Ngày
08 tháng 08 năm 2000
Ngày
thứ năm ở Bồ Ðề Ðạo Tràng, buổi sáng tôi sắp xếp
thứ tự đi một vòng bảy trụ đá kỷ niệm, những trụ
đá này ghi nhận những nơi Ðức Phật nhập định hoặc kinh
hành sau khi chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác:
Trụ
đá đầu tiên gọi là BODHI PALLANKA, nằm bên cạnh cội Bồ
đề linh thọ: Kỷ niệm tuần lễ đầu tiên sau khi thành
Ðạo, Ðức Phật đã ngồi thiền định dưới cây Bồ đề
để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát. Trong đêm cuối cùng
Ngài đã suy nghiệm và thấu hiểu lý duyên khởi. Theo cuốn
"Ðức Phật và Phật pháp" của ngài Narada Thera: "Suốt thời
gian bảy ngày đầu tiên sau khi thành Ðạo, Ðức Phật ngồi
không cử động dưới tàng caây Bồ đề để chứng hạnh
phúc giải thoát (Vimutti Sukha). Trong đêm cuối tuần Ngài xuất
thiền và suy niệm về "Thập nhị Nhơn Duyên" (Paticca Samuppada)
theo chiều xuôi...Khoảng canh giữa trong đêm, Ðức Phật suy
niệm "Thập nhị Nhơn Duyên" theo chiều ngược... Ðến canh
ba, Ngài suy niệm về sự "Tùy thuộc phát sanh" theo chiều xuôi
và chiều ngược." [1]
Trụ
đá thứ nhì gọi là ANIMESA LOCANA, trụ này nằm bên tháp nhỏ
có tên Animesalocana Cetiya, do vua A Dục xây để ghi nhận nơi
Ðức Phật đứng trong tuần thứ hai (từ cổng nhìn vào Ðại
Tháp, tháp Animesalocana Cetiya nằm bên tay phải, trên vòng lớn
quanh tháp): Tuần lễ thứ hai là thời gian Ðức Phật đứng
một khoảng xa chăm chú nhìn cây Bồ đề, để tỏ lòng biết
ơn cây Bồ đề đã che mưa nắng cho Ngài suốt thời gian thiền
định để đạt quả vị tối thượng. Theo ngài Narada
There thì: "Tuần lễ thứ nhì trải qua một cách bình thản,
nhưng trong sự yên lặng ấy Ðức Phật đã ban bố cho thế
gian một bài học luân lý quan trọng. Ðể tỏ lòng tri ân
sâu xa đối với cây Bồ đề vô tri vô giác đã che mưa đỡ
nắng cho Ngài suốt thời gian chiến đấu với nội tâm cùng
ngoại cảnh để thành đạt Ðạo quả, Ngài đứng cách một
khoảng xa chăm chú nhìn cây Bồ đề không nháy mắt".
Trụ
đá thứ ba gọi là CANKAMANA, nằm ngay bên cạnh Ðại Tháp
(tay phải): Thấu rõ tâm niệm chư Thiên nghi ngờ Ngài chưa
chứng Ðạo, Ngài đã dùng oai lực thần thông tạo ra một
đường kinh hành bằng ngọc và kinh hành trên ấy trọn tuần
lễ thứ ba. "Vì Ðức Phật không rời nơi trú ngụ mà
vẫn quanh quẩn bên cội Bồ đề, nên chư Thiên lúc bấy giờ
nghi ngờ "không biết Ngài đã đắc quả Phật chưa?". Ðức
Phật đọc được tư tưởng ấy, Ngài dùng oai lực thần
thông tạo một "đường kinh hành quý báu" (Ratana cankamana,
đường kinh hành bằng ngọc) và kinh hành trên ấy cả tuần."
Theo Ðức Phât và Phật pháp.
Trụ
đá thứ tư gọi là RATANAGHARA, nằm cách trụ Cankamana khoảng
25 mét về hướng Tây-Bắc: Kỷ niệm nơi đây tâm và thân
của Ðức Phật phát ra một vầng hào quang sáu màu khi Ngài
suy nghiệm về (những điểm phức tạp) Tạng luận cao siêu.
Mà theo ngài Narada Thera thì: "Trong tuần lễ thứ tư, Ðức
Phật ngụ trong "Bảo cung"[2]
(Ratanaghara, cái phòng bằng ngọc) để suy niệm những điểm
phức tạp của Tạng Luận (Abhidhamma, giáo lý cao siêu). Kinh
sách ghi nhận rằng: khi Ngài suy tưởng về lý "Nhơn quả tương
quan" (Patthana), quyển khái luận thứ bảy của Tạng Luận,
tâm và thân Ngài trở nên hoàn toàn tinh khiết, phát ra một
vầng hào quang sáu màu (xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam và
hỗn hợp năm màu trên pha lẫn)."
Trụ
đá thứ năm gọi là AJAPALA NIGROPHA TREE, nằm ngay lối vào
Ðại Tháp, bên cạnh một trụ đá nhỏ của Vua A Dục: Tuần
lễ thứ năm Ðức Phật thiền định dưới cội Ajapala chứng
nghiệm hạnh phúc giải thoát. Nơi đây Ngài đã trả lời
một vị Bà la môn về, những điều kiện để trở thành
Thánh nhân. Mà ngài Narada Thera chép rằng: "Tuần thứ năm,
Ðức Phật lại ngồi dưới cội Ajapala trứ danh, chứng nghiệm
hạnh phúc giải thoát (Vimuttisukha). Vào cuối tuần, khi Ngài
xuất ra khỏi trạng thái siêu thế ấy, có một gã Bà la môn
ngã mạn đến gần chào hỏi theo lễ nghi rồi nói: "Này Tôn
giả Cồ Ðàm, đứng về phương diện nào ta trở thành một
thánh nhân (Brahmana) và những điều kiện nào làm cho ta trở
thành thánh nhân?". Bấy giờ để trả lời, Ðức Phật liền
đọc bài kệ: "Người đã xa lánh mọi điều xấu xa tội
lỗi, không còn ngã mạn, đã thanh lọc mọi ô nhiễm, thu nhiếp
sáu căn, thông suốt các pháp học và đã chơn chánh sống
đời phạm hạnh thiêng liêng, người ấy được coi là thánh
nhân. Ðối với người ấy không còn có sự bồng bột, dù
ở nơi nào trên thế gian" (Theo Udana, phần I)."
Trụ
đá thứ sáu gọi là MUCALINDA LAKE[3],
nằm ngay trước hồ Cá trong khuôn viên Ðại Tháp, cách Ðại
Tháp 40 mét về hướng Nam: Kỷ niệm nơi Mãng xà vuơng uốn
mình che quanh Ðức Phật dưới cội Mucalinda bảo vệ Ngài
tránh khỏi mưa to gió lớn. Ðể nói về điều này, ngài
Narada Thera viết: "Từ cây Ajapala Ðức Phật sang qua cây Mucalinda
và ngụ tại đây một tuần nữa để chứng nghiệm hạnh
phúc giải thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to kéo đến,
trời sẩm tối dưới lớp mây đen nghịt và gió lạnh thổi
suốt nhiều ngày. Lúc ấy Mucalinda, Mãng xà vương từ ổ chui
ra uốn mình quấn xung quanh Ðức Phật bảy vòng và lấy cái
mỏ to che trên đầu Ngài, nhờ vậy mà mưa to gió lớn không
động đến thân Ðức Phật. Ðến cuối ngày thứ bảy, trời
quang mây tạnh trở lại Mucalinda tháo mình trở ra bỏ hóa
thân rắn biến thành một thanh niên chắp tay cung kính đứng
trước Phật."
Trụ
đá thứ bảy gọi là RAJAYATANA, nằm cách cội Bồ Ðề 15
mét về hướng Ðông-Nam: Tuần cuối, Ðức Phật chứng
nghiệm hạnh phúc giải thoát dưới cội Rajayatana. Sau đêm
đắc quả vô thượng, Ngài khẳng định sự chiến thắng
tinh thần vẻ vang. Ngài Narada Thera viết: "Vào tuần thứ
bảy, Ðức Phật bước sang cội cây Rajayatana và ở đó chứng
nghiệm "Quả phúc giải thoát". Dưới cội Rajayatana này, Ðức
Phật đã nhận sự cúng dường (cháo mạch và mật ong) từ
hai người tiểu thương có tên laø: Tapussa và Bhallika, trên
đường từ Ukkalà (thuộc Orissa ngày nay) đến Ràjagaha để
buôn bán.
Mỗi
trụ đá cao khoảng 2.7m, phần trên mỗi trụ là một bảng
đá hình chữ nhật có các chiều dài, ngang và dày là: (1.0m
x 0.8m x 0.2m), trên những bảng đá này người ta khắc một
mặt bằng chữ Hindi, mặt bên kia là tiếng Anh. Xin ghi lại
nơi đây bảng tiếng Anh trên những trụ đá ấy, theo thứ
tự lần lượt sau:
"BODHI
PALLANKA (The place of enlightenment). Prince Siddhattha attained Buddhahood
(Full enlightenment) in the year 623 B.C on the Vaisakha full moonday sitting
under this Peepul (Bodhi) tree. The Vajrasana or the Diamond throne which
is under this Bodhi tree is the central place of worship".
"ANIMESA
LOCANA (The place of unwinking gazing). After enlightenment Lord Buddha
spent the second week in meditation here gazing unwinking at the Bodhi
tree".
"CANKAMANA
(Cloister walk). Lord Buddha spent the third week here walking up and down
in the meditation. On the platform lotuses indicate the places where the
Lord’s feet rested while walking".
"RATANAGHARA
(The place of basic contemplation). Lord Buddha spent the fourth week here
in meditation rylecting on the Patthana or the causal law".
"AJAPALA
NIGROPHA TREE (Panyan Tree). Lord Buddha spent the fifth week under this
tree in meditation after enlightenment. Here he replied to a Brahmana that
only by one’s deeds one becomes Brahmana, not by birth".
"MUCALINDA
LAKE (The abode of snake king). Lord Buddha spent the sixth week in meditation
here. While he was meditating severe thunder storm broke out. To protect
him from the violent wind and rain even the creatores came out for his
safety".
"RAJAYATANA
(A kind of forest tree). After enlightenment, Lord Buddhha spent the seventh
week here in meditation. At the end of meditation, two merchants - Tapussa
and Bhallika offered rice cake and honey to the Lord and took refuge-Buddham
saranam gacchami, Dhammam saranam gacchami (Sangha was not founded then)".
Tôi
nhờ một anh chàng Ấn Ðộ chụp dùm cảnh tôi đứng trước
các trụ đá nói trên để làm ảnh tư liệu, nhưng tác phẩm
của nhiếp ảnh gia "chưa bao giờ qua trường lớp" kia chỉ
là những tấm ảnh lấy sai nét, nhìn mọi vật lờ mờ chẳng
giống cái gì cả. Buổi trưa hôm ấy như đã hẹn, thầy trò
chúng tôi đến khách sạn Uruvela International dùng bữa cơm
trưa do chị Diệu Huệ mời. Nói là cơm trưa, nhưng hôm ấy
chị Diệu Huệ trỗ tài nấu nướng làm món bún xào đặc
sản của Ý, với tôi lần đầu tiên được nếm món đặc
sản lạ lẫm này kể ra cũng lạ miệng, thế là... (cười)
Chiều
hôm ấy, Sư Giác Ngôn điện thoại lên chùa Ðài Loan, báo
khóa học của tôi sắp đến ngày khai giảng, chú cháu tôi
phải về lại Delhi để giải quyết một số công việc có
liên quan đến việc học, cũng như chỗ ở và lại càng nôn
nóng hơn với sứ mạng một người đang cầm những Thiệp
thỉnh dự Ðại lễ trưng bày xá lợi Phật "Bauddha Mahotsa
2000" trong tay. Như đã thỏa thuận, tôi chịu vé tàu
chuyến đi, Sư thúc lo phần vé về. Không hiểu vì sao hôm
ấy tất cả những chuyến tàu thường từ Gaya về Delhi không
còn một vé, anh chàng phụ tá chùa Miến Ðiện báo cáo chỉ
còn hai vé của tàu hạng sang, Sư thúc đành phải ngậm ngùi
"móc bóp" 2380Rs (hơn 50$US) cho hai chiếc vé loại tàu BBS RAJDHANI
EXP[4].
Ở Ấn Ðộ tàu hỏa chia thành nhiều hạng với nhiều giá
khác nhau: hai loại tàu BBS Rajdhani Exp và BBS Satabdhi Exp thuộc
hạng sang chạy nhanh và đúng giờ nhất, còn các loại tàu
thuộc họ "Express" (tốc hành) thì ghé khá nhiều ga nhỏ (trạm)
giống như những "tàu chợ" ở Việt Nam... 4 giờ chiều, Sư
thúc mua hai mâm lễ phẩm dâng lên cúng Phật: một của Thầy,
một của Sư Giác Ngôn gởi nhờ mua dâng lên giúp. Với túi
tiền của sinh viên, tôi chỉ đủ mua mười mấy chai Pepsi
cúng dường chư Tăng trong tháp hôm ấy, cùng dâng một ít
"tịnh tài" cúng dường một vị sư Tây Tạng...Tôi muốn làm
một điều gì đó gởi lại quý Thầy, các vị Sư hàng ngày
vẫn kiên nhẫn hành trì nơi đây, nhưng "lực bất tòng tâm"!
Có đến đây, mới thấy sự miệt mài, nhẫn nại, bền tâm
vững chí của chư Tăng và Phật tử, những người đã vứt
bỏ cuộc sống "phồn hoa đô hội", gạt đi những lời mời
gọi của "lợi, danh"...để đến Bồ đề Ðạo tràng dâng
lên Ðức Phật tấm lòng thành kính, để bước theo tiếng
gọi của tâm linh và tìm lại chính mình!
Tối
hôm ấy, thầy Từ Phát không vui như mọi ngày khi nghe chú
cháu tôi từ giã trở về Delhi vào hôm sau. Những ngày ở
Bồ Ðề Ðạo Tràng, Thầy hay tâm sự với chúng tôi những
buồn vui trong cuộc đời, ngay cả những việc rất riêng của
gia đình. Thầy nói từ ngày đến Bồ Ðề Ðạo Tràng thầy
chỉ sống trong cái thế giới âm thầm không ngôn ngữ, cho
đến khi chú cháu tôi đến xin ở trọ, có ai hiểu thầy nói
gì đâu, chính sự khác biệt ngôn ngữ đã làm Thầy cảm
thấy ngày một xa dần nơi mình đang sống. Tôi chào thầy
chuẩn bị thu dọn hành lý và đi ngủ sớm. Lại một đêm
nữa tôi bị "tra tấn" bởi cái máy phát điện ầm ĩ của
chùa Trung Quốc...
Chú
thích
1.
Nếu muốn rõ thêm, xin đọc phần "Sau khi thành Ðạo" trong
cuốn "Ðức Phật và Phật pháp", Phạm Kim Khánh dịch, Thành
hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1991, từ tr. 64 – 71).
2.
Theo ngài Narada lý giải: Phải gọi như vậy, vì lúc ấy Ðức
Phật suy niệm về phần quý báu của Tạng Luận.
3.
Theo một số người cho rằng, hồ Mucalinda hiện nay không đúng
với hồ Mucalinda nguyên thuỷ, vị trí hồ Mucalinda nguyên thủy
nằm cách hồ Mucalinda ngày nay 2 cây số về hướng Tây-Nam.
4.
Ở Ấn Ðộ giá vé tàu cho du khách nước ngoài và dân bản
xứ đều một giá như nhau, không như ở Việt Nam và một
số nước: người mang quốc tịch nước ngoài phải trả thêm
một số tiền khá cao so với người bản xứ. Ở Ấn Ðộ
việc bán vé tàu, xe cũng ưu tiên cho những du khách nước
ngoài: Ở ga New Delhi có một phòng bán vé dành riêng cho khách
nước ngoài gọi là "International Tourist Bureau", để tránh trường
hợp phải chen lấn khi mua vé (người bản xứ không được
mua vé ở đó).
