Giới
thiệu
Tôi
muốn đặt khái niệm xã hội dân sự ra ngay đầu bài để
làm phương tiện giúp chúng ta có
thể đánh giá đúng hơn về Phật
giáo nhập thế ở Nhật Bản. Xã
hội dân sự thường được hiểu
như là vũ đài công chúng tồn tại giữa
nhà nước và thị trường dành cho người dân để “tranh
luận về những vấn đề lợi ích chung” và “đóng góp
lợi ích chung” (Hardacre 2004, tr.391). Điều này cho thấy, chuẩn
mực quan trọng hơn cả của xã hội dân sự là đạo đức
- tức là, xã hội dân sự quan tâm
đến cách hành xử có đạo đức
và có lợi ích giữa con người
với nhau, do đó đức tính công dân là nền tảng của xã
hội dân sự. Điều này tương đồng với khái niệm xã hội
dân sự mà những người Hy Lạp và La
Mã đã hiểu: “Một xã hội được cai trị bằng
luật, trong đó luật được xem như
là sự biểu hiện đạo đức chung,
v.v… và trong đó những người cai trị đặt
lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân”.(Anheier,
Glasius và Kaldor 2001, tr. 12).
Tuy
nhiên, khái niệm này không chỉ giới
hạn nơi người Hy Lạp và phương Tây.
Đúng hơn, tôi nghĩ khái niệm “bất
di dịch” về xã hội dân sự này được
tìm thấy trong mọi nền văn minh nhân
loại, nơi đó phạm vi xã hội
hàm chỉ một lãnh vực quan hệ con người được
hướng dẫn bằng những nguyên tắc đạo đức.
Khái
niệm xã hội dân sự bất di dịch này được
nối kết một cách tự nhiên với những tổ chức
tôn giáo, mà xuyên suốt lịch sử bất chấp hậu quả ra sao,
đã tìm cách thiết lập những giáo phái dựa trên những lời
dạy đạo đức của giáo chủ của họ.
Cho dù xã hội dân sự hiện đại xem ra khác biệt bởi
bản chất thế tục của nó, thì nó vẫn nhấn mạnh những
loại đạo đức hành xử, ủng hộ
những khái niệm thế tục và hiện
đại như dân chủ và nhân quyền
chẳng hạn. Về phương diện lịch sử, những gốc rễ
của xã hội dân sự hiện đại
ở Tây phương dường như đã bắt
đầu với sự cải cách của Tin Lành và những nỗ lực theo
sau đó của những giáo phái Thiên Chúa giáo mới khác nhau
nhằm tạo nên những cộng đồng
dân chúng thật sự có đạo đức
và ngoan đạo. Cuộc đấu tranh để tạo nên xã hội dân sự
hiện đại ở Tây phương là một sự nỗ lực nhằm tái tạo
lại những quan hệ đạo đức cộng đồng đang bị tan rã
bởi những thay đổi nhanh chóng gây ra
bởi công nghệ và khoa học hiện đại, sự phát triển của
những khối dân chúng đô thị, và sự
sụp đổ hoàn toàn hệ thống thần học của
Giáo hội Thiên Chúa giáo (David Loy
2002).
Nhiều
học giả khác nhau, như Toshimaro Ama
của Đại học Meiji Gakuin, đã đặt
câu hỏi rằng liệu Nhật Bản hiện
đại có thực là một xã hội dân sự như những
xã hội ở châu Âu hay ở Nam Mỹ hay không.
Mặc dù người Nhật có thể thật sự thiếu một ý thức
vững vàng đối với khái niệm hiện
đại về xã hội dân sự như là một lãnh vực
xã hội tách rời khỏi nhà nước
và thị trường, tôi cho rằng họ vẫn có ý
thức đối với một khái niệm cố định về
xã hội dân sự. Rõ ràng, Tịnh Độ hay Nhật Liên tông cấp
tiến của triều đại Kumakura (1192-1333) đã cho thấy một
kiểu mẫu phong trào xã hội dân sự khi tạo ra những giáo
phái được đặt căn bản trên những chuẩn mực tôn giáo
mà chúng có giá trị trên cả những cộng đồng xã hội lớn
hơn. Vào triều đại Muromacchi theo sau (1333-1573),
những giáo phái này đã làm nền
tảng cho toàn thể dân chúng thuộc Tịnh Độ tông
(Ikko-ikki) và những tín đồ Nhật
Liên tông (Hok- ke-ikki) khởi nghĩa
chống lại triều đình.
Trong
tiếng Nhật, thuật ngữ chỉ xã hội dân
sự là Shimin-shakai (市民社会). Những
ký tự gộp thành shimin có nghĩa đen
là “thành thị” (市) và “dân chúng” (民). Điều này
cho thấy rằng khái niệm của người Nhật về xã hội dân
sự là một kết quả tự nhiên của văn hóa đô thị cận
đại. Tuy nhiên, Ama lưu ý rằng khái niệm này
vẫn chưa được hầu hết những
người Nhật, những người có khuynh hướng xem
xã hội giới hạn
trong thuật ngữ seken (世間) mà nó
có
nghĩa đen là “thế gian” hay “công chúng”, hiểu
một cách đầy đủ. Khác với việc hiểu xã hội dân
sự đề cập đến một lãnh vực công chúng tách biệt khỏi
nhà nước và thị trường, seken đối với người Nhật thì
bao quát hơn và ám chỉ cho điều
mà người ta không cố gắng thay đổi
nhưng cố gắng điều chỉnh cho phù hợp. Sự phát triển xã
hội dân sự cận đại ở Nhật
đã bị làm chậm lại bởi sự
kiềm chế của nhà nước quan lại
và quyền lực của nó (Hardcare, tr.
394-395).
Tuy nhiên, việc xâm nhập thường xuyên những quan kiến thế
giới từ sự hiện đại hóa bắt đầu vào triều đại Minh
Trị (1868-1912) đã dần dần phá vỡ những khái niệm truyền
thống của dân chúng Nhật. Điều này có thể trực tiếp
nhìn thấy trong lãnh vực tôn giáo, đặc
biệt ở trong những phong
trào tôn giáo mới (shin-shukyo)
của thập niên 20 và làn sóng thứ hai của những
tôn giáo mới (shin shin-shukyo) của thập niên
80 thế kỷ XX. Những nhóm này đã
tìm cách nói lên sự bất mãn đang gia tăng
của người Nhật thành thị, trôi
nổi trong một cộng đồng thế giới
luôn thay đổi và những giá trị
đạo đức không minh bạch.
Tính
trung gian của những chuẩn mực luân lý đạo
đức, mà chúng thông thường được đặt
nền tảng nơi tôn giáo và cung cấp cơ sở cho việc tạo nên
xã
hội
dân sự, có thể giúp chúng ta hiểu được những hoạt động
xã hội của các tổ chức Phật
giáo ở xã hội Nhật Bản đương thời và để đánh giá
phạm vi của một phong trào Phật giáo nhập thế đích thực.
Theo đó, những vấn đề lần lượt được
đặt ra ở bài viết này là: một phong trào
hay một nhóm người đóng góp lợi ích cho xã hội Nhật về
mặt đạo đức là bao nhiêu? Và một câu hỏi có
lẽ còn quan trọng hơn: mục đích của
các tổ chức hay những cá nhân là tập trung đóng góp
phúc lợi cho xã hội dân sự - tức
là cho công chúng nói chung - hay còn có những vấn đề khác
bao gồm trong những hoạt động này? Câu
hỏi cuối cùng cần để ý là: những tổ chức Phật
giáo này thành công bao nhiêu khi
tiếp nối và biểu thị một mô hình xã
hội dân sự bản địa thật sự bắt nguồn từ những chuẩn
mực tôn giáo và đạo đức thuộc truyền thống
Phật giáo của họ, chứ không phải
là từ chủ nghĩa nhân văn ảnh hưởng Thiên Chúa giáo
của xã hội dân sự phương Tây?
Một
hệ thống mô hình Phật giáo nhập thế
Với
những vấn đề được đặt ra ở trên, tôi
muốn đánh giá khái quát về những
kiểu mẫu hoạt động xã hội mà điển hình những Phật
tử Nhật đã tham gia vào. Tôi nghĩ chúng ta nên thận trọng
ở đây, không cố gán cho một tổ chức thống
nhất là chỉ thích hợp với kiểu mẫu này hay kiểu
mẫu kia, mà đúng hơn nên xem những kiểu mẫu khác nhau này
như là những mô thức hành động mà trong đó một tổ chức
đơn nhất có thể ảnh hưởng tất cả, hoặc một vài hoặc
không gì cả. Do đó, chúng ta có
thể sử dụng hệ thống mô hình này để hiểu
sâu hơn sự phức tạp của các hành
động của một nhóm, hơn là việc sử dụng nó như là một
phương sách nhằm xếp xó chúng.
1.
Hoạt động cứu tế
Đây
là những hoạt động truyền
thống của các tổ chức tôn giáo trong vai trò đương nhiên
của chúng như là những điểm trung
tâm của xã hội dân sự truyền thống.
Ví dụ, ở Nhật Bản thời tiền hiện đại, đặc biệt trong
suốt thời kỳ Edo hay Tokugawa (1600-1868), chùa chiền có thể
tìm thấy trong mọi ngôi làng và tăng sĩ luôn tham gia vào mọi
loại hoạt động khác nhau để hỗ trợ cộng đồng, chẳng
hạn như điều hành trường học (terakoya 寺子屋) hay hỗ
trợ những đề án
hạ
tầng của cộng đồng. Trong suốt thời kỳ
hiện đại hóa bắt đầu với triều đại
Minh Trị, sự xâm nhập tư tưởng phương Tây cùng với việc
phát triển các tổ chức hiện đại và thế tục đã tạo
nên mối đe dọa đối với vai trò xã hội truyền thống của
tăng sĩ và tự viện. Đương đầu với những khủng
hoảng này, những tăng sĩ Phật giáo bắt đầu
nhìn ra các nước khác, không chỉ ở phương Tây mà
cả ở những quốc gia Phật giáo khu vực
châu Á, và họ đã phát triển những mô thức hoạt động
phúc lợi xã hội hiện đại và mới hơn, như các trung tâm
và trường mẫu giáo ngày hôm nay, trong
suốt kỷ nguyên Taisho (1912-1926).
Một
ví dụ nổi bật là công việc
của một vị tăng sĩ thuộc Tịnh
Độ tông Shiio Benkyo (1876-1971). Ông đã gây
dựng bên trong Tịnh Độ tông phong
trào
Kyosei (kyosei-kai 共 生会). Kyosei đại
thể được chuyển dịch là Hội Cộng Sinh, và Benkyo
đã đặt ý tưởng này trên học thuyết
duyên khởi
(pratitya-samutpada)
căn bản của Phật giáo.
Ông đã giải thích học thuyết
duyên khởi trên nền tảng xã hội loài người và
nhấn mạnh rằng người ta cần nên
nhận biết sự cứu độ của Phật
A-di-đà là ở trong xã hội và đời sống hàng
ngày. Phong trào này đã khiến nhiều tăng sĩ thuộc Tịnh Độ
tông thiết lập những trung tâm bảo dưỡng và trường học
ngay trong chùa hoặc ở trong vườn chùa của họ, hoặc tham
gia vào những hoạt động công ích xã
hội khác. Điều này cho thấy rằng những bước quan
trọng ban đầu trong việc tiến hành phát triển xã hội dân
sự đã được đặt trên những khái niệm Phật
giáo bản địa. Sự phát triển những đề tài phổ
quát như vậy được kết hợp với việc tu tập trong đời
sống hàng ngày như là một phương
tiện cho sự chuyển hóa nội tâm và sự chuyển đổi xã hội
thì cũng giống với các trường Phật học mới xuất hiện
trong kỷ nguyên này cũng như những tổ
chức Tịnh Độ tông (Stone 2003). Tuy
nhiên, những phong trào như thế này
không trở thành những hoạt động
chính thức được các giáo phái xúc
tiến như là những hoạt động “phúc
lợi
xã hội” (shakai fukushi 社 会福祉) mãi cho đến sau chiến
tranh, và như vậy phần lớn giới hạn nơi sáng kiến cá nhân
của những tu sĩ. Hơn nữa, ở
đây cho thấy bản chất đạo đức và tư tưởng hệ của
những hoạt động này có một vài giới
hạn bởi vì chúng không bao giờ
được phát triển thành một phong trào thách thức
chủ nghĩa dân tộc đang lớn mạnh của chính
quyền và xã hội. Mặc dù Benkyo ban đầu cho thấy
là chống chiến tranh, nhưng rồi ông vẫn là một
thành viên của Nghị viện và là một lãnh đạo
tôn giáo ủng hộ chiến tranh mãi cho đến khi
nó kết thúc (Eisawa 2002).
Do
đó, tôi đã quy cho lĩnh vực
đầu tiên này là “cứu tế”, bởi
vì bản chất hoạt động xã hội
không đưa đến chiều hướng thách thức cấu trúc xã hội
đang hiện hành, đặc biệt là về
mặt chính trị, mà duy trì nó
bằng cách cứu tế hay trợ giúp
dân chúng. Trong chừng mực nào đó, những
hoạt động này có thể được xem như là một phần của
xã hội dân sự, bởi vì chúng tập trung vào việc xác định
nguồn lực bên trong cá nhân để hành động cho tích cực
và hợp đạo đức trong lĩnh vực xã hội. Tuy nhiên, ở một
góc độ khác, chúng ta không thể
xem chúng là những hoạt động xã hội
dân sự đích thực bởi vì bằng việc nhấn mạnh vào
nguồn lực cá nhân chúng thường bỏ qua những
bất công, theo đó trở thành công
khai thỏa hiệp với quyền lực áp bức. (Stone 2003)
Điều
này được nhìn thấy rõ ràng trong
việc Tokugawa Shogunate sử dụng chùa chiền để giám
sát dân chúng Nhật thông qua hệ
thống đăng ký chùa bắt buộc (danka
seido); và ở trong kỷ nguyên hiện đại, được nhìn
thấy nơi quy định dành cho những
tổ chức tôn giáo thông qua việc
thành lập những tập đoàn công ích
tôn giáo (shukyo koeki hojin, 公 益法人),
mà vị trí pháp lý của chúng có thể bị chính phủ phủ
nhận (Hardacre, tr. 395). Kỷ nguyên Taisho,
chủ nghĩa tích cực của những tăng sĩ Phật giáo có
lẽ phần nào hấp thụ khái niệm phục vụ công ích, mà nó
cũng là một phương thức còn sót lại của những Phật tử
truyền thống nhằm duy trì vị trí của họ trong một
thế giới thay đổi nhanh chóng và nguy
hiểm của Nhật Bản thời đầu hiện đại với sự thế
tục của nó, và những quan điểm Thần Đạo (Shinto) cũng
như sự sanh khởi của những giáo phái Phật giáo
mới. Do đó, những mô hình hoạt động này
thật sự không theo kịp tư tưởng xã hội dân sự bởi vì
chúng không đưa ra được một sự lựa
chọn nào khác ngoài quyền lực nhà nước. Trong những
trường hợp tồi tệ nhất, chúng có thể làm méo mó ý
nghĩa chân thực của xã hội dân
sự khi duy trì hệ tư tưởng nhà nước xem như là hiện thân
đầy đủ của xã hội dân sự
và bằng việc dọn sạch những cuộc biểu tình chống áp
bức và bất công do một nhà nước áp bức tạo ra
thông qua những hoạt động cứu tế của họ.
2.
Hoạt động truyền giáo
Những
hoạt động này là công việc
mà mọi tổ chức tôn giáo đều làm như là phần việc thiết
lập tổ chức thành một phong trào
quần chúng. Theo truyền thống, những hoạt động
như vậy sẽ gửi những phái đoàn
truyền giáo đến những địa phương mới để truyền bá
giáo lý và sau đó xây dựng
chùa chiền tại nơi ấy. Trong thời hiện đại, đặc biệt
trong số những tổ chức Phật giáo mới
của Nhật, điều này đã được mở rộng thêm bao gồm
việc tạo dựng những đoàn thể hoàn toàn mới mẻ bên trong
xã hội Nhật rộng lớn qua việc xây dựng trường học, các
viện đại học, bệnh viện, v.v… Những hoạt động
này đã cố gắng chăm sóc và
quan tâm không chỉ nhu cầu tinh
thần của cộng đồng mà còn cho cả những nhu cầu
vật chất nữa. Như vậy, những hoạt động phổ
biến này và những công tác cứu trợ mới mẻ được đề
cập ở trên cho thấy xu hướng hiện đại đặc thù là tập
trung tiêu điểm vào lợi ích vật chất của dân chúng cũng
như lợi ích tinh thần của họ.
Tôi
đã quy cho những hoạt động này là “truyền giáo”, bởi
vì mặc dù có thể có mục đích đạo đức là
làm điều tốt cho người khác, thì ở đó
đã có động lực “vị kỉ” cốt lõi
nằm phía sau những hoạt động là
nhằm xây dựng mục tiêu, sức mạnh
và uy tín của tổ chức. Do
đó, không thể quy cho những hoạt động này là
những hoạt động xã hội dân sự đích thực bởi
vì quyền ưu tiên là lợi ích của tổ chức và sự phát triển
chỉ ở bên trong nhóm tín đồ, thay vì vào xã hội
lớn hơn như một tổng thể. Như
vậy, chúng ta có thể nhận ra
hoạt động cứu tế qua việc xây dựng
một trường mẫu giáo do một ngôi chùa
truyền thống thực hiện và hoạt
động truyền giáo qua việc xây dựng một ngôi trường
trung học do một tổ chức Phật giáo mới tiến
hành có một sự khác biệt cơ
bản trong động cơ, tức mô hình trước dùng biện
pháp phòng thủ nhằm duy trì vị trí trong xã hội, trong
khi mô hình sau thì có cách thức tấn công để đạt lấy
vị thế ở trong xã hội. Bản chất “tấn công” của những
hoạt động này bản thân nó cũng có thể ảnh hưởng như
là một sự thách thức đối với xã hội
hiện hành, và trong trường hợp những tổ chức
Phật giáo mới, dĩ nhiên là một sự thách thức đối với
quyền lực hỗ tương của những giáo phái Phật giáo truyền
thống và chính quyền nhà nước. Từ lập trường tư tưởng
hệ, những tổ chức này có thể giữ được chân lý trong
tín ngưỡng của mình khi vượt qua những luật
lệ thế tục của nhà nước. Việc
nắm giữ như vậy là một đặc
điểm dễ thấy nơi lời dạy của ngài Nhật Liên
(Nichiren), người đã thực hành theo kinh Pháp Hoa trong khi sử
dụng vai trò tu sĩ của mình thách thức nhà nước và sự
thiết lập Phật giáo. Dường như
rất trùng hợp rằng, hầu hết những tổ chức Phật giáo
mới đáng chú ý của Nhật Bản hiện
đại phát xuất từ dòng chảy Nhật
Liên như Soka Gakkai, Reiyukai, Rissho
Koseikai và Nippon- zam Myohoji, đều
phản ánh một phạm vi tư tưởng
đầy đủ mọi mặt.
Về
phương diện xã hội dân sự, những tổ chức
Phật giáo mới, dễ thấy
nhất là Soka Gakkai, đã đề
xuất một kiểu mẫu khác về trật tự xã hội,
một loại chủ nghĩa cải cách xã hội, khác cả
chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa
cộng sản, và được đặt cơ sở
trên khát vọng của quần chúng thứ yếu trong
suốt thời kỳ hiện đại hóa và gia tăng kinh tế vượt bậc.
Trong thời kỳ chuyển đổi xã hội nhanh chóng hậu chiến
tranh, dân chúng đô thị phát triển cần một vài điểm tựa
tinh thần và sự hỗ trợ xã hội, và Soka Gakkai
đặt nền tảng trên Phật giáo rõ
ràng đã đáp ứng được những nhu
cầu của họ. Đây dĩ nhiên là một loại xã hội dân
sự tất yếu không bị nhà nước kiểm soát,
đúng hơn là nó đã nhằm mục đích sắp xếp lại
phạm vi công chúng thông qua cơ cấu đại
diện chính trị. Do vậy, Soka Gakkai đã thành lập
đảng Komei vào năm 1964, chủ trương tính minh
bạch và phúc lợi, mà cả hai đang thiếu vắng trong
thời kỳ phát triển kinh tế vượt
bậc này. Do đó, tầm nhìn của một tổ chức
tâm linh-xã hội mới của những tổ
chức Phật giáo mới như vậy có thể đại diện cho tinh thần
chân thực của xã hội dân sự khi đưa ra căn bản quyền
lực thay thế quyền lực cố thủ. Tuy
nhiên, hoạt động truyền giáo và
khả năng “tấn công” của những tổ chức như vậy thường
có thể tạo ra những hình thái thỏa
hiệp mới với những hình thái quyền lực phi dân sự khác,
chẳng hạn như quyền lực thị trường,
đối cực mà xã hội dân sự trong đó được cho
là đưa ra một khả năng lựa
chọn khác. Trong môi trường hết sức
tư bản của Nhật sau chiến tranh, sự
phát triển công nghệ tang lễ do các nhóm Phật giáo
truyền thống thực hiện, sự tiếp thị đại chúng và
những hoạt động xây dựng quần chúng của
những nhóm
Phật
giáo mới đã khiến cho Phật giáo đi đến
thỏa hiệp với quyền lực tài chính.
Như vậy, rất khó khăn để gọi những hoạt động
này là hoạt động xã hội dân sự
đích thực khi mục tiêu cốt yếu của chúng không phải là
phát triển đạo đức xã hội mà là sự phát
triển tài chính của chính tổ chức của họ.
3.
Hoạt động cải cách
Những
hoạt động này phù hợp với điều
tôi gọi là những hoạt động xã hội dân
sự được phát triển hoàn thiện và đầy đủ, và cũng là
điều tôi gọi là một phong trào Phật giáo nhập thế trưởng
thành. Cùng với cứu tế và truyền giáo, đây là một mô
thức khuôn mẫu mà nó không thể thực hiện được trọn
vẹn bất cứ nơi đâu trừ ở những tổ chức Phật giáo
bao gồm mọi tầng lớp khác nhau. Có hai đặc tính chủ chốt
của loại phong trào này.
Thứ
nhất là phê bình tư
tưởng hệ về lĩnh vực quyền lực trong xã hội hiện hành.
Một sự phê bình như vậy sẽ thiết
lập tổ chức vững chắc như là một phần của
phong trào xã hội dân sự đích thực, mà nó
đưa ra một quan điểm lựa chọn về xã hội tách rời khỏi
nhà nước và những tiêu chuẩn quyền
lực. Đây là một yếu tố chủ
chốt ở trong những phong trào Phật
giáo nhập thế ở những khu vực khác của châu
Á. Ở Thái Lan và Sri Lanka, sự phê bình này điển
hình nhắm đến vấn đề bạo lực và sự phá sản đạo
đức của thời kỳ phát triển hiện đại, khi chủ trương
một kiểu mẫu Phật giáo duy nhất cho sự phát triển, chẳng
hạn như phong trào “Thức
tỉnh tất cả” của Sarvo-daya ở Sri Lanka
và
khái niệm “Chủ nghĩa xã hội theo Pháp” (Dhammic Socialism)
được đề ra bởi vị Tỳ-kheo người
Thái Buddhadasa (Queen và King 1996).
Đặc
tính thứ hai là một sự kết ghép
của phê bình ý thức hệ này với một phong
trào hành động xã hội tiến bộ, được nhìn thấy
ở Sri Lanka như là phong trào phát triển nông
thôn quy mô của Sarvodaya
và công việc phát triển của các Tỳ-kheo ở Thái
Lan.
Điểm
chủ chốt khi chỉ định cho lĩnh vực này là “cải cách”
vì rằng thành phần tư tưởng hệ và hành động
xã hội cùng tác động lẫn nhau sâu sắc và
tạo ra một sức ép biện chứng ngăn cản một trong hai đi
đến thay đổi. Từ quan điểm Phật giáo, chúng ta có thể
hiểu được hai đặc tính này là phương thức biện chứng
giữa trí tuệ và từ bi. Trí tuệ mà thiếu từ bi có thể
lạnh lùng và là công cụ, trong khi từ bi mà thiếu trí tuệ
có thể làm cạn kiệt chính nó trong việc
ứng dụng không sáng suốt.
Ví
dụ, một phong trào mà nó tập trung nhiều
vào tư tưởng hệ có thể đánh mất
sự truyền thụ của nó trong những
hành động phục vụ xã hội căn
bản mà thông qua đó nó đưa
ra những tình cảm đạo đức. Một
sự phê bình tư tưởng hệ mà
đánh mất sự truyền thụ như vậy
có thể trở nên quá liên lụy với sự phê bình quyền lực
của nó và sự ràng buộc của nó với quyền lực, do đó
trở nên dễ bị vướng mắc với những lôi cuốn tương tự
đối với quyền lực phê bình. Theo chiều hướng có hại,
sự phê bình tư tưởng hệ sẽ trở thành một phong trào chính
trị gây chia rẽ mà rốt cuộc chính nó có thể
kết liên với “những thay đổi
chính thể” nơi nhà nước và quyền lực thương
mại. Điều này được thấy rõ ràng ở Sri Lanka,
nơi mà phong trào Tăng già xác
định lại chính mình để chống
lại những mối đe dọa của chủ nghĩa tân thời
phương Tây, đã biến nó thành một hình thức
chủ nghĩa dân tộc được đặt cơ sở trên sự
hợp nhất của nhà nước, tôn giáo và dân chúng. Về phía
Nhật Bản, xu hướng này có thể được dẫn chứng thêm
một lần nữa nơi phong trào
Nichiren. Chính Nichiren đã thực hiện
một sự phân tích tư tưởng sâu
sắc về nhà nước chính trị Nhật
Bản trong tác phẩm nổi tiếng của
mình - Luận giải về việc thiết lập quốc gia
đúng đắn và an toàn (Rissho Ankoku-ron). Tuy nhiên,
trong thời kỳ tiền chiến tranh, sự phê bình
nhà nước của Nichiren đã bị thiên
lệch vào trong một sự hợp nhất
tư tưởng tôn giáo của mình với
nhà nước để ủng hộ chủ nghĩa đế quốc của
Nhật. Điều này được gọi là Nichiren-shuti (chủ
nghĩa Nichiren) và được nói rõ trước đó bởi vị tăng sĩ
đi trước Nichiren là Tanaka Chigaku (1861-1939), người đã
thành lập tổ chức thế tục Rissho Ankoku- kai để
ủng hộ Nichiren-shuti (Stone 2003). Ngày
nay, Soka Gakkai phục vụ hết sức
bí ẩn trong phạm vi này. Trong
khi ủng hộ hòa bình thế giới bằng vô số những
hoạt động quốc tế, thì trên mặt trận nội địa,
họ hình thành nên trụ cột tư tưởng hệ của đảng Komei
đầy quyền lực và bảo thủ mà hiện thời nó đứng
về phía Nhật ủng hộ sự can
thiệp của Mỹ vào Trung Đông. Chính sách
này được liên kết với phong trào gửi quân đội ra nước
ngoài và sửa đổi hiến pháp hòa bình của
Nhật, một hiến pháp mà nhà lãnh đạo của Soka Gakkai
là Daisaku Ikeda đã tuyên bố là làm
cho Nhật Bản “hoàn toàn có đủ tư cách là người
tiên phong để huy động tất cả những lực lượng hòa bình
của thế giới, để nắm lấy cương vị lãnh đạo, và để
đánh thức dư luận thế giới thông qua
Liên Hiệp Quốc (Stone 2003, tr 86). Sự vắng mặt tiếp tục
của Soka Gakkai trong những khởi xướng của khối Phật giáo,
hòa bình tôn giáo và xã hội dân sự bên trong Nhật Bản củng
cố thêm những mối nghi này, và cho thấy phù hợp với triết
lý chung của họ về việc không hợp tác với những nhóm
tôn giáo khác, Phật giáo hay không Phật giáo.
Mặt
khác, một phong trào mà nó thiếu
đi sự phê bình ý thức hệ và tập trung
tiêu điểm vào hành động xã hội
thì có khuynh hướng giống với hoạt
động cứu tế của nhiều tổ chức Phật giáo. Điều này
rõ ràng có mặt ở trong hầu hết
những tổ chức Phật giáo thực hiện hoạt động xã
hội ở Nhật Bản ngày nay. Một phần lớn những nhóm này
dốc hết tâm trí vào “những hoạt động hợp
tác quốc tế”, bao gồm nhiều hình thức cứu tế
khác nhau đến châu Phi, Trung Đông, Nam và Đông Nam châu Á.
Cũng có một số lớn chuyên bàn suông về hòa bình. Tôi sử
dụng từ “bàn suông” bởi vì hầu hết mọi hoạt động
đều là thiết lập hội thảo, xuất bản ấn phẩm và
tuyên ngôn, trong khi hầu như không có sự
phê bình nào về sự thỏa hiệp kinh tế và chính trị của
Nhật Bản với tình trạng xung đột khắp nơi trên thế giới.
Công chúng nói chung
của Nhật luôn được dạy dỗ để
đổ lỗi những vấn đề này cho Hoa Kỳ, thay vì
nghiên cứu xem những nhu cầu của
họ về dầu lửa và năng lượng
dưới lòng đất cũng như lối sống tiêu thụ của
họ đóng một vai trò quan trọng trong
việc duy trì quyền bá chủ của Mỹ trên thế giới như thế
nào. Từ viễn cảnh Phật giáo, Miến Điện có thể là một
ví dụ rõ ràng nhất về sự thỏa hiệp và thiếu phân tích
xã hội này của Nhật. Miến Điện, một quốc gia thành viên
Phật giáo chính yếu, đã chịu một chế độ quân sự độc
tài hà khắc trên bốn mươi năm. Tuy thế những
tổ chức Phật giáo ở Nhật đã không thực thi
nỗ lực có hệ thống để giáo dục quần chúng
về vấn đề này và để đưa đến một
chiến dịch nhất quyết chống lại
những hoạt động thương mại của Nhật và việc
viện trợ nước ngoài của Nhật mà nó
yểm trợ cho chính quyền đó. Trong khi
một vài tạp chí Phật giáo ở Nhật quảng cáo việc
chào bán gỗ của Miến Điện sử dụng trong
việc xây dựng lại chùa chiền, thì Thiên Chúa giáo Tây
phương tiếp tục là người lãnh đạo
trong việc cứu trợ và thương mại
đã tẩy chay tập đoàn quân nhân Miến Điện. Cần
nên ghi nhớ rằng Phật giáo ở Nam và Đông
Nam châu Á cũng không thể thay đổi
quan điểm của chính phủ họ về
Miến Điện. Tuy nhiên, Nhật Bản rõ ràng khác
với họ trong mức độ phát triển kinh tế và trách nhiệm
dân chủ mà nó ngang tầm với Tây phương.
Kết
luận
Chính
vì điểm này mà tôi nêu ra vấn đề là
tại sao Phật tử Nhật vẫn còn phải
phát triển sự phê bình ý thức
hệ mạnh mẽ của họ được đặt cơ sở trên những
lời dạy của Phật giáo mà nó hòa hợp với một kiểu mẫu
hoạt động xã hội ủng hộ
một xã hội dân sự đích thực
như lãnh vực đạo đức chung tách
rời khỏi nhà nước và quyền năng
thương mại. Người ta có thể giải thích rằng bởi vì Nhật
Bản không bị chủ nghĩa thực dân
Tây phương đô hộ, nên nó không bao giờ phải tìm kiếm và
phát triển những giá trị bản địa, như Phật giáo, như
là vai trò của một cuộc đấu tranh giành
độc lập. Tuy nhiên, Thái Lan cũng không bị thuộc
địa như Nhật, nhưng đã phát triển thành một
trong những hình ảnh Phật giáo nhập thế phong phú nhất như
là một sự thay thế cho quyền lực chủ nghĩa tân thời Tây
phương. Cũng có sự giải thích khác rằng, nguyên nhân có
thể do vai trò cố định của Phật giáo
trong ý thức hệ lập quốc từ sự khởi đầu của nó
ở Nhật Bản. Như chúng ta thấy ở mục những hoạt động
“cứu tế”, Phật giáo Nhật Bản
luôn gắn chặt với nhà nước. Do đó, những mối liên hệ
mật thiết của Phật giáo với Tokugawa
Shogunate đã đóng một vai trò chủ chốt trong
việc tự gạt bỏ nó trong suốt thời kỳ đầu
hiện đại hóa của triều đại Minh Trị. Giáo sư Jun Nishikawa
của đại học Waseda đã giải thích rằng cả thời
kỳ đầu hiện đại hóa và thời
kỳ hậu chiến tranh đã đánh dấu
một sự đa dạng lớn lao những hệ thống
giá trị của dân chúng Nhật. Bởi vậy, Nhật Bản đã phát
triển một mô hình hiện đại hóa thế tục không có tôn
giáo lớn hơn khi so sánh với
những xã hội Phật giáo ở Nam và
Đông Nam Á. Lâu sau đó, khi các quốc gia này bước vào thời
kỳ hiện đại hóa mạnh mẽ, đã nói lên
rằng Phật giáo đã sống lại vững chắc hơn như
một hệ tư tưởng bản địa phục vụ nhu cầu của những
nhà cải cách địa phương. Cũng cần nên nhớ rằng,
bản chất môn phái quyết liệt của
Phật giáo Nhật Bản cho thấy một tầm nhìn rất
thiếu hệ tư tưởng đồng nhất về xã hội so với truyền
thống hòa hợp của Theravada phổ biến ở Nam và Đông Nam
châu Á.
Do
đó, xã hội dân sự Nhật Bản đã
chịu ảnh hưởng sâu sắc khái niệm thế tục
(chủ nghĩa nhân văn) và duy vật (chủ nghĩa xã hội)
của Tây phương. Vì thế, Phật giáo thường
không được xem như là một đối lực mà là một nguồn
an ủi. Nhân đây tôi xin kể một câu chuyện đặc biệt về
một người bạn cũ mà nó đã tác động đến tôi. Cô ấy
đã làm việc tích cực nhiều năm
cho một tổ chức phi chính phủ
và trong những hoạt động xã hội
dân sự, và cũng là một Phật tử nhiệt tâm thuộc Nhật
Liên tông. Tổ chức này thực hiện các đề án về phát triển
và những giải pháp hòa bình. Tổ chức
này cũng như nhiều tổ chức phi chính
phủ nhiệt tình tích cực khác của Nhật,
đã có một căn bản Mác-xít cho hệ tư
tưởng của mình. Rốt cuộc là cô ấy đã thấy mình không
thể làm việc cho họ được nữa bởi
vì thỉnh thoảng sự kỳ thị công khai đã bóp nghẹt
niềm tin và thực tập của cô ấy. Riêng
cá nhân tôi, trong khi làm việc nhiều năm ở Thái
Lan cho một tổ chức Phật giáo phi chính phủ lớn, tôi luôn
cảm nhận được một sự thân thiết
vô cùng từ dân chúng khi họ hiểu được công việc của
tôi. Trong khi đó, tôi nhận thấy sự việc hầu như trái ngược
ở Nhật Bản, nơi dân chúng
thường nghi ngờ rằng tôi đang hợp tác với một
nhóm cúng bái, ngay cả khi có sự hiện diện
của một giáo phái Phật giáo lớn
như Tịnh Độ tông.
Sự
nhận thức chung này về Phật giáo và xã
hội Nhật Bản hiện đại đã có
ảnh hưởng lớn lao trong việc làm chậm lại sự
phát triển Phật giáo nhập thế mạnh
mẽ ở Nhật. Sự thế tục hóa
toàn diện và tư nhân hóa thực hành
Phật giáo ở Nhật Bản hiện đại cũng đã làm chậm đi
sự phát triển những sáng kiến của
các tăng sĩ quan tâm đến xã
hội, họ luôn gặp khó khăn khi
thuyết phục tín đồ
của mình về những hành động mà họ mong đảm nhận cho
xã hội. Hơn nữa, khi văn hóa thế tục, đặc biệt
ở trong giáo dục, đã đi nhanh
hơn văn hóa truyền thống Phật giáo, thì các
tăng sĩ hiếm khi được nhìn nhận
như là những nhà lãnh đạo trí thức trong xã hội. Sự lựa
chọn một lối sống thế tục bởi các tăng sĩ Nhật, điều
đáng chú ý nơi Phật giáo Nhật, cũng đã cướp đi của họ
quyền lực đạo đức mà một tăng sĩ đạt đạo có ở trong
quá khứ (Tomatsu, 1995). Các tăng sĩ Phật giáo và một vài
tín đồ nhiệt tâm vẫn còn tham gia vào những hoạt động
xã hội dân sự, nhưng vẫn luôn “ở
trong căn phòng nhỏ” Phật giáo của
họ. Điều này đã tạo ra tình trạng về một loại
phong trào Phật giáo nhập thế kín, nơi mà
nhiều cá nhân cố gắng tạo ra những hoạt động xã hội
dân chủ và quốc tế vẫn rất ít thấu hiểu lẫn nhau. Để
tìm phương thuốc cho tình trạng này mà mạng lưới Phật
giáo phi chính phủ đã được hình thành vào năm 2002.
Những
bước đi đến một phong trào Phật giáo xã hội dân sự đích
thực:
Sự
phát triển những tổ chức Phật giáo phi chính phủ
Trong
phần tiếp theo này, tôi muốn trình bày tổng quan về sự
phát triển những tổ chức Phật giáo phi chính phủ ở Nhật.
Tôi nghĩ công việc như vậy sẽ làm sáng tỏ những nỗ lực
của Phật tử Nhật cố gắng vượt qua ranh giới hạn hẹp
của Phật giáo nhập thế “cứu tế” hay “truyền giáo”.
Sự
vận động bên trong một Phật giáo nhập thế
mạnh mẽ, như tôi đã đề cập ở trước, đòi hỏi
đến tác động biện chứng của một
hệ tư tưởng phê bình và một hành động xã hội tiến bộ.
Về việc phát triển hệ tư tưởng, điều quan trọng là những
Phật tử Nhật cần phát triển đầy
đủ những giá trị đạo đức phổ quát trong giáo lý Phật
giáo, mà nói theo kinh điển là làm
giảm đi khổ đau của tất cả chúng sanh và theo lịch
sử là đem lại cho phụ nữ và những
người ngoài lề xã hội quyền thực hành tôn giáo. Thật
đáng tiếc, như chúng ta đã nhìn thấy ở trước, những nỗ
lực ưu tiên cho sự phổ quát ấy đã dừng
lại ở mức độ bộ phái và quốc gia.
Đạo đức phổ quát này là điều hiện đang đồng hành với
hoạt đồng toàn cầu tiến bộ. Các tổ chức Phật giáo khắp
thế giới đã tìm thấy đạo
đức phổ quát này nơi truyền thống của họ và đã cố
gắng thích ứng nó với nền đạo đức của những truyền
thống khác.
Những
gốc rễ của một nền đạo đức
phổ quát đích thực như vậy có thể tìm thấy
nơi sự phát triển của một vài
trường phái Phật giáo mới ở Nhật.
Như chúng tôi đã lưu ý ở trước, đóng góp của Soka Gakkai
đối với vấn đề này là thiếu rõ ràng, tuy những
chi nhánh quốc tế của Soka Gakkai thật sự
được coi là tham gia vào những hoạt động hòa
bình phi bộ phái. Có lẽ Rissho
Koseikai là một hình ảnh được phác
họa thích hợp hơn. Dưới sự lãnh
đạo của người sáng lập là Nikkyo
Niwano, tổ chức này đã tham gia sâu
vào đối thoại hòa bình quốc tế từ thập
niên 50 của thế kỷ 20 và là một thành viên không
thể thiếu trong Hội nghị thế giới về tôn
giáo và hòa bình tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở
New York. Như vậy, những trường phái
Phật giáo mới đã tiên phong
mạnh mẽ trong việc tham gia vào
những hoạt động quốc tế thật sự, trong khi những
giáo phái truyền thống đã phải dành nhiều
thời gian để giải quyết những mắc míu của họ với chiến
tranh như là bước khởi đầu đi đến phát triển một nền
đạo đức tôn giáo quốc tế đích
thực.
Cần
nhớ bối cảnh rất cơ bản này, sự xuất hiện những tổ
chức Phật giáo Nhật Bản phi chính
phủ đầu tiên là vào những năm đầu thập niên 80 thế kỷ
trước trong việc giải quyết khủng hoảng
đang tăng cao ở Đông Dương với thuyền
nhân từ Việt Nam và một khối lớn
người Cam-bốt đang lánh nạn ở biên giới Thái Lan. Những
tổ chức này, như tổ chức Trung
tâm Viện trợ Phật giáo được thành lập vào năm 1982 mà
hầu hết thành viên là các tăng sĩ Nhật Liên tông,
nhằm đáp lại việc phê bình có xu hướng
chủ đạo, rằng Phật giáo đã trở nên không thích hợp với
xã hội hiện đại và rằng những tăng sĩ
đã không quan tâm đến hạnh phúc chung của dân chúng.
Thêm một yếu tố khác, đó là sự gia tăng vai trò quốc tế
mà người Nhật và tăng sĩ Nhật có được
nhờ vào nền kinh tế thịnh vượng.
Tại buổi khai trương Mạng lưới
Phật giáo phi chính phủ vào tháng
7-2002, Tỳ-kheo Yoshimichi Ito của Trung tâm
Viện trợ Phật giáo đã nói rõ nỗi bức xúc và bàng hoàng
mà rất nhiều Phật tử Nhật đã cảm
nhận trong chuyến viếng thăm đầu
tiên của họ đến những trại tỵ
nạn Cam-bốt. Trước hết, họ nhận thấy
hầu hết những tổ chức tôn giáo đang làm công tác cứu
trợ là thuộc Thiên chúa giáo đến từ Tây phương. Thứ đến,
họ nhìn thấy những nhà sư Cam-bốt đang
làm việc ở đó không có đủ tài
chính để thực hiện giáo dục, cứu trợ và những chương
trình phát triển khác. Tỳ-kheo Ito nói,
“Tôi đây, một tăng sĩ mệnh danh
theo truyền thống Đại thừa được đặt căn bản
trên hạnh vô ngã và Bồ-tát, từ Nhật Bản đến không có
thứ gì cả để giúp họ ngoại trừ một túi tiền, và
ở đó tôi nhìn thấy những Tỳ-kheo
theo truyền thống Theraveda, từng bị cho
là chỉ quan tâm đến việc tự độ, đang làm việc trong
những điều kiện vô cùng thiếu thốn,
dùng con tim của mình chuyển tiếp trí tuệ và khả năng
mà họ có đến với dân chúng”. Những cảm
xúc này đã tạo nên một phong trào hoạt động cứu trợ
quốc tế lớn lao không chỉ ở những tổ chức Phật giáo
phi chính phủ mà còn ở những tổ chức chính thức và không
chính thức của hầu hết các bộ phái
Phật giáo, cũ cũng như mới.
Ở
đây cần nên lưu ý rằng, thuật
ngữ phi chính phủ (Non- governmental organization, NGO) như
được xã hội dân sự Nhật
và những tổ chức Phật giáo
này sử dụng có một ý nghĩa đặc biệt
mà nó khác với khái niệm chung.
Thuật ngữ NGO có nghĩa đen là “tổ chức phi chính
phủ”. Do đó, rất rõ ràng nó
là một tổ chức xã hội dân sự xem nó dĩ
nhiên độc lập với những tổ chức nhà nước cũng như những
đoàn thể thương mại, và đặc biệt
quan tâm đến những hình thức phúc lợi xã hội. Những tổ
chức phi chính phủ của Nhật rõ
ràng chia sẻ mối quan tâm phúc lợi xã hội này. Tuy nhiên,
ý nghĩa của một tổ chức phi chính phủ là phần tạo nên
xã hội dân sự thì đã có phần dịch chuyển, bởi vì trong
bối cảnh Nhật Bản, tổ chức phi chính phủ đặc biệt đề
cập đến một tổ chức tham gia vào “những hoạt động
hợp tác quốc tế” (kokusai
kyoryoku
katsudo
国際協力活動) (Shi-mizu 1999, tr.699). Trong
khi có thể thấy rõ ràng rằng những tổ chức phi
chính phủ là bộ phận tạo nên
một xã hội dân sự toàn cầu, mà điều luôn
cần thấy là một quốc gia phải phát triển hoạt
động xã hội dân sự của chính mình
trước khi có thể tham gia đầy đủ vào một xã hội quốc
tế. Việc hiểu khác thường này về tổ chức
phi chính phủ phần nào nói lên
không chỉ bản chất thứ yếu của những tổ chức
Phật giáo phi chính phủ trong xã hội dân
sự Nhật Bản, mà nói chung còn đề
cập đến cuộc đấu tranh của xã hội Nhật trong việc
phát triển một phạm vi công chúng tồn tại tách rời khỏi
nhà nước và những liên hệ của nó.
Thời
điểm phôi thai thứ hai cho những tổ chức
phi chính phủ Nhật Bản, đặc biệt
cho những tổ chức Phật giáo, là vụ động đất Hanshin khủng
khiếp vào năm 1995. Sự bế tắc
của những hội đoàn thuộc chính phủ
trong việc giải quyết thảm họa này đã dẫn
đến sự phát khởi công tác cứu tế lớn và tự
phát của dân chúng Nhật, bao gồm nhiều tổ
chức phi chính phủ “hoạt động
hợp tác quốc tế”. Qua việc nỗ lực tham gia vào
những hoạt động này, lần đầu tiên
trong một thời gian dài những tổ chức và tăng sĩ Phật giáo
đã cảm nhận sâu sắc hơn về truyền thống của họ, như
là những người điều hành xã hội dân sự. Bên
cạnh đó, sự gia tăng những tệ đoan xã hội
trong suốt thời kỳ trì trệ đã khiến cho những tổ
chức Phật giáo phi chính phủ nhạy
cảm hơn đối những vấn đề trong
nước khi họ vẫn tiếp tục công việc quốc tế
của mình. Điển hình cho điều này
là tổ chức Phật giáo phi chính
phủ Ayus, do một nhóm các tăng sĩ xuất sắc
của Tịnh Độ tông (Jodo-shu) và Tịnh
Độ Chân tông (Jodoshin- shu) thành lập.
Điểm
mốc thứ ba là sự ra đời Điều
luật dành cho Tổ chức phi lợi nhuận vào
năm 1998, xóa bỏ thuế cho những
người đóng góp quỹ. Bất cứ ai đến từ Tây phương
nơi mà việc làm như vậy đã trở thành tiêu
chuẩn sẽ bị sốc khi nhìn thấy một xã hội hiện
đại cao như Nhật lại thiếu luật định
đến vậy. Đây là một triệu chứng khác dẫn đến việc
phát triển chậm chạp một phong trào xã hội dân sự đích
thực, ít nhất là theo những tiêu chuẩn của Tây
phương. Bên cạnh thuật ngữ phi chính phủ, phi lợi nhuận
nói chung đã có một ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả những
hoạt động quốc tế và nội địa, nhưng trong
chừng mực nào đó hoạt động trong
nước có phần mạnh hơn. Một trong
những ảnh hưởng quan trọng của luật này
là nó đã mở rộng những khả năng tài chính của những
tổ chức Phật giáo phi chính phủ. Trước đây
nhiều tổ chức phi chính phủ trong số này đã liên
kết với một giáo phái Phật giáo
chính thức để duy trì sự ủng hộ tài chính cơ
bản, bây giờ chúng ít phụ thuộc vào nguồn thu
này. Lấy ví dụ tổ chức Phật giáo phi chính
phủ hiện có tên gọi là Hội tự nguyện Shanti (Shanti
Volunteer As- sociation). Hội này do bộ phái Thiền
Tào Động (Soto Zen) thành lập vào
năm 1980, với tên gọi đầu tiên là Uỷ ban cứu
tế Tào Động tông Nhật Bản, với mục đích cứu trợ những
người tị nạn Cam-bốt. Để tiếp tục phát triển, nó đổi
thành tên Hội Tình Nguyện Thiền Tào Động và trở thành
một trong những tổ chức phi chính phủ lớn nhất ở Cam-
bốt. Vào năm 1999, khi có vị trí
pháp lý mới là tổ chức phi lợi nhuận, nó đã đổi tên
thành Hội tự nguyện Shanti, mà rõ
ràng đã tách biệt nó khỏi những ràng buộc bộ phái hay
tôn giáo thường gây cản trở trong
việc giành lấy sự viện trợ tài chính của chính phủ cũng
như những tổ chức khác.
Sự
phát triển này đem lại cơ hội cho việc hợp nhất những
tổ chức Phật giáo phi chính phủ
thành một phong trào xã hội dân
sự không có chi phối từ những ảnh
hưởng bảo thủ của các giáo phái Phật giáo truyền thống.
Sự hòa nhập này có thể phổ biến sâu
rộng hơn lập trường đạo đức công
việc của họ. Tuy nhiên, nó cũng
mang theo mình nguy cơ về một
sự suy thoái sâu sắc hơn về
tính đồng nhất và hệ tư tưởng Phật giáo vốn
đã mỏng của những tổ chức này.
Như chúng ta đã thấy, một số
lớn trong họ vẫn chuyên tập trung
vào những hoạt động cứu tế mà chúng rất hạn chế
ở lãnh vực quốc tế. Để một phong trào Phật giáo nhập
thế có ảnh hưởng mạnh mẽ vào
sự phát triển xã hội dân sự bên trong Nhật Bản, những
tổ chức Phật giáo phi chính phủ
của Nhật cần phát triển một hệ phê bình xã hội duy nhất
được dựa trên những nguyên lý Phật giáo mà những Phật
tử nhập thế trong những quốc gia khác đã làm.
Sự
kiện ngày 11 tháng 9 và chiến tranh ở Iraq là một bước ngoặt
khác trong việc phát triển tổ chức Phật giáo
phi chính phủ. Đã có một làn sóng
rầm rộ kêu gọi hòa bình phát đi
từ tất cả những tổ chức Phật giáo
từ sau ngày 11 tháng 9. Tuy nhiên,
người ta cảm thấy rằng những tổ chức Phật
giáo không dẫn dắt xã
hội Nhật Bản mà chỉ đang cố theo đuổi
hoạt động hòa
bình
nhân đạo một cách chung chung. Sự
cấp bách tìm kiếm phương cách giải quyết
sự khủng hoảng này đã đưa đông đảo
những tổ chức Phật giáo đi đến xem
xét sâu sắc hơn về những gì
gọi là hòa bình, và kế đến, những khía cạnh tối quan
trọng thật sự của truyền thống Phật
giáo là gì mà chúng có thể giải quyết vũng lầy tư
tưởng hệ của trào lưu chính thống Hồi
giáo và chủ nghĩa dân tộc tôn giáo Hoa Kỳ. Đối với
các giáo phái Phật giáo truyền thống,
điều này trùng lặp với nỗ lực giải quyết khó
khăn trong chiến tranh. Nỗ lực này có thể
chứng kiến tại một buổi mít-tinh tổ chức vào
tháng 2-2004 ở Tokyo với tựa đề “Tìm kiếm
hòa bình cho hiện nay” (いま平和を求め
る) bao gồm những tổ chức tôn giáo,
trong đó gồm nhiều tổ chức Phật giáo mới
và truyền thống. Đây là một dấu hiệu lạc quan trong
việc phát triển một hệ tư tưởng phê bình đích thực dựa
trên Phật giáo và một quan điểm lập trường
đối với xã hội…
Kết
luận: Lộ đồ cho Phật giáo nhập
thế Nhật
Để
kết luận, tôi xin đưa ra một
bản phác thảo tổng quát về những thành
công và thách thức của phong trào Phật giáo nhập thế ở
Nhật Bản, điều mà tôi gọi là một
Phật giáo nhập thế đích thực.
Thực hiện điều này, tôi lại xin
đưa ra một sự liên hệ ở bên ngoài Nhật
Bản, phong trào của vị tăng người
Thái Phra Phaisan Visalo. Phra Phaisan là vị tăng dẫn đầu trong
lĩnh vực phát triển ở Thái Lan hiện nay bởi
những khả năng và hoạt động phi
thường của ông. Ở tuổi bốn mươi
thì ông đã có trên hai mươi
tuổi đạo. Tuy nhiên, trước khi thọ
giới, ông là một nhà hoạt động xã hội trong giới sinh
viên và là một người hoạt động cho
tổ chức phi chính phủ mà sự hiểu biết và kiến thức
của ông về những vấn đề xã hội rất đặc biệt thành
thạo. Ông thọ giới và tu học với một vị thiền sư nổi
tiếng mà đời sống tâm linh và những phẩm chất đạo
đức của vị này được người Thái
vô cùng kính trọng. Sau khi thọ giới, ông trở thành một
nhân vật dẫn đầu trong nhiều đề án
hoạt động xã hội, từ phát triển cộng đồng đến bảo
vệ môi trường và cả chống bạo lực. Cuối cùng, ông đã
viết một số bài viết và những quyển sách quan trọng
về hệ thống Tăng lữ Thái hiện tại và vai
trò của tôn giáo trong xã hội dân
sự. Cùng với giáo sư Nishikawa, ông
là người phát ngôn chính tại buổi
ra mắt Mạng lưới tổ chức Phật
giáo phi chính phủ vào tháng 7/2002.
Trong
buổi nói chuyện của mình, ông đã
phác thảo ra bốn lãnh vực mà ông nhận thấy rằng những
nhà hoạt động của Phật giáo Nhật
và những tổ chức phi chính phủ có thể phương tiện áp
dụng cho việc phát triển một xã hội dân sự. Bốn lãnh
vực này bao gồm:
1)
Viện trợ nhân đạo; 2) Hoạt động hòa bình; 3) Phê bình
hệ thống chính trị và xã hội hiện hành; và 4) “Phát triển”
an bình nội tâm và hạnh phúc tinh thần.
Tôi
nghĩ bốn lãnh vực này cung cấp cho chúng ta
một khuôn khổ tốt để có được sự đánh giá cuối
cùng về phong trào Phật giáo nhập thế
ở Nhật.
-
Viện trợ nhân đạo
Như
chúng ta đã thấy, đây là một
sức mạnh đặc biệt của những tổ chức
Phật giáo Nhật. Trong hơn 20 năm qua,
họ rõ ràng đã dùng một số vốn lớn từ nước
Nhật cho việc phát triển thế giới
trong tất cả mọi loại viện trợ nhân
đạo. Tất nhiên, có một số trong những viện trợ này không
được chi tiêu một cách khôn khéo. Tuy
vậy, những tổ chức Phật giáo phi chính
phủ đã rất ý thức trong việc
thực hiện viện trợ, biết nỗ lực phát triển những đề
án đào tạo nghề nghiệp đúng đắn thay thế việc cứu
trợ chung chung, như hỗ trợ huấn
luyện nghề thủ công truyền thống.
- Hoạt
động hòa bình
Đây
cũng là một vấn đề quan trọng xưa nay trong
những tổ chức Phật giáo. Tuy nhiên, như tôi đã
lưu ý, điều cần thiết ở đây
là nên thực tiễn hơn đối với thuật ngữ hòa bình, điều
được nói quá nhiều trong những
tổ chức Phật giáo. Công việc nhiệt tâm của nhóm nhỏ tăng
ni thuộc Nipponzam Myohoji là ủng hộ cho vấn đề này. Họ
đã đặt đoàn thể và đời sống của họ vào dân chúng
khắp nước Nhật và thế giới
trong những cuộc tuần hành hòa
bình của mình, và là nhân chứng hòa bình ở những nơi như
El Salvador, Cam-bốt, Sri Lanka và Trung Đông. Phra Phaisan xem những
hoạt động thích đáng, những nhân chứng và những nhà hoạt
động xã hội trong những vùng khác nhau
của thế giới như vậy có thể là một sự đóng
góp quan trọng của những Phật tử Nhật.
-
Phê bình hệ thống chính trị và xã hội hiện hành
Như
đã lưu ý, đây là một điểm yếu
của Phật tử Nhật, khi hầu hết họ đã chọn sự phê bình
thế tục do những tổ chức xã hội dân sự khác
khởi xướng. Một trong những phương
diện cốt lõi của sự phê bình
này, như Phra Phaisan lưu ý, bao
gồm việc phát triển những giá trị
mới và những mô hình mới đối với xã hội. Ở đây tôi
muốn đề nghị rằng, cần phải khơi
dậy lại những giá trị đạo đức Phật giáo như Ahimsa
(Không gây hại, không bạo lực, từ
bi, hòa hợp…) mà Galtung đã nhấn
mạnh, để giải quyết những vấn đề hiện đại và cung
cấp những chuẩn mực phổ quát nhằm đặt nền tảng
và thắt chặt xã hội Nhật lại
với nhau. Cơ sở để khơi dậy lại những
giá trị đạo đức Phật giáo phải bắt
đầu từ việc cải cách Phật giáo Tang lễ và mở rộng
sự thực hành Phật giáo vượt qua nghi lễ.
-
“Phát triển” an bình nội tâm và hạnh phúc tinh thần
Đây
là sự mở rộng của việc khơi dậy lại những chuẩn mực
đạo đức. Từ quan điểm Phật giáo,
để phê bình đúng đắn bản chất đạo đức
của một xã hội đòi hỏi phải có sự phân
tích có trí tuệ, nhưng cũng cần một sự truyền thụ tâm
lý tình cảm mà việc tu tập đem lại.
Lãnh vực này có lẽ là sự
đóng góp đặc biệt nhất và cốt
tủy nhất mà Phật giáo có thể
đem lại cho hoạt động xã hội
dân sự. Tuy nhiên, đây cũng là lãnh vực yếu kém
nhất của Phật giáo Nhật Bản hiện
nay, khi sự chi phối tài chính và thế
tục trong nhiều năm đã làm giảm đi giá trị đời sống
tâm linh của hầu hết những tổ chức Phật giáo Nhật.
Những
người tham gia vào hoạt động xã hội dân sự nếu có thực
hành tu tập sẽ có được tâm lý và tinh thần xả bỏ mà
chủ nghĩa nhân đạo thế tục không thể có được. Ví dụ,
năng lực thiền tập có thể giúp tập trung tốt hơn vào công
việc xã hội, tháo gỡ những quan điểm và lối hành xử
tai hại, gây chia rẽ, và đem lại sự tươi tỉnh khi đảm
nhận công việc xã hội lâu dài gian khổ.
Nguyên
Hiệp dịch
Tập
San Pháp Luân 48 tháng 2 năm Mậu Tý (2.7MB)
04-10-2008
11:44:55