Các con thương
mến.
Hôn nhân là việc đại
sự của người thế-gian. Trừ những bậc có duyên lớn với
Ðại-thừa Chánh-pháp Phật, đã từng nhiều đời nhiều kiếp
dõng mãnh phát Ðại- Bi-tâm, thị hiện Bồ-tát-thân khắp
các cõi nước để tu hành và giáo hóa, ly gia cát ái, sống
cuộc đời khổ hạnh, độc thân, gương mẫu để làm tròn
đại thệ nguyện đối với mười phương chư Phật là cứu
độ tất thảy chúng sanh thoát khổ, thì không phải nói tới.
Còn những ngừơi Phật-tử tại gia bình thường, khi đã đến
tuổi dựng lập thì ai cũng cần có một gia đình.
Một mái ấm gia đình,
vợ chồng thuận thảo, con cháu hiếu nghĩa, bình-ổn, an lạc
chính là nhân tố cơ-bản giúp ích cho việc tăng trưởng nhân
Bồ-đề trong mỗi chúng sanh ở vị-lai. Việc xây-dựng gia
đình đâu phải là tội lỗi gì, mà có lỗi chăng chỉ là
những cá nhân không làm tròn được thiên chức của mình
đối với tự thân và gia đình mà thôi.
Một mối lương duyên
xứng ý, hòa hợp, cảm thông, lại biết cùng nhau chia ngọt
xẻ bùi, cùng dốc tâm dốc sức xây dựng, vun đắp cho gia
đình mình từ tinh thần đến thể chất lúc nào cũng được
hài hòa, an lạc, tốt đạo đẹp đời, sẽ là nguồn hạnh
phúc đích thực cho các con trong hiện tại và là nhân tố
quyết-định để sản-sanh những thế hệ tốt đẹp ở ngày
mai, được bắt đầu từ hôm nay.
Nhân ngày vui, ngày hạnh
phúc nhất trong đời của hai con, ngày mà các con gặp gỡ
và kết nối với người mình yêu thương và yêu thương lại
mình, ba không có một món gì được gọi là quí giá nhất
để dành riêng tặng hai con, ngoài tấm lòng thương mến bao
la của người cha già, lúc nào cũng mong ước cho các con mình
luôn được an vui, sung sướng và hạnh phúc.
Tặng dữ mà ba cho là
ý nghĩa nhất dành cho các con nơi đây, là những lời nhắn
nhủ tha thiết, chân tình, và rất thực tế đối với cuộc
sống trước mắt, để thay cho những lời chúc phúc của bậc
sinh thành, mà trải qua bao đời nay, từ ông cha ta tới đời
ta, nếu ai biết biến những lời này thành hành động thiết
thực, cụ thể trong cuộc sống, thì chúng sẽ đem lại hạnh
phúc trọn vẹn cho một đời người. Ba chỉ có bấy nhiêu
đó làm quà tặng nhân ngày trọng đại đáng ghi nhớ trong
đời của các con vậy.
Các con thương mến .
Con đường phía trước
mà ngày hôm nay các con cùng nắm tay nhau chuẩn bị bước tới,
thì ông bà ta, cha mẹ ta đã từng đi qua, và kể cả chính
bản thân ta đây nữa, cũng đã đi qua rồi.
Nếu ta không lầm thì,
hiện tại trước mắt, đối với các con, nếu chẳng phải
toàn là một màu hồng của sự tràn trề hạnh phúc vì yêu
thương và được yêu thương, thì chắc chắn phải là một
màu xanh của những niềm ước mơ và hy vọng, hy vọng và
mơ ước đủ mọi thứ tốt đẹp nhất trên đời.
Nhưng quả thật, con
đường dẫn tới hạnh phúc gia đình ở phía trước không
phải lúc nào cũng giản đơn và dễ dàng nắm bắt như ý
nghĩ và mong ước của mình đâu ! Mọi thứ trên đời đều
có một cái giá của nó, vì thế-gian là cõi của tương đối,
là bỉ sắc tư phong, nghĩa là được cái này thì phải mất
cái nọ, thêm được chỗ này thì phải sụt mất chỗ kia,
chứ chẳng phải lúc nào cũng vuông tròn, trọn vẹn như ý
nghĩ và ước mơ thầm kín của mình.
Thí như đi bộ thì lâu
mới tới đích, phải nhọc xác mỏi giò, nhưng được cái
an ổn, tự do, toàn thân vững chãi trên đôi chân từng bước
một, lỡ có té thì cũng chỉ trầy da sướt trán một chút
mà thôi. Còn như đi máy bay, đi xe hơi, tàu thủy, tuy rất
nhanh, rất khoẻ thân xác, nhưng nếu "lỡ té" theo cái phương
tiện mà mình đang dùng, thì khó ai lường nổi hết hậu quả.
Cũng như ở nhà trệt
thì ẩm thấp, nóng nực nhưng đi đứng, sinh hoạt trong nhà
thì lại dễ dàng, còn với lầu cao cữa rộng, tuy sạch sẽ,
mát mẻ nhưng leo trèo lên các bậc thang đôi lúc cũng dễ
bị vấp té, lại mỏi gối, chồn chân, phát sinh ra lắm điều
phiền phức.
Nhà cữa tầm tầm không
rộng không hẹp, công việc làm ổn định, kiếm vừa đủ
cái ăn, cái mặc chu-cấp cho gia đình, không dư giả mà cũng
chẳng thiếu hụt gì cho lắm, cũng có chỗ thoải mái, an ổn
của riêng nó, như không lo sợ bị trộm đạo rình mò, làm
hết giờ cũng là hết việc, về nhà mặc sức ăn no ngủ
yên, không chiêm bao mộng mị. Còn gia-đình giàu có, lầu ngang
dãy dọc, của ăn của để trong ngoài không hết, thì phải
ràng buộc nhiều với nó; tâm ý lúc nào cũng lo lo sợ sợ;
lo bị hao mòn, mất mát, sợ trộm cướp rình rập, đôi khi
vì quá sợ mất của mà ăn không còn biết ngon, ngủ cũng
không yên giấc, chỉ một tiếng động khẽ bất chợt cũng
đủ làm giật mình tỉnh giấc, rồi thức trắng cả đêm
thâu; lâu ngày chầy tháng thần kinh suy nhược, sức khoẻ
hao mòn, có khi vì nó mà phải xuôi tay, nhắm mắt ra đi sớm
cũng nên.
Làm quan càng to thì càng
lo sợ bị mất chức, sợ bỗng lộc thoắc chốc tiêu tan.
Kinh doanh càng lớn thì
việc đi lại, tính toán, lo nghĩ lỗ lời cũng tăng theo tỷ
lệ. Ước vọng nhiều thì thất vọng cũng chất chồng lên
mình bấy nhiêu.
Ðó chính là luật tương
đối và cũng là cái khổ của cõi thế-gian này.
Con người ta sống trong
đời mà lúc nào cũng phải buộc ràng với những mối lo sợ,
nghĩ ngợi, ưu tư , phiền muộn như thế, thì có thể nào
gọi đó là người được an vui, sung sướng hay hạnh phúc
trọn vẹn chăng?
Muốn tránh những phiền
não, ưu tư, lo âu, nghĩ ngợi, khổ thân, nhọc trí, không gì
bằng là chúng ta phải biết tri túc va tri chỉ.
Tri túc là tự biết
đánh giá một cách sáng suốt thế nào là vừa đủ, đồng
thời biết sống vui vẻ, hồn nhiên, an lạc với chính cái
vừa đủ đó, với khả năng mình có thể đạt được, ngay
trong hiện tại, trước mắt.
Tri chỉ là biết dừng
lại đúng cái lúc nên cần dừng, chớ nên để quá đà đến
khi phải trược ngã thì có hối cũng không còn kịp nữa .
Người biết vui với
cái vừa đủ trong hiện tại mình có, biết dừng lại đúng
lúc cần nên dừng là kẻ trí, là bậc trượng phu quân tử,
không tham, không mê.
Tham, giận và mê là
ba món độc hại ẩn tàng sâu kín trong chúng sanh tâm, dù mang
lớp hình hài nào, dù trải qua bao đời bao kiếp, ba độc
này cũng khó tiêu mất. Nhưng nếu là một Phật-tử thuần
thành, tín tâm đối với Phật-đạo không gì lay chuyển nổi,
biết y cứ theo một trong các pháp-Phật nhiệm-mầu mà tu hành
một cách chuyên-cần chơn chánh, dần dần một lúc nào đó
tâm mê chúng sanh bất chợt bừng sáng, nghĩa là hết mơ chợt
tỉnh, thì liền nhận ra cái bản tánh chơn thiệt của tham,
sân cũng như tánh chơn thiệt của vạn pháp đều là tánh
Phật cả.
Cũng bỡi tâm chúng sanh
đang trong si mê, mờ mịt, vì còn chấp ngã, còn phân-biệt,
nên tham, sân mới hiện hữu, chứ tâm hết mê thì liền tỏ
ngộ thiệt tánh của tâm kia đồng như tánh Phật, không khác
không hai. Một sát na trước, ấy là tâm chúng sanh, mê mờ
trói buộc với tham sân, sống chết trong chỗ phân biệt gìau
nghèo, sướng khổ, đến đi, có không, lành dữ đủ thứ
trên đời. Nương nhờ pháp-Phật nhiệm mầu mà chỉ sát na
sau hốt tỉnh, rỡ sáng Phật tâm, liền có chỗ tự thấy
biết tâm này vô thỉ vô chung, không từng sanh cũng chưa từng
mất, không đến không đi, như như bất động, còn tham sân
kia chỉ là hiện tướng huyễn giả do chúng sanh tâm chấp
ngã, phân-biệt mà có; lại cũng tại ngay đó tự biết rõ
như thật rằng, tất thảy các pháp sướng khổ, vui buồn,
mừng giận, tốt xấu, hơn thua mà một sát na trước, ta đã
tự trước chúng vào thân, chỉ vì do tâm mê, nên phải chịu
kết buộc cùng chúng, quay cuồng, nổi trôi, biến hiện không
dừng nghỉ trong hai bờ sanh tử . Các pháp khổ vui, được
mất kia thiệt ra chỉ là vọng thức từ chúng sanh tâm xuất
sanh, không thật có, và cũng chẳng dính dấp gì tới Phật
tâm cũng là "chơn ngã","chơn tâm", chỗ "thật ta" phi sanh diệt
vừa tự khám phá .
Ðến lúc ấy tự rõ
như thật rằng giàu nghèo, phải quấy, khổ vui các pháp đều
tự như trong ta, cứ như những hạt bụi li ti tự do biến
hiện mất còn trong ánh sáng, mà tâm ta lúc này như ánh sáng,
không chút dính dấp, níu kéo, ràng buộc với bụi bặm kia,
tự tâm sáng suốt, bất động, như như dù bụi kia có hiện
hữu hay không hiện hữu, tự chúng đối với tánh sáng của
Phật tâm cũng vô can, không dính dấp.
Vì chấp ngã nên tâm
hay lăng xăng phân biệt, dính mắc trói buộc vào hai bên, tức
sống chết nổi trôi vĩnh kỳ trong nhị nguyên nhơn quả: lành
dữ, được mất, hơn thua, phải trái, giàu nghèo, sướng khổ,
thích sống sợ chết. Chứ sướng khổ, giàu nghèo chỉ là
khái niệm (cũng là huyễn pháp) do tâm phân biệt, tâm chấp
ngã huyễn sanh huyễn diệt mà thôi, chứ tự chúng không thật
có.
Tâm ta chợt vô phân
biệt thì liền tự thấy vạn pháp hiển hiện trước mắt
đều cứ tự nhiên như nhiên, như mày ngang mũi dọc, như đói
ăn, khát uống, mệt thì cứ ngủ, ngứa thì gãi, nóng thì
cởi áo mà tâm không động; nghĩa là khi ấy, đối với Phật
tâm, đói thì cứ ăn cho no để bụng hết cồn cào bức rứt,
mà không phân biệt thức ăn ngon ăn dở, buồn ngủ thì nằm
đâu ngủ cũng được yên giấc ngon lành mà không phân biệt
cần nên ngủ giừơng nệm hay giừơng cây, bỡi vừa chợt
khởi tâm phân biệt, chấp trước thì tâm ta liền động,
tự ta đã rời lìa chỗ "thiệt ta", rời lìa tự Phật sáng
trong thanh tịnh, như như, để cột buộc vào chúng sanh tâm,
cũng là tự đi vào cảnh giới sanh diệt mất rồi.
Gần bốn mươi năm
trước, như ngày vui của các con hôm nay, ông nội các con đã
đem một trăm chữ của Tiên-Thánh ngày xưa dạy cho ta, mà
ông cụ tâm đắc gọi là cái triết lý sống để đạt được
sự an vui, hạnh phúc thật sự cho tự thân và gia đình mình,
cũng như đem lại sự an vui, bình ổn cho những người sống
gần gũi trong cộng đồng với mình.
Hôm nay ta đem một trăm
chữ mà ông nội các con đã từng dạy cho ta, trao lại cho
các con, tạm gọi là giúp vốn cho các con, cũng cùng một tác
dụng như đối với ta ngày trước, là để các con dùng nó
làm rường cột xây dựng một mái ấm gia đình, mưu cầu
hạnh phúc thực sự ở tương lai.
Một trăm chữ mà ta
đã thuộc nằm lòng từ bấy đến nay, lúc nào cũng cố gắng
thực hành và ước mong thực hành được trọn vẹn trong đời
này.
Tham ít tinh thần khoẻ
Lo nhiều khí huyết
phai
Nữ nam không loạn tánh
Nhẫn nhục khỏi hao
tài.
Sang tại siêng năng mãi
Giàu nhờ cần kiệm
dai
Khéo xử thành quân
tử
U mê trước hoạ tai.
Sau lừng đừng bắn
lén
Nghịch cảnh giả ngây
dại
Tánh tốt giữ tâm thiện
Lòng tà uổng thập
trai.
Nha môn đừng kiện cáo
Làng xóm chớ chê bai
Dịu mềm luôn có ích
Hung dữ ắc mang tai.
Số phận theo con tạo
Thị phi bịt mắt tai
Giữ được bao điều
ấy
Hưởng phước, sống
lâu dài.
Bí quyết để sống
an vui, bình-ổn, hạnh phúc, lợi mình lợi người gói ghém
trong một trăm chữ của Tiên-Thánh, được ông cha ta áp dụng
thật tế vào cuộc sống, vào chính bản thân mình để mưu
cầu hạnh phúc thật sự cho tự thân, và gia đình, thì chính
ta thấy rõ các Cụ đã đạt được kết quả . Còn ta cũng
chưa từng thấy, chưa từng nghe ai nói hay ai khẳng định rằng
hạnh phúc thật sự của một đời người là phải được
xây dựng trên quyền thế, bạc vàng hay giàu sang vật chất
cả.
Bỡi thế cho nên, một
lần nữa ta khuyên các con phải biết nương theo ý chỉ của
Tiên-Thánh ngày xưa mà tu hành, phải biết sống thật với
chính mình, phải biết tri túc và tri chỉ.
Trăm năm của một đời
người, đối với vũ trụ vô cùng, thoắc đến rồi thoắc
đi thật ngắn ngủi, nhưng nào đã có mấy ai biết sống thật
với chính mình để có thể được tận hưởng hết ý nghĩa
tốt đẹp của cuộc đời, dù chỉ ngắn ngủi trăm năm ấy
đâu!
Có mấy ai biết rằng
thế giới vô cùng trước mắt đang từng giây, từng phút
trôi chảy, biến hiện, mất còn ở chính trong chỗ thật ta.
Mọi người hình như
đều đang bôn ba kiếm tìm hạnh phúc cho mình, mà có ai đâu
biết rằng, chính họ đang tự rời lìa mình khi lăng xăng
tìm kiếm một hạnh phúc hão huyền nào đó ngoài một thân
này.
Có mấy ai biết sống
vì hạnh phúc của người khác, mà trong chỗ tột cùng là
thiệt sống vì hạnh phúc chân thật của chính mình đâu !
Các con thương mến.
Những gì Tiên-Thánh
nói ra gói ghém trong một trăm chữ trên đều là những lời
từ bi, sáng suốt và thành thật. Ta mong các con hãy nhớ lấy
và cố gắng làm được những điều ấy, chắc chắn hạnh
phúc thật sự sẽ đến với các con ngay trong cuộc sống này.
Nay ta cũng phá lệ cũ,
lấy thêm ý tứ, kinh nghiệm sống của người xưa tặng cho
các con mười chữ nữa.
"Kỷ sở bất dục,
vật thi ư nhân - Ðiều gì không muốn người khác làm cho
mình, thì mình chớ có làm cho người khác".
Mình không muốn người
khác ghét bỏ, khinh-khi mình thì mình chớ có khởi tâm và
biểu lộ hành vi khinh dể và ghét bỏ người khác. Mình không
muốn người khác hại mình, không muốn người khác lừa gạt
mình, lấy đi của cải hay những gì mình tríu mến, thì mình
cũng chớ có rắp ranh hại người, chớ lừa gạt người,
chớ trộm cướp, hay lấy đi những gì mà người khác ưa
thích.
Mình không muốn người
khác làm mình khổ đau, khốn khó thì chớ có đem khốn khó,
khổ đau lại cho người.
Cũng có nghĩa là những
gì mình muốn người khác đem lại cho mình, thì mình hãy đem
đến những điều ấy cho người ta trước đã. Muốn người
ta quí mến, tôn trọng, vui vẻ, hoà nhã với mình, thì chính
mình phải thể hiện bằng hành động chơn chất, thật thà,
thương mến, kính trọng, hoà nhã, dịu dàng, vui vẻ, cởi
mở với người khác trước.
Nếu ai làm được như
vậy, tự nhiên người ấy sẽ có được sự an ổn và hạnh
phúc của cả thân lẫn tâm mà không tiền bạc, châu báu nào
trên thế gian này có thể dùng để mua lấy hay trao đổi được.
Lại còn hai chữ nữa
(mới đủ mười chữ), ta bẻ đôi cho con trai một nửa, con
dâu một nửa.
Ta tặng con dâu quí
một chữ Tiết, con trai yêu một chữ Nghĩa.
Con gái có chồng lấy
Trung-Trinh-Tiết-Liệt làm đầu, phải thể hiện từ tận cùng
trong tâm khảm ra đến ngoài thân. Phải hết lòng yêu thương
gắn bó với người mà mình đã từng yêu thương và trao thân
gởi phận. Phải biết khéo làm một người vợ hiền thục,
tiết hạnh đối với chồng, một người mẹ, một bà tiên
hiền diệu đối với đám con mà mình sinh ra. Ðược thế
thì bậc làm cha mẹ nào không vui sướng, không muốn sống
lâu với dâu hiền, con hiếu. Vì nếu đã là một người vợ
tốt, một người mẹ hiền, thì có lý nào lại không phải
là một con dâu hiền hiếu, thảo ngay với cha mẹ, phải không
con? Ðâu có lẽ nào !
Con trai có vợ thì phải
lấy Nghĩa-Nhân-Thành-Tín mà cư xử với vợ mình. Phải biết
hết dạ thương yêu, tin tưởng người vợ tấm cám của mình,
không dối lừa vợ mình, không chia xẻ tình cảm riêng tư,
vì chẳng những việc làm đó là vị kỷ xấu xa, dễ làm
gia đình tan vỡ, mất hạnh phúc, đánh mất niềm tin yêu,
kính trọng của người vợ đã hết lòng hết dạ đặt để
vào mình, mà đó còn là cái gương xấu cho con cháu mai sau,
sinh ra nhiều giòng giống, huyết thống lộn xôn, thật là
điều cấm kỵ của Tổ-tiên, là điều đáng chê trách vậy.
Giàu không đổi bạn,
sang không thay vợ đổi chồng, phu phụ đãi như tân, là đạo
lý bất biến từ ngàn xưa mà chúng ta nên dùng đó làm gương
để thường soi mình vậy.
Những điều ân cần
dặn dò này, chỉ là một phần nhỏ trong muôn ngàn lời mà
trái tim của người cha muốn nói, không ngoài mong ước sao
cho các con mình luôn luôn được xứng ý, hoà hợp trong tình
yêu thương vợ chồng, để vun đắp một gia đình an lạc,
hạnh phúc, tốt đời đẹp đạo ở tương lai. Bỡi dù ba
có sống đến trăm năm đi nữa, cũng không sao nói hết được
tâm tư, ước vọng, cùng sự lo lắng đối với những đứa
con mà mình sinh ra và yêu thương.
Ngày nay các con đã trưởng
thành, nhưng dưới mắt ta, các con chỉ trưởng thành trên
mặt hình tướng mà thôi, còn đối với sự trưởng thành
theo mong đợi của ta thì các con hiện mới chỉ là những
chú gà con bắt đầu lẻ mẹ, đang trên đường đi tìm kiếm
sự trưởng thành thực sự cho chính mình ở phía trước.
Ta lúc này có khác nào
như gà mẹ đang nhìn lũ con bắt đầu rời tổ, bước những
bước chập chững, vụng về xa mẹ, để mưu cầu cuộc sống
riêng của chúng, mà lòng gà mẹ thì nữa muốn giang rộng
đôi cánh lông lá xác xơ vì sự xói mòn của thời gian, để
ôm trọn, để cưu mang chúng vào lòng vì nỗi lo sợ hố hầm
cạm bẩy, hay sói diều đang chực chờ, rình rập chúng; một
nửa lại muốn xua đuổi chúng phải lìa mình để buộc chúng
tự tiến về phía trước mà kiếm tìm hạnh phúc của chính
chúng, vì biết vô thường chẳng trừ miễn một riêng ai,
bỡi đó là luật tắc bất biến của nhơn quả vậy.
Nói ít hiểu nhiều,
mong các con luôn ghi nhớ những lời này, lấy đó mà tu tâm
sửa thân và cũng để dạy dỗ cho con cháu đời sau.
Chúc các con khám phá
được hạnh phúc thật sự của chính mình, ngay trong đời
này.
