân
Nên
gọi là vô sinh.}
Kinh
Duy Ma lại nói:
{Quốc
độ và hữu tình
Biết
tánh Không các cõi
Thường
tu- dạy quần sinh}.
Ví
người xây cung thất
Muốn
trụ giữa hư không
Chẳng
chống trời, dựa đất
Tất
không thể nên công .
Thực
tướng của các pháp
Tùy
căn tánh chúng sanh
Chư
Phật dùng Nhị Ðế
Không
hoại diệt giả hình.
Vậy
mới hay kẻ trí
Tịnh
độ cầu vãng sinh
Biết
Không vốn thể tánh
Ðó
thực chân vô sinh.
Tâm
tịnh cõi Phật tịnh
Mới
chính thực nghĩa nầy
Kẻ
ngu si vọng chấp
Ngàn
dặm dấu bèo, mây.
Nghe
sinh, liền chấp sinh
Nghe
vô sinh, lại chấp
Vô
sinh là chẳng sinh
Không
chỗ nơi hội nhập.
Tâm
mê nào thấy được
Sinh
chính thực vô sinh
Cả
hai nào ngăn ngại
Khác
chi bóng theo hình
Trí
khởi sinh tranh chấp
Tâm
ưa thích thị phi
Khinh
người cầu Cực Lạc
Bởi
chấp đến, chấp đi.
Kẻ
tội nhân báng Pháp
Ðã
chính thực mê lầm
Hàng
tà kiến ngoại đạo
Cách
Phật đến muôn trùng.
III
Vấn
Pháp
tánh cùng công đức
Cõi
Phật khắp mười phương
Bình
đẳng nào sai khác
Sao
chỉ cầu một đường ?
Ðáp
Ðúng
như lời ông nói
Mười
phương Phật đủ đầy
Kẻ
độn căn, thiểu trí
Cần
buộc tâm cõi nầy.
Muốn
tựu thành tam muội
Tâm
niệm một hồng danh
Tâm
chuyên vào một cảnh
Nhất-tướng
tam-muội thành.
Ngài
Phổ Quang Bồ tát
‘Tùy
Nguyện Vãng Sanh Kinh’
Dưới
đài sen tán thán
Ðảnh
lễ bạch lời rằng :
{Nơi
nào chẳng tịnh độ
Ðâu
chỉ riêng Tây phương ?
Mười
phương cõi nước Phật
Một
màu hoa thanh lương
Bởi
do nhân duyên gì
Thế
Tôn riêng khen ngợi
Cõi
nước A Di Ðà
Khuyên
sinh về nước ấy ?}
{Nầy
Phổ Quang Bồ tát
Chúng
sinh cõi Diêm Phù
Tâm
tánh thường mê loạn
Vời
vợi dạ du du.
Nếu
tưởng nhiều quốc độ
Nếu
niệm nhiều Phật danh
Tâm
kia không kiên cố
Tam
muội khó tựu thành.
Công
đức của chư Phật
Ðồng
pháp tánh như nhau
Cầu
công đức một Phật
Ngàn
công đức gồm thâu .
Nay
nhất tâm xưng tán
Phật
danh A Di Ðà
Không
khác đà xưng tán
Chư
Phật khắp hằng sa .
Sinh
về cõi tịnh độ
A
Di Ðà phương Tây
Tức
sinh về tất cả
Cõi
tịnh mười phương nầy .}
Thân
tất cả chư Phật
Cũng
chính một Phật thân
Kinh
Hoa Nghiêm từng nói
Ðịnh,
huệ, lực cũng đồng.
Ví
vành trăng tròn sáng
In
bóng khắp sông hồ
Như
bậc vô ngại trí
¬ng
hiện diệu thần cơ
Người
tuệ căn nên biết
Thân
Phật không có hai
{Tâm
niệm một danh Phật
Tức
mười phương Như Lai .}
IV
Vấn
Chúng
sanh tâm trược loạn
Tam
muội khó tựu thành
Mười
phương đồng có Phật
Chẳng
tùy nguyện vãng sinh ?
Ðáp
Trí
phàm, tâm thô cạn
Chẳng
nên tự lọc lừa
Vâng
phục lời Phật dạy
Y
pháp tự ngàn xưa
Châu
sa vương lòng giấy
Lá
bối thơm lời kinh
Dòng
hoa từ kim khẩu
{Cực
Lạc cầu vãng sinh.}
A
Di Ðà tự thuyết
Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh
Hoa
Nghiêm, Vô Lượng Thọ
{Cực
Lạc cầu vãng sinh.}
Hằng
sa chư Phật, Tổ
Tịnh
Ðộ một cõi nầy
Bốn
mươi tám thệ nguyện
Ánh
sáng nhuộm hồng mây.
Tám
vạn bốn ngàn tướng
Tướng
tướng phóng quang minh
Tỏa
ngời muôn pháp giới
Cảm
¬ng tự nhiên thành.
Phật
mười phương cõi nước
Hiện
tướng lưỡi rộng dài
Chứng
minh lời tự thuyết
Cực
Lạc một trời Tây
A
Di Ðà Tôn Phật
Hy
hữu đại nhân duyên
Diêm
Phù Ðề cõi ấy
Tạng
kinh báu lưu truyền
Rằng:
{Trong thời mạt tận
Ngọc
điệp khép tờ hoa
Một
trăm năm còn lại
Dòng
kinh A Di Ðà}.
V
Vấn
Phước
đức cõi người mỏng
Phiền
não chướng bủa vây
Kho
chứa muôn ác nghiệp
Chưa
vơi lại đổ đầy.
Nước
Cực Lạc trang nghiêm
Vượt
ra ngoài ba cõi
Phàm
tâm tâm dấy động
Tạp
niệm niệm bồi hồi
Nhân
gieo toàn hạt dữ
Trí
cạn trăng lồng mây
Nay
vọng sinh đất tịnh
Ðiệp
sứ khôn hồi quy.
Ðáp
Khéo
biết có hai duyên
Tự
lực và tha lực
Hàng
phàm phu kém phước
Chẳng
thể tự vãng sinh.
Anh
Lạc Kinh từng nói
Trồng
gốc hạnh Bồ Ðề
Vun
bồi bằng tín, giới
Bồ
tát pháp chẳng lìa
Trải
qua ba số kiếp
Trụ
vị sơ-phát-tâm
Thập
tín, ba la mật
Vô
lượng hạnh khó làm.
Theo
sau mười ngàn kiếp
Trụ
chánh tâm quang minh
Vào
được chủng-tánh-vị
Vẫn
chưa thể vãng sinh.
Nếu
như có hành giả
Vì
người phát tâm tu
Niệm
Phật Ba La Mật
Cảm
ứng chẳng rời nhau.
‘Thập
Trụ Tỳ Bà Sa ’
Há
đã chẳng từng nói:
Nan
Hành và Dị Hành
Ðường
kia chia hai lối.
Chúng
sinh đời ngũ trược
Vô
lượng kiếp đến, đi
Cầu
A-bệ-bạt-trí
Thực
khó được vậy thay!
Phước
chung thì nghiệp chung
Ngoài
tâm cầu Phật, Tổ
Trong
mê ngóng Thánh, Hiền
Làm
loạn Bồ tát pháp.
Hội
ngộ kẻ tà tâm
Cận
kề người thiểu trí
Chút
thắng đức giữ gìn
Dần
dà bị thiêu hủy.
Ðơm
hoa và trổ quả
Do
xưa gieo nhân lành
Ðắm
chìm trong phước báu
Dễ
lạc mất Phạm hạnh.
Tu
pháp môn tự lợi
Lạc
vào hàng Thanh Văn
Tâm
đại từ khép kín
Vì
mình hơn vì người.
Xa
xa đường vạn dặm
Cách
cách mấy trùng quan
Chân
buông lòng gió bụi
Bằng
bặt dấu quê nhà !.
Thuyền
xuôi theo nước xuôi
Hải
lý vạn trùng dương
Ví
như nương Phật lực
Bốn
bể gió đưa chân
Lại
như nương luân bảo
Xe
vàng của Thánh Vương
Du
hành khắp thiên hạ
Trời
Tây mấy dặm trường.
Cũng
có kẻ luận bàn
Hữu
lậu tánh phàm nhân
Không
thể sinh Phật độ
Không
thể thấy Phật thân
Ðại
phu, ông nên biết
Là
vô lậu thiện căn
Niệm
Phật Ba La Mật
Công
đức khó suy lường
Phàm
nhân dù hữu lậu
Nhất
tâm cầu Tây Phương
Hàng
phục được phiền não
Thấy
thô tướng Phật thân
Như
với hàng Bồ tát
Nhất
tâm cầu vãng sinh
Thấy
Phật thân vi diệu
Ðiều
ấy chẳng còn ngờ .
Tất
cả các cõi Phật
Theo
lời Hoa Nghiêm Kinh
Ðều
bình đẳng không khác
Phân
biệt tự tâm sinh. |
VI
Vấn
Phàm
nhân sinh tịnh giới
Hận
sân thường phát khởi
Phàm
tánh chẳng rời thân
Sao
gọi vượt ba cõi ?
Ðáp
Phàm
nhân sinh đất tịnh
Hội
đủ năm nhân duyên
Phiền
não chẳng phát sinh
Trụ
vị bất thối chuyển.
Vì
bổn nguyện Ðại Bi
Tôn
Phật luôn nhiếp trì
Hào
quang như nhật nguyệt
Tăng
trưởng Bồ đề trí.
Rừng
xanh cây nói pháp
Suối
mát thơm lời kinh
Gió
theo mây phù lãng
Chim
hót tiếng hồn nhiên
Âm
thanh làm Phật sự
Sắc
tướng há vô tình
Ngay
giữa lòng vạn vật
Pháp
tánh hiện nguyên hình
Thượng
trí và thượng thiện
Ðại
Bồ tát ứng thân
Thần
giao sinh quyến thuộc
Tuyệt
tham độc, mê lầm.
Thọ
mệnh đến nghìn muôn
Ðối
duyên rõ cội nguồn
Ngoài
không, thời, lập hạnh
Tiếng
rống động càn khôn.
VII
Vấn
Bậc
Nhất Sanh Bổ Xứ
Ngự
Ðâu Suất thiên cung
Giáng
thế thành Phật đạo
Long
Hoa hội tương phùng
Chí
tâm tu thập thiện
Cầu
Ðâu Suất sinh thân
Theo
chân Ngài giáng hạ
Chứng
thánh vị tại trần.
Ðáp
Công
đức của chư Phật
Ðồng
pháp tánh không hai
Như
đoạn trên đã nói
Cõi
tịnh mười phương nầy
Phương
tiện thì có khác
Bởi
Cảm ¬ng song đôi
Nếu
dụng công phân biệt
Phải
hiểu chữ tùy thời
Ðâu
Suất là đất Phật
Kinh
Di Lạc Thượng Sinh
{Muốn
thọ sinh nội viện
Chánh
định tam muội thành.}
Lại
tụ nơi Dục Giới
Quần
tiên hội không xa
Có
con Trời phóng dật
Có
thiên nữ vào, ra .
Thích
Ca Mâu Ni Phật
Thuyết
‘Cửu Phẩm Giáo Môn’
Từng
ân cần khuyến nhủ
Cầu
Cực Lạc Tây phương.
Lại
nói về thánh vị
Há
gặp Phật tất thành ?
Ðại
phu, ông phải biết
Tự
lực, đạo nan hành.
Ví
như cầu Cực Lạc
Chứng
được quả vô-sinh
Bỏ
sinh từ vô thủy
Biết
sinh diệt nhân duyên.
Xưa
ba vị Bồ tát
Cùng
nguyện thọ sinh thân
Về
cung trời Ðâu Suất
Nội
viện kiến Phật ân
Lại
ước hẹn cùng nhau
Nếu
thọ thân Ðâu Suất
Ðảnh
lễ bậc đại từ
Lập
tức Diêm Phù hiện
Người
quy thiên thứ nhất
Sư
Tử Giác là tên
Lạc
vào cung thần nữ
Ðằng
đẳng nhạn trông tin
Khi
Thế Thân thị tịch
Ngài
Vô Trước ân cần
Ðâu
Cung nếu thấy Phật
Chớ
quên lòng hẹn lòng.
Ba
năm qua biền biệt
Dõi
mây chiều ngóng trông
Ngài
Thế Thân trở lại
Rừng
thiền gặp cố nhân
Kể
rằng : Cung Ðâu Suất
Ðảnh
lễ báo Phật ân
Dưới
đài hoa nghe pháp
Cung
kính nhiễu ba vòng.
Nhớ
Diêm Phù đất cũ
Hẹn
cùng ai năm xưa
Tức
thì quay trở bước
Ba
lần lá thay mùa.
Cũng
bởi một ngày đêm
Sánh
bốn trăm năm vậy
Không
gian và thời gian
Tự
tâm mà ứng hiện
VIII
Vấn
Ác
nghiệp tự vô thủy
Do
khó gặp thiện nhân
Nhân
kia trổ quả ấy
Như
lá rụng rừng tùng
Dạy
rằng : H ơi thở cuối
Ðược
mười niệm chí tâm
Vượt
kiết sử ba cõi
Dường
nghi lý chẳng thông ?
Ðáp
Nghiệp
chủng của chúng sinh
Hoặc
ít, nhiều, lành, dữ
Tự
vô thủy đến nay
Mấy
ai người rõ biết
Tín
giả lúc lâm chung
Nếu
gặp thiện tri thức
Thành
tựu mười thiện niệm
Tức
đã sẳn thiện nghiệp.
Nếu
chẳng là thiện duyên
Dễ
chi gặp người hiền
Kể
gì đến thành tựu
Mười
lời nguyện vãng sinh
Cớ
sao lại cho rằng
Ác
nghiệp chốn trầm luân
Nặng
hơn mười thiện nguyện
Nên
chẳng thể vãng sinh ?
Nếu
như luận khinh, trọng
Hoặc
công phu hành trì
Hoặc
thời gian dài, ngắn
Chẳng
đơn thuần vậy thay.
Lược
nói ba nguyên lý
Ðối
với kẻ sơ tâm
Tâm,
Duyên, và Quyết Ðịnh
Xanh
lá chốn rừng tùng.
Từ
tâm sinh ác nghiệp
Từ
tâm hiện pháp đăng
Bềnh
bồng khuôn lãng nguyệt
Thiện
ác há hai tâm ?
Ví
một gian thạch thất
Ðóng
kín cửa nhiều năm
Mở
ra lìa bóng tối
Ðối
diện mặt trời hồng.
Gió
yên thì sóng lặng
Tâm
duyên cảnh giới sinh
Bồ
Ð ề Tâm phát khởi
Công
đức diệu âm thinh
Như
người trúng tên độc
Thần
dược cứu được thân
Ác
nghiệp vô số kiếp
Chánh
niệm cứu được tâm
Ly
tâm lìa thể tánh
Hậu
niệm cách chân như
Một
tâm kia bất loạn
Nhất
niệm A Di Ðà
Ví
vòng dây thô cứng
Dùng
tay dứt chẳng rời
Vung
Thái A thần kiếm
Ánh
thép đoạn đôi nơi
Ví
củi khô gom góp
Nhiều
năm chất thành gò
Dùng
lửa kia mà đốt
Chẳng
mấy chốc thành tro.
Ví
như người tinh tấn
Tu
tập mười nghiệp lành
Lại
khởi sinh tà kiến
Thối
đọa ngục A Tỳ
Nghiệp
ác từ hư vọng
Là
bóng dáng của tâm
Vẫn
tựu thành lửa dữ
Thiêu
hủy rừng công đức
Huống
chi danh hiệu Phật
Là
diệu pháp, diệu âm
Dấu
son hồng nét mực
Là
dấu ấn Phật tâm.
Lại
như kinh thường nói
Lục
tự A Di Ðà
Nếu
chí tâm trì niệm
Nghiệp
dữ phiến mây qua .
Phải
biết bởi vì đâu
Tám
mươi ức ác nghiệp
Biển
rộng hóa cồn dâu
Từ
nhất tâm, nhất niệm.
Lại
xin nhắc lời rằng
Các
học giả xưa nay
Hiểu
lầm mười lời nguyện
Thuộc
về biệt-thời-ý
Mở
lại trang Nhiếp Luận
‘Nếu
chỉ có biệt thời
Thì
thuần là ý Nguyện
Không
có Hạnh sánh đôi .’
‘Lâm
chung liền vãng sinh
Nếu
như nguyện Cực Lạc
Khi
nghe Vô Cấu Phật
Chứng
quả Vô Thượng Giác ‘
Ðó
là Tạp-Tập-Luận
Chỉ
nói biệt-thời-nhân
Nên
khéo mà suy đoán
Chớ
vội mà phải lầm.
Thành
tựu mười lời nguyện
Cũng
bởi từ duyên lành
Hội
ngộ thiện tri thức
Tin,
hiểu, chí tâm hành .
Nếu
chỉ do túc nhân
Thì
đã là thiếu sót
Hạt
vùi giữa tuyết băng
Há
dễ đơm hoa được .
IX
Vấn
Rằng
cõi nước Cực Lạc
Cách
xa mười muôn ức
Ngó
biển lại ngó trời
Biết
đâu là nước Phật
Thấy
trong ‘Luận Vãng Sinh ’
Nói
rằng : ‘Kẻ tật nguyền
Nhị
Thừa và người nữ
Không
có nơi đất tịnh.’
Như
lời ấy mà suy
Ðã
thấy chỗ cách phân
Kẻ
thiếu căn, yếu đuối
Hàng
Duyên Giác, Thanh Văn
Ðáp
Mười
muôn ức cõi nước
Dùng
nhục nhãn mà nhìn
Người
phàm tâm ô trược
Cõi
Phật bóng mây xanh .
Thiện
nghiệp đã thành tựu
An
định trong chánh tâm
Tâm
đó là tâm tịnh
Quy
hướng liền vãng sinh
{Cõi
nước A Di Ðà
Cách
đây chẳng phải xa}
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ
Muôn
sắc một tờ hoa .
Ví
như người trong mộng
Thân
tuy ở tại sàng
Thấy
đến đi các cõi
Bích
hải tiếp thanh sơn.
Lại
nói không người nữ
Không
có kẻ thiếu căn
Nghĩa
kinh nên tường tận
Thánh
ý chớ xem thường
Xưa
bà Vi Ðề Hy
Cùng
năm trăm thị tỳ
Cực
Lạc sẽ vãng sinh
Chính
lời Phật thọ ký .
Lại
nói bậc Nhị Thừa
Pháp
Tạng đại tỳ khiêu
Bốn
mươi tám thệ nguyện
Chưa
từng bỏ một ai .
Người
thọ sinh Cực Lạc
Lìa
tâm chấp tướng thân
Thấy
thực tướng vạn pháp
Vượt
trên quả Thanh Văn .
X
Vấn
Phàm
phu sinh cõi người
Ái
dục là hạt dữ
Cầu
sinh thân cõi tịnh
Lấy
gì làm chủng tử ?
Ðáp
Muốn
cầu sinh Cực Lạc
Thứ
nhất, hạnh yễm ly
Thứ
hai là hân nguyện
Làm
chủng tử hồi quy
Thọ
sinh trong cùng khổ
Quanh
quẩn nẻo luân hồi
Cưu
mang thân tật bệnh
Yếu
ớt lại tanh hôi
Kinh
Ðại Niết Bàn nói
Ái
thân chỉ kẻ ngu
Duy
có loài La Sát
Chẳng
thấy cảnh ngục tù
Nếu
thực là người trí
Cớ
chi mê đắm thân
Thân
nam hoặc thân nữ
Khối
máu thịt, dãi đàm .
Khi
sinh khởi lòng chấp
Tức
hoại nghĩa chân thân
Dùng
thân như phương tiện
Ðoạt
pháp Phật tại trần
Cũng
nên hằng quán chiếu
Bất
tịnh pháp, bảy nhà
Thân
kết từ ái nhiễm
Tinh
huyết của mẹ cha
Thai
bào cung bất tịnh
Tăm
tối và tanh hôi
Lớn
dần trong máu huyết
Tràn
chảy lúc ra đời .
Không
lớp da che đậy
Phèo
phổi ai dám thương
Lúc
sống mà đã vậy
Khi
chết lại sình ương .
Thêm
quán người mới chết
Da
phấn đổi xanh bầm
Thân
cương to nức nẻ
Nước
hôi thúi rỉ thầm .
Vòi
tửa bò lúc nhúc
Chẳng
lâu còn gân, xương
Lửa
thiêu xương ro rút
Trải
nắng sớm mưa chiều .
Thứ
hai là hân nguyện
Tâm
thương tưởng chúng sinh
Chứng
Vô Sinh Pháp Nhẫn
Vào
ra cõi hữu tình .
Vãng
Sinh Luận từng thuyết
Bồ
Ðề chân phát tâm
Tức
tâm cầu làm Phật
Tức
tâm độ chúng sinh
Ba
pháp chướng Bồ Ðề
Thứ
nhất, tâm chấp ngã
Cầu
an vui riêng mình
Người
cầu đạo phải biết .
Khá
nên dùng trí huệ
Xa
lìa tâm chấp thân
Ta,
Người, chung tánh thể
Chia
thân tức cách lòng .
Thứ
hai, dùng bi nguyện
Tiếp
độ kẻ mê tân
Thứ
ba, dùng phương tiện
Mang
đạo pháp đến gần .
Lìa
được ba chướng pháp
Ba
thuận pháp đồng thời
Thanh
tịnh tâm vô nhiễm
Ngã,
Pháp chẳng trong ngoài .
An
tâm là thí pháp
Thường
lạc, Ðại Niết Bàn
Cầu
sinh về Tịnh Ðộ
Tùy
thuận hạnh Bồ Ðề .
Lại
quán chân tướng Phật
Rõ
biết chân pháp thân
Tánh
tướng đâu sai khác
Ðịnh,
Huệ, Lực chung đồng .
Cõi
nước tịnh trang nghiêm
Hoa
thơm làm thất bảo
Suối
mát đẫm trăng thiêng
Chánh
báo và y báo.
|