Ngày
06 tháng 08 năm 2000
5
giờ sáng, tôi đã chuẩn bị xong những vật dụng cần thiết
cho chuyến đi lên Na Lan Ðà. 6 giờ, hai chú cháu tôi điểm
tâm sớm, rồi lại ra tháp Ðại Giác tụng thời kinh. Hôm
ấy, hai thầy Quảng Trí và Thông Lý cũng ra tháp lạy Phật
sớm, hai chú cháu tôi mời hai thầy cùng đi. Bốn người đều
nhất trí thực hiện theo phương án chú cháu tôi đề ra. Tuy
nhiên, chúng tôi lại gặp phải trở ngại trong việc thuê
xe đi Na Lan Ðà: Trong mắt của những anh chàng tài xế vùng
này, chúng tôi -những người ngoại quốc- là những con mồi
hết sức béo bở, thay vì như tôi được biết giá thuê mỗi
chiếc xe (5 người) cho tuyến đường ấy cao nhất là 450Rs,
thì các chàng này dưới sự quản lý của một tay trùm nào
đó đều nhất loạt "1200Rs only, Sir" (chỉ 1200 Rubi thôi, thưa
ông)... Vâng, họ đã lầm! Chúng tôi quyết định dời chuyến
đi vào một dịp khác, quyết định này một phần xuất phát
từ túi tiền hạn hẹp của sinh viên, phần khác để họ
-những anh tài xế ở Bodhgaya- biết rằng "người Việt không
phải là những người dễ dàng chui vào tròng, đưa cổ cho
họ cứa", và những lần sau nên đối xử "tử tế" hơn với
người Việt Nam.
Thầy
Quảng Trí trở lại Ðại tháp, thầy Thông Lý về Việt Nam
Phật Quốc Tự, hai chú cháu tôi quyết định qua ngôi làng
nàng Su Dà Ta (Sujata) lịch sử. Có hai cách để đến được
làng nàng Su Dà Ta: thuê xe đi vòng qua một chiếc cầu (chiều
dài khoảng 1000 mét) cách tháp Ðại Giác khoảng chừng 2 cây
số, rồi đi ngược lên khoảng 2 cây số nữa; cách thứ hai
là lội bộ qua con sông Ni Liên Thiền vào những mùa nước
cạn. Ban đầu tôi chọn phương cách thứ nhất, vì từ ngày
sang Ấn Ðộ bệnh thấp khớp của tôi tái phát, những ngày
ở Bồ Ðề Ðạo Tràng chân tôi dường như không còn nhấc
lên nổi sau những lần "cố hết sức" vừa đi vừa chạy
theo đôi chân "Thần Hành Thái Bảo" của Sư thúc, nhưng cuối
cùng tôi phải đồng ý cách thứ hai mà Sư thúc lý luận nghe
hữu lý. Hơn nữa, khi còn đang tiến hành thủ tục xuất cảnh
ở Việt Nam, tôi ao ước rằng: đến một ngày nào đó, tôi
sẽ đến Bồ Ðề Ðạo Tràng bằng xương bằng thịt, để
được tận mắt chiêm ngưỡng, tận tay nhặt những chiếc
lá từ "Bồ Ðề Linh thọ"- nơi mà vào một đêm năm 528 trước
công nguyên- bậc vương giả Tất Ðạt Ða đã trở thành "Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni lịch sử", đến Bodhgaya để được lội
qua những dòng nước mát của Ni Liên. Tất cả những ước
nguyện ấy, giờ đây đã trở thành sự thật!
Sông
Ni liên Thiền nằm ở phía nam cách tháp Ðại Giác chừng 250
mét, ngày nay người ta gọi sông này là sông Lilajan, theo một
số tài liệu cho rằng trong các bản văn cổ Pàli con sông
này có nhiều tên gọi khác nhau: Verạna, Neranja, Nerangara...(Nairanjana,
Niranjana là tiếng Sanskrit, dịch là Ni Liên Thiền). Ðoạn sông
Ni Liên Thiền từ Ðại tháp qua đến làng nàng Su Dà Ta có
bề rộng khoảng 1000 mét, khi chúng tôi lội qua con sông này
nước dưới sông gần như khô cạn, chỗ nước sâu nhất
cũng chỉ tới đầu gối. Trời nắng, tôi vừa lội vừa nhìn
xuống chân, cát trắng lấp lánh như những ánh vàng, trông
rất đẹp. Lâu lắm rồi tôi mới có dịp được lội sông
như thế này, lội qua những dòng nước mát trong vắt. Nhớ
hồi còn nhỏ, nhà tôi cách con sông Hà Thanh khoảng 1500 mét,
tôi không biết vì sao người ta đặt tên nó là Hà Thanh, nhưng
nước của con sông trong lắm, cát dưới sông cũng trắng tinh.
Trường học của tôi nằm bên cạnh một ngôi chùa uy nghiêm
cổ kính, con sông chỉ cách lớp học vài chục mét. Những
ngày cô giáo không đến lớp, tôi cùng chúng bạn rủ nhau
lội ngang qua con sông, vừa đi vừa lấy mũ vớt mấy con cá
nhỏ xíu, vui lắm! Rồi không hiểu vì sao, cô giáo lại cấm
không cho chúng tôi lội qua con sông ấy nữa, đứa nào lội
Cô bắt được sẽ đánh đòn 20 roi rồi đuổi học; Và vào
những giờ Kể chuyện, thay vì những câu chuyện thần tiên,
Cô lại kể chuyện về những con ma Da, những mụ phù thủy
đang chờ chúng tôi dưới nước. Mấy tháng sau, một đứa
bạn trong lớp tôi chết ngộp một lần theo mẹ ra mương giặt
áo, chúng tôi tin rằng có một loài ma sống dưới nước.
Tôi không lội qua con sông Hà Thanh nữa, nhưng với tôi con
sông Hà Thanh đẹp lắm! 12 tuổi xuất gia, bên cạnh chùa là
con sông tôi không biết tên, tôi đặt tên cho nó là "sông
Thượng", vì nó bắt nguồn từ một nhánh sông lớn chảy
về những cánh đồng rồi đổ ra biển. Nước dòng sông Thượng
chảy êm đềm nhưng không trong lắm, vì có một đàn vịt
cả mấy ngàn con "đóng quân" dài hạn ở đó. Sông Thượng
gắn bó với tôi trong nhiều kỷ niệm đẹp, nhưng tôi chưa
bao giờ lội qua dòng sông ấy một laàn. Lớn lên tôi vào
Sài gòn tiếp tục con đường học vấn, những dòng nước
đen xì ở kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè làm tôi nghẹt thở.
Tôi bắt đầu chiêm nghiệm về cuộc đời, rồi ví con sông
Hà Thanh như cái tuổi thơ chưa vướng bụi đời, trong sáng
quá! Lội giữa dòng Ni Liên Thiền lòng tôi lại bất chợt
nhớ về con sông Hà Thanh trong vắt ngày xưa, một cảm giác
vui vui, tôi chợt mỉm cười. Quay lại nhìn về hướng tháp
Ðại Giác một chút, tôi lại ngớ ngẩn hỏi Sư thúc đang
lội bên cạnh: "Ðức Phật ném cái bát chỗ nào hả Thúc
?", Sư thúc chỉ mỉm cười. Lội đến hai phần ba con sông,
hai chú cháu tôi thay nhau chụp mỗi người một tấm ảnh kỷ
niệm. Cách chúng tôi một khoảng, vài đứa bé trai tuổi chừng
hơn mười tuổi đang đắp những tòa lâu đài bằng cát. Vài
giây ngần ngại, một đứa trong chúng hỏi tôi có cần "Guide"
(hướng dẫn) không và "tự nguyện" theo chúng tôi từ đó
đến khi chúng tôi trở lại bên này sông. Thật ra những chú
bé này đi xin tiền, dịch vụ "hướng dẫn" chỉ là cách để
bám theo du khách hành hương, vì hầu hết dân chúng vùng này
khá nghèo, những đứa trẻ thuộc những gia đình quá nghèo
không được đến trường lớp, chúng phải "bươn chải" vào
"nghề hướng dẫn" với vài từ tiếng Anh nghe lỏm ở đâu
đó, nguồn sống chính của chúng là những đồng tiền bố
thí của khách hành hương.
Ngay
bên bờ sông người ta dựng một bệ thờ với hai bức tượng:
Sa môn Cồ Ðàm và ông già dâng bó cỏ Cát Tường (Kusa), nét
tượng không mấy "mỹ thuật" lắm, nghe rằng ban đầu một
số vị sư Miến Ðiện dựng tượng nơi này kỷ niệm, nhưng
sau thấy nơi này khách hành hương thường tới, một số các
chàng theo đạo Hindu "thức thời" bèn lập thành bàn thờ,
đặt thùng "công đức" (Donation Box) rồi dụ khách hành hương.
Khi chúng tôi đến, anh chàng Hindu "marketing" (tiếp thị, chào
hàng) bảo chúng tôi lạy và bỏ tiền vào thùng, hai chú cháu
tôi chỉ mỉm cười, nhưng rồi cũng bỏ vài Rubi vào thùng
(vì ít ra họ cũng là người giữ gìn nơi đó sạch sẽ).
Cách nơi đặt hai bức tượng vài mét, là một đền thờ
Hindu và một cái giếng công cộng, muốn mượn gàu xách nước
rửa chân phải trả ít nhất 1Rs, ở trong khu làng nàng Su Dà
Ta đủ thứ dịch vụ hái tiền rất dễ dàng. Một nhóm khoảng
30 trẻ em ăn xin vây quanh chúng tôi, đủ thứ lời lẽ và
cử chỉ, kể cả vài người lớn tuổi cũng van xin nghe rất
thảm não, tôi định gởi mỗi người 1Rs, nhưng Sư thúc truyền
ngay "kinh nghiệm" muốn "mở rộng lòng từ" thì nên đợi lúc
ra về, nếu không sẽ gặp phải trở ngại lớn, tôi đành
thôi. Bọn trẻ ăn xin bám theo chúng tôi như một đoàn quân
hộ tống. Một đứa bé nói được tiếng Anh, "chỉ điểm"
với tôi: "Cái thằng cao cao đi trước kia là chuyên nghiệp
móc túi, ăn cắp đấy.", trong bang của "thằng cao cao" có đứa
hiểu tiếng Anh dịch lại với nó, thế là "thằng cao cao"
dọa sẽ "thanh toán tên chỉ điểm" nọ. Càng vô sâu, những
người ăn xin càng nhiều, lúc đầu "hộ tống" chú cháu chúng
tôi chỉ khoảng 20 trẻ em, sau lên đến gần 40 (có cả trung
niên, người già), đi đâu tôi cũng gặp phải những bàn tay
chìa ra. Thế rồi, cuối cùng tôi cũng đến được nơi nàng
Su Dà Ta dâng bát cháo sữa năm xưa (nơi đó người ta gọi
là Sujatakuti). Ðể vào đến đền Sujatakuti, phải đi ngang
qua một cái đền thờ Hindu khá lớn án ngữ trước mặt,
nếu không tinh ý khách hành hương sẽ "sa lưới" nào nơi đang
trưng bày một số tượng Brahma bốn mặt, Vishnu, Shiva, Hanuman.
Sau cái đền thờ Hindu kia người ta cho xây một cái miếu
nhỏ 2 mét vuông, bên trong dựng những bức tượng miêu tả
lại cảnh nàng Su Dà Ta dâng lên Samôn Cồ Ðàm bát cháo sữa.
Có một điều mà vài Phật tử hành hương không thể ngờ
được là: Các anh chàng Hindu đã cố ý đặt tượng một
con bò trắng mập mạp trước những bức tượng kia, con bò
trắng kia không gì khác hơn ngoài ý nghĩa tôn thờ con bò mộng
Nandi (vật cỡi của thần Shiva). Một cái thùng "kêu gọi"
lớn hơn những bức tượng đặt phía trước, bên trên là
một cuốn "Sổ Phát tâm" khổ A3 nhắc nhở mọi người (cũng
của các chàng Hindu thôi). Chú cháu tôi ngồi dưới một bóng
cây bên cái miếu nhỏ, một anh chàng người Nhật cũng đang
ngồi thu mình im lặng trước sự tấn công của tập đoàn
"cái bang". Nửa giờ đồng hồ sau, đoàn phật tử Tích Lan
cũng đến nơi chúng tôi đang ngồi, khác với những lần trước,
tất cả họ đều mặc thường phục. Tôi nảy ra ý định
chụp vài tấm "hình tư liệu" về "tập đoàn hành khất vị
thành niên" ở làng nàng Su Dà Ta, nhưng dường như chúng rất
sợ trước việc phải để lại gương mặt của mình trên
tấm ảnh, vì thế chỉ có vài đứa trẻ tham gia đứng trước
ống kính, một số lấy tay che mặt. Hai chú cháu tôi cùng
đoàn phật tử Tích Lan rời khỏi làng nàng Su Dà Ta trong những
tiếng khóc than não nề của những người "ăn xin bán chuyên
nghiệp", ông già quét ngôi miếu theo tôi đến đầu làng vừa
khóc than vừa lạy lục van xin, tôi vờ làm động tác bắt
tay và tất nhiên là có kèm theo đó 20Rs. Giã từ ngôi làng
nàng Su Dà Ta có những mái nhà tranh đơn sơ, tôi mang theo hình
ảnh và tiếng khóc của ông lão quét miếu! Chú cháu tôi định
đến thềm ngôi nhà của Ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvela
Kassapa), nhưng hôm ấy con mương chận ngang bị lầy lội, hai
chú cháu đành rút lui...
Trời
trưa, nước sông khá nóng, chú cháu tôi đón một chiếc máy
cày quá giang qua bên kia sông. Ðến bên kia cầu, dù rằng đã
trưa người đói và mệt, nhưng tôi lại quyết định vào
thăm chùa Miến Ðiện. Chùa Miến Ðiện nằm cách tháp Ðại
Giác một cây số về hướng Ðông- bắc, ngay phía bên này
cây cầu bắc ngang qua sông Ni Liên Thiền. Theo một số tư
liệu thì chùa này được xây dựng khá sớm so với chùa các
nước khác tại khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng: Chùa được
xây dựng vào năm 1874 dưới sự bảo trợ của vua Mundoon Myin.
Trụ trì hiện nay là ngài Nyanainda Mahathera[1]
(người Hoa phiên âm gọi là ngài Nhược Ninh Ðạt). Chùa Miến
Ðiện cũng đang trong thời kỳ sửa chữa- nới rộng, thợ
thi công xây cất cũng khá nhiều, nền gỗ chánh điện vừa
làm xong nhưng nhiều chỗ đã phồng lên vì trời nắng. Ở
cổng vào của chùa, có một văn phòng để khách hành hương
liên hệ đăng ký trú ngụ, bên cạnh là một dãy nhà khách
khoảng 30 phòng. Một bản thông báo bằng tiếng Anh dựng ngay
bên nhà khách, lưu ý với những khách hành hương muốn trú
ngụ ở đó phải giữ gìn ngũ giới [2].
12 giờ trưa, hai chú cháu tôi lại cuốc bộ về Chùa Ðài
Loan... Chiều hôm ấy, lại ra tháp lễ Phật, lại gặp đoàn
Phật tử Tích Lan tụng kinh và nghe Pháp. Vị sư người Tích
Lan ở cùng nhà mời chúng tôi cùng đoàn đi núi Linh Thứu,
Trúc Lâm và Na Lan Ðà vào ngày hôm sau, nhưng lúc ấy chú cháu
tôi đã lỡ hứa với vị sư người Thái mời chúng tôi dự
bữa cơm trưa hôm sau, đành thôi...Ðến tối, lại những bình
trà Ô Long, thầy Phát lại tiếp tục những nỗi niềm của
mình, lại một đêm gần như thức trắng. Những ngày đến
Bồ Ðề Ðạo Tràng, không đêm nào thầy không tâm sự với
chúng tôi, không đêm nào câu chuyện kết thúc trước 11 giờ
đêm...
Chú
thích
1.
Ngài Nyanainda Mahathera là vị Tôn chứng A xà lê Ðại giới
đàn Quốc tế , tổ chức tại Bồ Ðề Ðạo Tràng năm 1998.
(Most Ven. Nyanainda Mahathera is a Witnessing Acarrya of Bodhgaya International
Full Ordination 1998).
2.
Bảng thông báo lưu ý với những khách hành hương trú ngụ
tại chùa bằng tiếng Anh (và tạm dịch sang Việt ngữ) như
sau:
Abstain
from killing (tránh sát sanh).
Abstain
from stealing (tránh trộm cắp).
Abstain
from sexual misconduct (tránh tà dâm).
Abstain
from lying (tránh vọng ngữ).
Abstain
from intoxicants (no drugs or alcohol)( Tránh uống rượu).
