Ngày
07 tháng 08 năm 2000
Sáng
hôm sau, hai chú cháu tôi ra tháp thật sớm. Vì tôi phát nguyện
phải lạy "tam bộ nhất bái" một vòng lớn quanh tháp trước
ngày trở về Delhi. Buổi sáng, những lối đi bằng đá còn
mát lạnh, hít thở không khí trong lành, lại thấy người
phụ nữ âm thầm đem thức ăn cho kiến, sóc, khỉ, cá.v.v.
Tôi lên hồ Mucalinda một lần xem có vị tu sĩ Ấn giáo nào
tắm và dâng nước cúng thần mặt trời không. Tất nhiên
là không, vì chẳng ai có đủ can đảm đưa mình xuống dòng
nước đen nghịt và lũ cá dữ tợn, đói ăn. Tôi lạy được
một phần ba đường thì thở phì phò, phần thì vác chiếc
máy ảnh nặng cồng kềnh trên lưng, phần thì sợ kiến...Ban
đầu chỉ bước mỗi bước 4 tấc, sau mệt quá có khi bước
dài cả thước, thấy vậy một vị sư Tây Tạng cầm hộ
cái máy chụp hình, một phần gánh nặng như được trút,
tôi lại lạy được hai phần ba quãng đường, trong khi Sư
thúc tôi đã thong dong "về đích". Tôi gắng sức nhưng cũng
chỉ được mười mấy thước...rồi thôi, hẹn lòng chiều
sẽ thực hiện tiếp. Hai thầy trò lại vào tháp tụng thời
kinh sáng.
Theo
dự định, chúng tôi đến một nơi cách đại tháp khoảng
năm cây số, một dự án khá lớn do Trung Tâm Bảo Tồn Truyền
Thống Ðại Thừa (The Foundation for the Preservation of the Mahayana
Tradition, viết tắt là FPMT) đang kiến thiết và thực hiện
xây dựng trên một khuôn đất rất rộng 45 mẫu Anh[1];
gọi là "THE MAITREYA PROJECT" (Công
trình Di Lặc) "A symbol of loving kindness for the new millennium"
(biểu tượng của lòng nhân từ cho thiên niên kỷ mới). Người
ta định xây dựng một tượng Phật Di Lặc bằng đồng cao
152.4 mét (500 feet) theo mô hình Tây Tạng, đặt ở giữa khu
đất; xung quanh là các khu vực: tu viện, trường học, bệnh
viện, nhà nghỉ, buôn bán-mua sắm, ngân hàng, sân vận động
thể thao, các bãi đậu xe, đặc biệt là ngôi Ðại sảnh
chính cao 17 tầng có sức chứa 5000 người và hàng vạn bức
tượng đồng lớn nhỏ đặt khắp nơi.v.v. tất cả được
trình bày theo một mô hình lớn trong văn phòng triển lãm,
mô hình của một trung tâm văn hóa hiện đại bậc nhất.
Có khá nhiều tượng đức Di Lặc được trưng bày trong phòng
triển lãm, hầu hết các tượng đều rất đẹp đến từ
nhiều nước khác nhau (tượng ngài Di Lặc do nghệ sĩ các
nước thể hiện). Với hy vọng rằng Công
trình Di Lặc sẽ là một kiệt tác đóng góp vào danh
sách những kỳ quan thế giới và trở thành tượng Phật đồng
lớn nhất xưa nay[2],
hội FPMT sẽ kết hợp cả hai nền nghệ thuật truyền thống
và hiện đại cho việc xây dựng bức tượng cao 152,4 mét
bằng đồng màu vàng này. Bức tượng được chọn làm mẫu
do Lama Zopa Rinpoche cùng hai mỹ thuật gia Peter Griffin và Denise
Griffin thiết kế. Peter Griffin và Denise Griffin là hai phật tử
Tây phương, tốt nghiệp chuyên nghành mỹ thuật tạo hình
tại "Camberwell School of Arts and Crafts, London" (Trường Mỹ Thuật
Camberwell, Luân Ðôn). Lama Zopa Rinpoche hiện là người chỉ
đạo nghệ thuật và hướng dẫn thi công coâng trình đã cùng
Peter và Denise tiến hành tạo mẫu bức tượng này bắt đầu
từ tháng 5 năm 1997, dưới sự cố vấn nghệ thuật của nhà
điêu khắc người Tây Tạng, có tên Chemo La. Ban đầu tượng
được thiết kế tại "Shakyamuni Center, Taichung, Taiwan R.O.C"
(Thích Ca Mâu Ni Trung Tâm, Ðài Trung - Ðài Loan); đến tháng
12 cùng năm Peter Griffin bắt đầu tạo kim tòa của bảo tượng,
dưới sự hỗ trợ của kiến trúc sư Salim Lee, người Ðài
Loan. Giữa năm 1998, vì điêu khắc gia Chemo La tuổi đã lớn,
nên khó khăn trong việc đi lại. Tôn tượng được dời về
Kathmandu, thủ đô Népal - nơi điệu khắc gia Chemo La đang lưu
trú - để tiếp tục hoàn thành. Tại Kathmandu, Népal mọi chi
tiết tôn tượng như: khuôn mặt, y phục, tư thế tay bắt
ấn, chân, đài sen... được thiết kế một cách hoàn hảo.
Ðến tháng 8 năm 1998, các kỹ sư đưa tôn tượng sang Hoa kỳ
để phân tích những chi tiết kỹ thuật, đưa các dữ liệu
và thông số kỹ thuật vào máy vi tính. Giữa tháng 9 năm 1998,
tượng được đưa đến thành phố Salt Lake, để Peter Griffin
và Denise Griffin hoàn thành công đoạn cuối trước khi công
trình tại Bồ đề Ðạo tràng thi công.
Bên
trong bức tượng người ta sẽ thiết kế ngôi Bảo Ðiện
phụng thờ xá lợi của đức Phật Thích Ca, các vị Thánh
Tăng cùng những bậc Ðại sư tên tuổi, ngoài ra ngài Chenrezig
thiên thủ thiên nhãn, 21 vị Quán Thế Âm Bồ tát, 16 vị A
La Hán, đức Lama Thubten Yeshe.v.v. cũng sẽ được thờ ở đó.
Ước đoán kinh phí cho công trình này lên đến 150.000.000 Mỹ
Kim ($US), với thời gian thực hiện khoảng hơn 10 năm, và tuổi
thọ của bức tượng này ước khoảng hơn 1000 tuổi. Khu vực
này được canh gác khá nghiêm cẩn, có rất nhiều bảo vệ
trang bị súng, mặc binh phục hẳn hoi đứng khắp nơi...
Như
đã hẹn với vị sư Thái Lan, chúng tôi phải đến chùa Thái
sau lưng tháp Ðại Giác dùng bữa cơm trưa. Ở khu vực Bồ
Ðề Ðạo Tràng, người Thái xây dựng hai ngôi chùa của hai
hệ phái Phật giáo Nam truyền khác nhau. Khác với ngôi chùa
Thái gần khu vực chùa Nhật Bản, ngôi chùa này không có những
mái cong cầu kỳ, mạ vàng công phu, chỉ là những dãy nhà
đơn sơ, mang tính chất giản dị miền quê. Số lượng chư
Tăng cư trú ở đây tương đối đông hơn các chùa khác ở
khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng, phật tử Thái ở đây cũng khá
đông. Bữa cơm hôm ấy làm tôi nhớ mãi, thầy trò chúng tôi
chỉ dùng cơm trắng và nửa cái bánh chưng ngọt của người
Thái, trước mắt chúng tôi là những "món ngon vật lạ" sắp
đặt khắp bàn: vịt quay, cá khô, thịt hộp xuất khẩu từ
Thái... vì các vị sư Thái không ăn chay như quý Thầy ở Việt
Nam. Dùng xong phần cơm trưa, vị sư quản lý mời chúng tôi
uống trà và đi thăm một vòng các nơi trong chùa. Ðến 1 giờ
45, chú cháu tôi tạm biệt quý sư Thái Lan, để sang trụ sở
của Hội Ðại Bồ đề Ấn Ðộ (Mahabodhi Society of India):
một tổ chức có tầm vóc tương đối lớn ở Ấn Ðộ, được
thành lập bởi Anagarika Dharmapala, nhằm mục đích kêu gọi
hỗ trợ công cuộc tu sửa lại Bồ Ðề Ðạo Tràng, vận
động- chỉ đạo phong trào chấn hưng Phật giáo tại Ấn
Ðộ. Hội Ðại Bồ đề Ấn Ðộ nằm cách khuôn viên tháp
chếch về phía tay trái không xa lắm (bên cạnh chùa Tây Tạng
phái Gelukpa– nơi ngài Dalai Lama thường về trú ngụ), cơ
sở này được cai quản bởi các vị sư Tích Lan. Như đã
hẹn một ngày trước dó, Thầy trò chúng tôi đến chùa gặp
Thượng tọa M.Wimalasara Thera- Tổng thư ký Hội Phật giáo
Quốc tế tại tiểu bang Bihar, ẤN ÐỘ- nhận và chuyển một
số thiệp thỉnh chư Tôn Ðức ở tỉnh Bình Ðịnh sang dự
Ðại lễ trưng bày xá lợi Phật "Bauddha Mahotsa 2000"
(diễn ra từ 6-10/11/2000 tại Bồ Ðề Ðạo Tràng). Hôm ấy,
từ Tích Lan một đoàn bạch y cư sĩ nữa cũng vừa sang lưu
trú, được biết đây cũng là nơi những khách hành hương
thường hay đến trọ (đặc biệt ưu tiên cho các đoàn hành
hương đến từ Tích Lan). 4 giờ chiều, tôi trở lại tháp
tiếp tục thực hiện lời phát nguyện "tam bộ nhất bái"
một phần ba vòng lớn quanh tháp còn lại ...
Chú
thích
1.
Một mẫu Anh bằng 4046 mét vuông.
2.
Tôn tượng Di Lặc tại Bồ đề Ðạo tràng cao đến 152,4
mét, trong khi đó biểu tượng nước Mỹ - tượng Nữ thần
Tự do tại Nữu Ước - chỉ 46 mét.
