Mục
Lục
Dẫn
nhập
Chương
1 Triết Thuyết MIMÀMSÏA (DI MAN TÁC)
Chương
2 Triết Thuyết SÀMÏKHYA (SỐ LUẬN)
Chương
3 Triết Thuyết YOGA (DU GIÀ)
Chương
4 Triết Thuyết VAISÙESÏIKA (THẮNG LUẬN)
Chương
5 Triết Thuyết NYÀYA (CHÍNH LÝ)
Chương
6 Triết Thuyết VEDÀNTA (PHỆ ĐÀN ĐA)
Phụ
Lục
DẪN
NHẬP
Nghiên
cứu về triết học Ấn Độ, chúng ta thấy rằng, không phải
vì sự nhận định hay công nhận của toàn thể học giả,
duy chỉ là do dựa vào ý kiến của một số đông mà triết
học Ấn Độ được chia làm 6 phái. Danh từ Sïadïarsùana
là chỉ cho 6 phái triết học, tức 6 tư tưởng hệ của 6
triết thuyết được kể như sau: Pùrva-Mìmàmïsà (tiền Di
Man Tác), Sàmïkhya (Số Luận), Yoga (Du Già), Vaisùesïika (Thắng
Luận), Nyàya (Chánh Lý) và Vedànta (Phệ Đàn Đa).
Tuy
chia làm 6, nhưng kỳ thực tư tưởng hệ của 6 phái triết
học này có nhiều điểm trùng hợp nhau. Theo bộ Trung Quán
Tâm luận cho biết, luận sư Thanh Biện (Bhàvaviveka) đã vạch
ra những điểm trùng hợp của các triết thuyết này, như:
nhiều tư tưởng hệ của Sàmïkhya lại nằm ở trong Yoga,
hay của Vaisùesïika lại nằm cả ở nơi Nyàya. Chính vì lý
do này, trong bộ Trung Quán Tâm luận, Thanh Biện đã phủ nhận
sự hiện diện của 6 phái triết học trong ngôi nhà Triết
học Ấn Độ.
Nguyên
do khiến Triết học Ấn Độ không phân biệt rõ ràng sự
khác biệt giữa 6 triết thuyết, phần lớn do Vàcaspati Misùra
gây nên. Chỉ một mình nhân vật này vừa san định, vừa
trước tác, vừa chú thích kinh điển của cả 6 phái nên không
làm sao tránh khỏi sự trùng hợp. Với triết thuyết Sàmïkhya,
ông viết bộ Sàmïkhya-tattva-kaumudi; với triết thuyết Yoga,
ông viết bộ Tattvavaisùàradì để giải thích lại ý nghĩa
bộ Yoga sùtra của Vyasa; với triết thuyết Nyàya, ông dựa
vào bộ Nyàyavarttika của Uddyotakara rồi viết ra bộ Nyàyavarttika-tatparya-tika;
với Mimàmïsà, ông viết bộ Nyàyakanïikà để giải thích
bộ Viddhiviveka của Manïdïanammisùra; với Vedantà, ông viết
bộ Bhàmatì để giải thích bộ Vedànta chú giải của Sanïkara.
Như vậy, trong 6 phái triết học Ấn Độ, riêng về kinh điển
của triết phái Vaisùesïika là không bị bàn tay của Vàcaspati
Misùra nhúng vào mà thôi.
Một
dẫn chứng rõ ràng là khi Vàcaspati Misùra viết bộ Nyàyavarttika-tatparya-tika
cho triết thuyết Nyàya, ta thấy có nhiều điểm tương đồng
rất đậm đà với triết thuyết Vaisùesùika. Bởi vì sự
trùng hợp này, hậu đại đã phủ bác sự phân chia triết
học Ấn Độ ra làm 6 phái, mà lỗi chính vì Vàcaspati Misùra
đã không đủ sức tạo cho mỗi triết thuyết một sắc thái
độc đáo riêng biệt. Ông chỉ có một cái công duy nhất
là mạch lạc hóa tư tưởng hệ của mỗi triết thuyết và
chia nó ra thành mấy đầu dây, thế thôi. Do sự thể này khiến
6 phái triết học Ấn Độ dù đã được phân chia, nhưng chúng
cứ vẫn triền miên nằm chung trong một hệ thống tư tưởng.
Vàcaspati
Misùra sinh năm 800 và mất vào khoảng 870. Sở dĩ có danh từ
“Sáu phái Triết học Ấn Độ” cũng chính là do ông đặt
lấy; sự việc này được ghi trong chương Nyàya-Sùcì-Nibhanda
của bộ Nyàya-sùtra, do ông biên soạn vào năm 841 Tây lịch.
Ngoài
ra, sự sắp đặt 6 phái triết học Ấn Độ không được
thống nhất. Như bộ Astasahasari của Vidyananda trong phái Anga
(Bạch Y) thuộc Jaina (Kỳ Na giáo) viết vào khoảng năm 800,
thì không sắp triết thuyết Nyàya vào 6 phái, mà Phật giáo
lại được đặt thay ở đây. Đến học giả Haribhadra, thuộc
thế kỷ thứ IX, trong phái Anga của Jaina giáo, khi viết bộ
Sáu phái triết học tập (Sadïdarsùana-Samuccaya) thì 6 phái
triết học gồm có trước hết là Phật giáo, rồi đến Nyàya,
Samïkhya, Jaina, Vaisùesika và Mimàmïsà.
Lịch
sử hình thành sáu phái Triết học Ấn Độ còn nhiều, nhưng
với vài dòng giới thiệu đơn giản này cũng đủ để chúng
ta có một khái niệm về sự tổ chức của 6 triết thuyết
mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau này.
Phật
lịch 2546 - 2002
THÍCH
MÃN GIÁC
Người
gửi: Tâm Hòa