Ngày
05 tháng 08 năm 2000
6
giờ 30 sáng, thầy Từ Phát gõ cửa đánh thức chú cháu tôi
dậy và mời điểm tâm. Chiếc áo tràng đẹp nhất của tôi
bị cháy một lỗ lớn ngay cổ, thì ra đêm qua lúc cúp điện
thấy tôi ngủ say, Sư thúc đã đẩy khoanh nhang trừ muỗi
lại để tôi khỏi bị "hiến máu nhân đạo" cho lũ
muỗi đói nhiều ngày ở Bihar, đến gần sáng có điện trở
lại, quạt trần hoạt động, hậu quả là... Với tôi chiếc
áo này rất quý, đó là chiếc áo do chính tay Thượng tọa
Thiện Ðồng -Trụ trì Chùa Giác Huệ, Ðồng Nai- mua tặng
khi nghe tin tôi chuẩn bị làm hồ sơ sang Ấn Ðộ du học,
cùng với cái áo kia là một xấp vải may y rất đẹp. Vâng,
hành trang của Thầy dành cho tôi ngày lên đường sang Ấn
chính là bộ Ðại Y[1],
chiếc áo tràng, cùng những lời dặn dò thâm tình trong những
ngày còn nương ở bên Thầy, mà tôi không thể nào quên được.
Tất nhiên, "bộ cánh" này tôi ít dám mặc đi đâu nhiều,
chỉ để dành vào những dịp quan trọng, thỉnh thoảng có
thể thay thế áo hậu trong vài dịp lễ không quan trọng lắm
(như những ngày tôi chiêm bái các ngôi chùa ở Bangkok, Thái
Lan chẳng hạn). Phần điểm tâm sáng là hai bánh mì hình "sừng
trâu" mua từ Calcutta và hai ly lớn sữa cacao ngon tuyệt. Ở
Ấn Ðộ sữa tươi rất rẻ, người Ấn nuôi bò chỉ để
vắt sữa ngoài ra ít dùng vào việc cày cấy, nên chúng cung
cấp sữa rất nhiều; mỗi lít sữa tươi ở Ấn Ðộ chỉ
khoảng 13 hoặc 14 Rs (khoảng 3800 - 4000 đồng Việt Nam), vì
vậy thức ăn Ấn Ðộ có rất nhiều món làm từ sữa, như:
Cheese (nhìn giống như đậu khuôn Việt Nam), Chai (trà sữa),
cháo sữa... Sau khi điểm tâm, chào thầy Từ Phát, thầy trò
chúng tôi lại ra Tháp lễ Phật. Vị Sư thường trực, bảo
vệ điện Phật trong tháp chính dành riêng cho hai chú cháu
tôi một chìa khóa đặc biệt để vào bên trong, vì vậy mỗi
ngày hai thầy trò đều ra đây tụng thời Kinh Lăng Nghiêm
và lễ Hồng danh chư Phật, có vài hôm khách hành hương thấy
hai thầy trò tụng kinh liền ném tiền vào cúng dường, tiền
rải khắp điện Phật. Những ngày ở Bồ Ðề Ðạo Tràng,
Sư thúc tôi phát nguyện mỗi ngày lạy "tam bộ nhất bái"
một vòng lớn quanh tháp (khoảng 800m) vào buổi sáng, và một
vòng nhỏ quanh tháp (60m) vào buổi chiều; tôi bị bệnh thấp
khớp nên dù cố gắng thực hiện theo cũng chỉ bằng nửa
đường của Thầy. Với tôi, lạy Phật trong điện Phật thì
là chuyện hàng ngày tôi thực hiện hơn 12 năm qua, còn vừa
đi vừa lạy thì kể ra chưa được quen lắm. Vả lại, từ
ngày qua đến Ấn độ, tôi phát hiện ra Sư thúc tôi làm việc
gì cũng rất nhanh, tôi ngại nhất là mỗi lần Thúc dắt tôi
đi làm giấy tờ, khuôn viên Ðại học Delhi lớn vô cùng,
các phòng ban nằm cách nhau khá xa (gần nhất cũng 2-3 km), vậy
mà Thầy bảo tôi phải tập đi bộ cho quen. Ngày đầu tiên
tôi qua đến Ấn độ, Thầy dắt tôi ra chùa Tây Tạng "ra
mắt Ông Phật", vừa ra khỏi ký túc xá là Thầy chạy như
bay để kịp xe buýt, lên đến xe thấy tôi còn ì ạch đằng
xa Thầy đành phải nhảy xuống. Thầy bảo tôi phải thích
nghi với chuyện đón xe buýt ở Delhi, đi xe buýt sẽ tiết
kiệm được tiền, còn tôi thì lại "ngụy biện" rằng chạy
như vậy là "mất oai nghi", thật ra tôi không tài nào chạy
nổi như Thầy, ở Việt Nam dù gì chăng nữa ra khỏi nhà là
tôi đã trèo lên con ngựa sắt.
Ðợi
Sư thúc lễ xong, tôi mời thầy Quảng Trí cùng chung ra "Việt
Nam Phật Quốc Tự" (xin được gọi tắt là chùa Việt Nam)
ăn cơm trưa, ba người gọi hai chiếc Rishaw giá 15Rs, mình tôi
riêng một chiếc (lúc này "năng lượng" tích trữ từ nhiều
tháng khi còn ở Việt Nam vẫn còn tương đối "phì nhiêu").
Hôm ấy, cổng phụ của chùa Việt Nam bị ngập sình không
thể vào được, chúng tôi đành phải đi vòng cổng chính
và dùng biện pháp "leo tường" để vào bên trong. Chùa Việt
Nam nằm cách tháp Ðại Giác khá xa so với chùa các nước
khác (khoảng 4km), chùa được chính thức khởi công xây dựng
vào ngày 24/05/1987, nằm trên một khu đất biệt lập rộng
khoảng 30 công, có cây cỏ xanh tươi. Khuôn viên Chùa không
được vuông vức như những ngôi chùa khác, vì nó được
"chắp vá" thêm mỗi khi nhà ai đó có cô con gái đến ngày
"kén rể". Ngôi Chánh điện 3 tầng được thiết kế từ cổng
chính đi vào, có chu vi 64 mét vuông, chiều cao 24 mét: Tầng
trên cùng là chánh điện nơi sẽ tôn thờ Tam Thế Phật cùng
chư vị Bồ tát, phía sau là nhà thờ Tổ; tầng thứ hai dùng
làm nơi trưng bày Tam Tạng giáo điển, di vật văn hóa, pháp
khí trong và ngoài nước; tầng trệt là pháp xá có sức dung
chứa trên 30 vị khách Tăng mỗi khi đến chiêm bái Bồ đề
Ðạo tràng. Bên cạnh chánh điện là tháp Vạn Phật cao bảy
tầng sẽ được xây dựng. Ngôi tháp này có bán kính 12 mét
và chiều cao 22 mét, bên trong sẽ tôn thờ xá lợi Phật cùng
10.000 tượng Phật lớn nhỏ như tên gọi của nó. Một dãy
nhà khách dài 47 mét, 3 tầng với 21 phòng, mỗi phòng có thể
ở được từ 3 đến 5 người, tên mỗi phòng được đặt
gắn với tên một vị danh Tăng, dãy nhà khách này khá tiện
nghi và khang trang. Khuôn viên chùa Việt Nam khá rộng với nhiều
loại cây ăn trái nhiệt đới quen thuộc với người Việt
Nam như: mít, vải, táo, cam, chanh, bưởi, xoài (30 loại xoài
khác nhau), ổi xá lị... hạt giống được mang từ Việt Nam
sang. Bên cạnh những loại hoa trái quen thuộc với người
Việt, tạo thành một khu vườn mang dáng vẻ Việt Nam, chùa
Việt Nam còn có cả một "bộ sưu tập" những loài cây, trái
có liên quan đến đời sống đức Phật, tên của những loại
cây trái này thường hay xuất hiện trong nhiều bộ kinh mà
chúng ta thường gặp như: cây Sê-sam, cây Long Hoa (Nagarsana),
cây Diêm phù đề (Jampur), cây Vô Ưu (Asoka), cây Sala (Tala),
cây Nimpa. Vườn chùa rộng, chúng tôi vừa đi vừa kêu "Thầy
Thông Lý ơi! Anh Nên ơi", lát sau nhận được "tín hiệu".
Quà tiếp chúng tôi là những bịch kẹo gừng và những bình
trà "Cây Ða" thơm phức, những món này anh Nên vừa về Việt
nam mua sang "đầu cơ - tích trữ", dùng để thưởng thức và
nhớ về quê nhà trong những tháng ngày tha hương. Trưa hôm
ấy, mỗi người một tay xuống bếp trổ tài nấu nướng:
Sư thúc nấu cơm, anh chàng Ấn Ðộ đi chợ, thầy Thông Lý
dọn chén bát, anh Nên chiên bánh phồng, thầy Quảng Trí lặt
rau, tôi lãnh phần làm món "đặc sản bún xào", món này tôi
học lỏm được sau nhiều lần "sạch túi" với "Tịnh Tâm
Trai". 12 giờ rưỡi tất cả đã sẵn sàn, mọi người bắt
đầu bữa trưa đầy hương vị quê hương Việt nam. Bữa cơm
Việt nam tại chùa Việt nam ngon lành hết biết, bởi lẽ những
món ăn kia là sản phẩm do tự tay chúng tôi làm ra, không ngon
sao được?! Món "đặc sản bún xào" của tôi chất lượng
cũng không kém phần các nhà hàng Việt Nam, còn món Chowmein
ở các nhà hàng Ấn Ðộ thì thua xa, thế là tôi lại phải
mất công hướng dẫn anh chàng Ấn Ðộ -phụ trách nhà bếp
chùa Việt Nam- cách thức làm một món bún xào " Ðặc sản
Việt Nam". Bữa cơm càng ngon và vui hơn, với câu chuyện "Mr
NO" (ông NO) có thật xảy ra ở Delhi, chuyện rằng: "Một lần,
nhà một Sư cô Việt Nam bị hỏng ổ khóa cửa, Sư cô nọ
nhờ một vị Sư đến sửa dùm. Trong khi Sư đến lục đục
cạy khóa để sửa, thì Sư cô nọ ra chợ mua ít đồ, bà
hàng xóm thấy người lạ mặt đến cạy cửa nhà bên cạnh
sanh nghi, bèn gọi điện thoại báo cảnh sát. Vài phút sau
cảnh sát xuất hiện, một trong số những cảnh sát cầm còng
số 8, bước đến trước vị Sư nọ hỏi : "What are you doing?"
(Ông đang làm gì vậy?), vị Sư bình tĩnh trả lời "I am trying
to open this lock." (Tôi đang cạy ổ khóa này), cảnh sát hỏi
"What’s your name?" (ông tên gì?", "My name’s ...NO" (tôi tên...NO-
No tức là không) vị Sư trả lời, cảnh sát giận dữ nhắc
lại "What is your name?", "NO" , "What is your name?" "NO" ...hai bên
ngày càng giận dữ, toán cảnh sát đòi bắt vị Sư nọ về
đồn điều tra. Bất ngờ, Sư cô chủ nhà xuất hiện, sau
khi hỏi rõ ngọn ngành, Sư cô bắt đầu giải thích về việc
mình nhờ vị Sư đến sửa dùm ổ khóa, và tên tiếng Việt
của vị Sư kia là "Ngô Văn Nở", mà chữ "Nở" phát âm không
dấu ra tiếng Anh thành là "No"... chỉ có vậy, toán cảnh sát
kia "âm thầm" rút quân. Mọi việc ổn thỏa".
Chiều
hôm ấy, Sư thúc dắt tôi đi thăm Chùa các nước xây dựng
quanh Bồ Ðề Ðạo Tràng. Trước tiên hai thầy trò đến đảnh
lễ tượng Ðại Phật Nhật Bản (The Great Buddha statue, hay
còn gọi là Daibutsu in Japanese), tượng Phật có chiều cao 64
feet (kể cả đài sen và đế tượng cao 16 feet), tượng được
lắp ghép từ nhiều mảnh đá lại với nhau. Khác với những
quốc gia khác, tượng Phật Nhật bản thường có lỗ tai bị
xỏ lỗ như kiểu đeo hoa tai (một vài tượng Phật Nhật Bản
cũng có bộ râu mép), mặt tượng mang nặng nét mỹ thuật
tạo hình Nhật Bản. Hai bên tượng người ta bài trí mười
vị đại đệ tử của Ðức Phật, những tượng này có kích
thước cao như người thật (khoảng 1,8 mét), chia thành hai
hàng (mỗi bên 5 vị). Lúc đó, đoàn Phật tử "Bạch Y" Tích
Lan cũng vừa đến đây chiêm bái, nhìn thấy trang phục họ
tưởng tôi là người Nhật, nên họ mời chụp vài tấm hình
làm kỷ niệm.
Kế
đến chúng tôi vào thăm chùa Tây Tạng, chùa này có tên gọi
rất dài như sau: Karma Tharjay Chokhorling Kagyupa [2]
Vajrayana Buddhist Monastery. Phật giáo Tây Tạng có nhiều dòng
tu khác nhau, chùa này thuộc trường phái ngài Karmapar, phái
Kagyu thuộc tông Kagyupa. Theo lời Sư thúc kể lại: Có một
ông vua dầu hỏa nào đó ở xứ Trung Ðông bị bệnh lâu ngày,
nhưng không làm sao chữa khỏi, tất cả các danh y đều bó
tay với căn bệnh hiểm nghèo không rõ nguyện nhân của Ông,
Ông rơi vào tuyệt vọng và chờ ngày "tận số". Ngày nọ,
có người mách bảo ông về thần lực của ngài Karmapa thứ
XVI, Ông tìm đến và quả thật lành bệnh. Sau khi khỏi bệnh
Ông ngỏ ý đền đáp ân nghĩa, nhưng ngài Karmapa không nhận,
Ông bèn phát tâm cúng hai triệu Mỹ kim để xây dựng ngôi
chùa này.
Tiếp
đến, chúng tôi đến thăm một ngôi chùa của người Nhật
mà nhiều người quen gọi là chùa Nhật Bản Sơn, tuy nhiên
nhìn bảng hiệu chùa khắc bằng chữ Hán là "Thích Ca Ðường"
(kế chùa Tây Tạng). Ðể vào Chánh điện chùa này, phải
đi lên mấy chục bậc tam cấp; bên trong chánh điện vô cùng
bóng sạch và thoáng mát, cách thức trang trí hết sức nghệ
thuật, người Nhật không trang trí màu sắc đỏ chói như
người Hoa, mà chọn những màu rất nhã như màu gỗ, màu vàng
nhạt, cách trang trí cũng đơn giản nhưng mang màu sắc triết
lý. Chánh điện được chia thành hai phần bằng một khung
gỗ, chỉ có khách Tăng và những đoàn hành hương lớn mới
vào được bên trong. Trên trần chánh điện cũng được đóng
bằng gỗ theo lối nhà ở truyền thống Nhật Bản. Ðược
biết, ngôi chùa này do Hội Daijokoyo xây dựng và khánh thành
vào ngày 13 tháng 12 năm 1983. Trông coi ngôi chùa này là một
vị Sư người Butan đã lớn tuổi.
Rời
chùa Nhật Bản Sơn, chúng tôi lại đến một ngôi chùa khác
của người Nhật trên vùng Bồ Ðề Ðạo Tràng mang tên là
"Nhật Bản Tự" (Nipponji), một số người gọi là Chùa Kim
cang thừa, chùa này cũng là trụ sở của tổ chức "International
Buddhist Brotherhood Association" (Hiệp hội liên hữu Phật giáo
Quốc tế), xây dựng và khánh thành vào ngày 8 tháng 12 năm
1973. Chùa có một khuôn viên rộng lý tưởng, chánh điện
rất trang nghiêm với lối thờ cổ kính, nhìn từ phía ngoài
bốn mái ngói chùa nhỏ dần về phía đỉnh, tạo thành một
hình nhọn, phía trước là một sân cỏ rộng (30m x 30m) làm
nơi vui chơi cho học sinh, góc sân có một Ðại hồng chung
rất lớn thể hiện ý nghĩa "Hòa Bình" (có hình dáng như chuông
ở Chùa Vĩnh Nghiêm), bên cạnh Ðại hồng chung là một bệ
đá vuông (5m x 5m) cao khoảng 1.2mét, giữa bệ có trang trí
một biểu vật tượng trưng cho càn khôn. Bên tay phải khuôn
viên chùa, có tổ chức các lớp học cho trẻ em nghèo, dạy
đông y cho những thanh niên Ấn Ðộ.
Rời
chùa Nhật, tiếp tục thăm chùa Thái với những mái cong vút
cầu kỳ, từng chi tiết được mạ vàng rất công phu, sắc
sảo theo cung cách cung điện Vua chúa Thái Lan. Ngôi chùa này
được chính phủ Hoàng gia Thái Lan xây dựng vào năm 1957 và
được trùng tu vào những năm 1970 – 1972. Trước khi sang Ấn
Ðộ, tôi đã quá cảnh ở Thái Lan ba ngày, đã đi thăm hầu
hết các ngôi chùa lớn, nổi tiếng ở Bangkok[3]
và Ayutthaya, vì vậy chùa Thái ở Bodhgaya chỉ là cái bóng
mờ so với những ngôi chùa trên đất Thái. Hai chú cháu tôi
đón một chiếc xe ngựa hướng ra tháp Ðại Giác, đó cũng
là lần đầu tiên trong đời tôi đi bằng phương tiện này,
đường xá Bodhgaya gập ghềnh, con ngựa dường như cố sức
thật tội nghiệp. Ðến chùa Trung Quốc tôi bảo anh chàng
xà ích dừng lại và trả gấp đôi số tiền đã ngã giá,
bảo với anh ta "hôm nay cho ngựa ăn gấp đôi nhé", không biết
anh ta có hiểu không, nhưng gật đầu. Ghé vào chùa Ðài Loan
uống thuốc cảm và lấy thêm cuộn phim mới, sau đó hai thầy
trò đi bộ ra chùa Trung Quốc đối diện, nơi mà vào tháng
2 năm 1998 Hội Phật giáo Quốc tế đã tổ chức "Tam Ðàn
Ðại giới" cho Tăng Ni từ khắp nơi trên Thế giới. Khác
với chùa của các nước khác, chùa Trung Quốc tại Bodhgaya
tôn trí ba tượng Phật ngồi với kích cỡ lớn, trên khắp
bốn bức tường là "Vạn Phật" chật kín. Bên cạnh chùa
Trung Quốc là chùa Nepal, nét kiến trúc của Népal mang dáng
dấp của người Tây Tạng, tôi cũng muốn ghé thăm chùa, nhưng
vào thời điểm ấy chùa đóng cửa không tiếp khách. Mỗi
năm chùa Népal chỉ mở cửa vào các dịp hành hương từ tháng
10 đến tháng 3 năm sau. Theo lời Sư thúc, thỉnh thoảng Ðức
Ðạt lai Lạt ma về nghỉ ngơi tại chùa này, khi Ngài có dịp
về Bồ đề Ðạo tràng.
Hai
thầy trò lại ra Ðại Tháp lễ Phật và tụng thời kinh. Kinh
xong, Sư thúc lạy "tam bộ nhất bái" một vòng nhỏ quanh tháp,
một mình tôi dự định xách máy đi chụp các góc độ về
tháp Ðại Giác, nhưng lúc này ánh nắng mặt trời không được
thuận chiều lắm. Một lát sau, tôi lại bị cuốn hút bởi
cái "thế giới động vật" vô cùng phong phú tại Bồ Ðề
Ðạo Tràng. Tôi đi quanh hồ sen Mucalinda, đàn sóc thi nhau chuyền
cành giành lấy những quả nho chín mà một người phụ nữ
vừa đặt trước đó ít phút, chúng biểu diễn nhào lộn,
tranh cướp với nhau xem rất lạ mắt. Hai chú khỉ không biết
từ đâu, chạy tới nhảy tung lên giật cái túi vải đeo vai
của tôi, tôi hoảng hốt giật lại, chúng té nhào ra đất.
Một con tỏ ra giận dữ, tôi hiểu ý lộn ngược cái túi
xách, bên trong chẳng có gì ngoài cây viết, cuốn sổ tay,
chai dầu xanh và cái máy ảnh, thấy vậy chúng âm thầm bỏ
đi. Lát sau nghe tiếng kêu, tôi quay lại, nạn nhân của hai
chú khỉ nọ là hai cô gái người Nhật. Hai cô này vừa cho
cá ăn xong, đi ngược về phía bên kia hồ ngồi nghỉ trên
một chiếc ghế đá, vừa ăn vừa huyên thuyên nói chuyện.
Trong lúc mất cảnh giác, hai "kẻ cắp" họ hàng với Tôn Hành
Giả trộm nhân sâm năm xưa cuỗm đi chiếc túi xách lúc nào
không biết, đến khi nghe hai "kẻ cắp" chí chóe "ăn thua" với
nhau, hai cô giật mình quay lại thì... giấy tờ tùy thân bị
vứt tung toé, một tờ 50 $US bị xé làm đôi, chiếc ví tay
bị rách tan tành. Hai "kẻ trộm" lại tỏ vẻ giận dữ với
nạn nhân, chẳng ai trong hai cô dám lấy lại chiếc ví, tôi
chạy lại thì hai kẻ cắp nọ lại bỏ đi nơi khác. Tôi chỉ
vào tờ 50 $US bị rách: "Có lẽ chúng ăn thua với nhau vì cái
này đây", hai cô lại mỉm cười và cảm ơn rối rít. Trở
lại với "nghiệp vụ báo chí" của mình, tôi tiếp tục quan
sát người phụ nữ với cái giỏ xách trên tay, không biết
trong cái giỏ ấy đựng loại thuốc gì, mà cứ vài phút bà
ta dừng lại và lấy muỗng múc một ít đổ vào gốc và các
nhánh cây, bà ta làm công việc này một mình, diễn ra trong
sự yên lặng. Ðợi bà ta đi một quãng khá xa, tôi bắt đầu
đến từng gốc cây xem xét, kiến lên từng đàn, từng đàn
khá nhiều, con nào con nấy to lớn gần ngang đầu chiếc đũa
ăn cơm, chúng tụ lại bên số cơm trắng và bánh vụn mà
người phụ nữ vừa đặt trước đó, chúng ăn và tha mồi
về tổ, chúng xếp thành từng hàng trông rất nhịp nhàng.
Không hiểu vì sao, những ngày ở Bồ Ðề Ðạo Tràng tôi
thấy rất nhiều kiến, con nào cũng quá khổ so với bình thường,
mà là "kiến eo" nữa mới khiếp chứ, nhưng ít ai bị chúng
cắn. Thú thật, lần đầu lên Tháp thấy kiến nhiều quá,
nên lúc nào trong túi cũng chuẩn bị sẵn chai dầu xanh, nhưng
mãi đến ngày ra về vẫn chưa một lần sử dụng. Kỳ lạ
thật! Những ngày sau đó, tôi được biết người Ấn đối
xử rất tốt với mọi vật, dù đó là con kiến, con muỗi.
Mỗi ngày không ai phân công ai, nhưng họ đều tự nguyện
dành một ít thức ăn để đem bố thí cho chim, kiến, cá,
sóc, khỉ, chó hoang, bò hoang. Họ bố thí trong tình thương,
chia sẻ với động vật những gì có thể. Ngay cả nhang trừ
muỗi, họ cũng chế tạo chỉ để cho muỗi say không chích
người, chứ không làm cho muỗi chết. Có lần, tôi thấy một
người đàn ông bẫy được con chuột, nhưng ông không giết
mà đem đi thả vào một khu đất trống bên cạnh Khalsa College
(trước KTX Mansarowar, nơi Sư thúc tôi đang ở)... Có lẽ vì
thế mà ở Ấn Ðộ, tất cả động vật dường như rất
gần gũi, thân thiện với con người. Tất nhiên, ở đây tôi
không muốn chẻ nhỏ vấn đề, bởi lẽ bất cứ một vấn
đề dù nhỏ đến đâu đều có tính hai mặt.
Trời
đã xế chiều, những lối đi được làm bằng đá giảm dần
nhiệt độ, tôi bước theo sau một vị Sư người Tây tạng
đang kinh hành, đi một vòng lớn quanh Tháp. Xung quanh Ðại
Tháp rất nhiều những ngôi tháp nhỏ, với nhiều kiểu dáng,
kích thước khác nhau, không tháp nào giống tháp nào. Tất
cả những tháp nhỏ ấy dường như không có một chỉnh thể
hoàn chỉnh, chúng mang tính lắp ghép từ nhiều thế hệ, nhiều
trường phái kiến trúc khác nhau. Có người cho rằng: những
ngôi tháp nhỏ này là những công trình được xây dựng sau
khi một vị vua, một người trong hoàng tộc, một ông quan
lớn hoàn thành sở nguyện, hay một điều ước gì đó, để
báo ân Ðức Phật. Còn tôi lại có một giả thuyết riêng
trong đầu rằng: Trước khi chính thức xây dựng ngôi Ðại
Tháp ngày nay, người ta đã mở một cuộc thi tìm mô hình
kiến trúc hoàn hảo nhất để xây dựng. Và tất cả các
cụm tháp nhỏ còn lại kia là những bài thi mà nhiều Kiến
trúc sư thời đó để lại, sau thời gian dài, chúng bị mất
đi hình dạng ban đầu và người ta đã gắn thêm vào đó
những tượng Phật, đắp thêm những chi tiết phụ. Những
anh chàng Ấn giáo cũng cố tình đặt một vài tượng thần
Hindu bên trên một vài tháp nhỏ, hay dưới những gốc cây
lớn. Bên những cụm tháp nhỏ ấy là nhiều vị Sư và cư
sĩ tại gia đang cùng nhau tu tập. Nhiều nhất là các vị sư
Tây Tạng, lớn tuổi có, trung niên có... rất dễ nhận dạng,
vì tất cả các vị đều mặc y phục truyền thống Tây Tạng,
và đặc biệt lễ bái theo cách thức "ngũ thể đầu địa"
(nằm sát đất). Ngoài ra còn có quý thầy, quý sư các nước
như: Việt Nam, Trung Quốc, Bhutan, Thái, Ðại Haøn, Miến Ðiện,
Tích Lan. Nữ giới tham gia tu tập cũng khá nhiều: một sư
cô người Hàn Quốc, một chị Phật tử người Thái, một
cô gái trẻ người Ðài Loan, một số phụ nữ Tây Âu và
rất đông phật tử Tích lan. Bên ngoài khuôn viên tháp, những
người hành khất lớn tuổi ngồi khá nhiều, hầu hết là
những phụ nữ ở độ tuổi khoảng 45-50. Những âm thanh van
xin phát ra từ họ nghe não lòng, thấy tôi mặc y phục Phật
giáo Bắc truyền, họ ngỡ các Pháp sư Ðài Loan nên sổ ngay
một tràng tiếng Phổ thông "A mi duo fo, bang zhù wo ne" (阿 彌
陀 佛, 帮 助 我 呢- A Di Ðà Phật, xin giúp tôi với). Cả
nhóm họ 12 người, tôi gởi mỗi người 2Rs. Chẳng biết làm
sao hơn, túi tiền sinh viên có hạn thì làm sao dám mạnh tay,
trong khi cứ mỗi đầu tháng là đủ thứ chi phí gõ cửa.
Một người trong nhóm họ bĩu môi như muốn nói rằng "Ðài
Loan gì mà kẹo kéo quá vậy" (thật oan uổng cho mấy người
Ðài Loan!). Cũng vui, những ngày ở Bồ Ðề Ðạo Tràng tôi
mang khá nhiều quốc tịch: một chị người Nhật tên Chihani
Noda sổ ngay một câu tiếng Nhật chào hỏi, khi tôi vào một
tiệm mỹ nghệ, làm tôi "Sorry" không kịp; rồi các vị sư
ở Bồ Ðề Ðạo Tràng thì gán cho tôi cái quốc tịch Trung
Quốc, anh chàng chụp hình thì sổ ngay một câu tiếng Thái
ngon lành chào hàng, chỉ có mấy anh chàng bán bưu thiếp, lá
Bồ đề, chuỗi hạt là đoán chính xác nhất: "Thầy ơi! Năm
chúp". Không biết ai đó đã hướng dẫn các anh chàng bán
hàng rong kia: Số 10 đọc thành "năm chúp" (năm chục), làm
tôi phải mất công "sửa sai" và dạy cách đếm số mất cả
tiếng đồng hồ.
Trở
lại tháp, sư thúc đang ngồi nói chuyện cùng thầy Quảng
Trí và vị sư Tây Tạng, tôi lại đi một vòng ra cội Bồ
đề, trời nóng ngồi dưới những tàn cây hít thở khí ô
xy người khỏe hẳn ra. Trước Kim cang tòa, vị sư người
Ấn đang xem một cuốn kinh Pàli; bên cạnh tôi, cô Phật tử
người Ðài Loan đang hướng dẫn một anh chàng Ấn Ðộ "ngớ
ngẩn" nào đó cách ngồi thiền; chị Phật tử Thái cũng ngồi
cạnh cây Bồ Ðề tụng kinh gì đó bằng chữ Thái.
Sư
thúc dẫn đến hai người Việt: một nam, một nữ. Qua lời
giới thiệu của Thầy, người đàn ông kia là Công trình sư
Nguyễn Ðăng Ðồng vừa từ Việt Nam sang, và chị phụ nữ
nọ là phật tử Diệu Huệ, Việt kiều Ðan Mạch, chị đã
tốt nghiệp Kỹ sư xây dựng ngành xây dựng từ Ðan Mạch
sang phụ giúp hai thầy Hạnh Nguyện và Hạnh Tấn, trông coi
việc xây cất một ngôi chùa Việt Nam thứ hai tại Bồ Ðề
Ðạo Tràng, công trình này có tên "Trung tâm tu học Viên Giác"
(Vien Giac Institute International Center for Research and Studies of Buddhism),
Viên Giác là tên một ngôi chùa Việt lớn nhất ở Ðức Quốc,
có quan hệ với dòng "Lâm Tế Chúc Thánh" Quảng Nam, do Thượng
tọa Thích Như Ðiển trụ trì. Sau này qua lời kể của Sư
thúc, tôi được biết: Sau một thời gian dài lưu học tại
Ấn độ, hai thầy Hạnh Nguyện và Hạnh Tấn quyết định
xây dựng ngôi chùa Việt Nam thứ hai tại thánh địa này.
Cùng với sự khuyến khích trực tiếp cũng như gián tiếp
của chư tôn đức Tăng ni Việt nam tại hải ngoại, hai thầy
quyết định việc chọn đất để làm cơ sở. Theo lời hướng
dẫn của một vị sư Tây Tạng, hai Thầy chọn được một
khu đất rộng cách khu công trình Ðại Phật Di Lặc (The Maitreya
Project) khoảng 100 mét; thế nhưng trải qua gần hai năm trong
sự cố tình gian lận của chủ đất, nên mọi vấn đề thủ
tục vẫn chỉ là con số "Không" to tướng, dù rằng tiền
bạc đã đâu vào đó. Sau đó, hai thầy quyết định chọn
một khu đất 1000 mét vuông gần Ðại tháp Giác Ngộ. Dù rằng
khu đất này không mấy lớn lắm so với những ngôi chùa xung
quanh, nhưng nằm ở địa thế rất tiện cho việc tu học và
sinh hoạt; và chỉ sau ngày đặt tiền một tháng, mọi thủ
tục đều hoàn tất, do một người Ấn sanh tại Việt Nam
đang định cư ở Nam Ấn đứng tên mua. Phần thiết kế tổng
quát họa đồ xây dựng do kiến trúc sư Thiện Ðạt - Hoa
kỳ đảm trách, kiến trúc sư Ấn Ðộ lo việc sửa chữa
và cố vấn kỹ thuật,... Câu chuyện giữa chúng tôi diễn
ra khoảng 30 phút, hai người chào chúng tôi và tiếp tục đi
một vòng quanh tháp. Sư thúc và tôi lại đến trước tượng
Bồ tát Quán Âm, khấn nguyện Sư Ông chúng tôi - Hòa thượng
Phổ Bảo - được sang Ấn Ðộ chiêm bái bốn thánh tích một
lần, trước lúc "trăm tuổi". Khấn xong, thầy trò chúng tôi
đến văn phòng quản lý Bồ Ðề Ðạo Tràng, tiếc rằng hôm
ấy vị Thượng tọa Quản lý Bồ Ðề Ðạo Tràng vừa sang
Miến Ðiện trước đó vài ngày.
Trở
lại Ðại Tháp Giác Ngộ, hai chú cháu tôi ngồi ngắm nhìn
cảnh vật ở Bồ Ðề Ðạo Tràng lúc hoàng hôn. Hoàng hôn
trên vùng đất "Ðệ nhất thánh địa" này cũng
lung linh, huyền ảo như trong những câu chuyện cổ tích. Một
anh thanh niên và một bé gái khoảng chừng 10-11 tuổi, cả
hai thay nhau đi cắm những cây đèn sáp khắp nơi xung quanh
tháp, hình ảnh cô bé mặt đồ trắng với cây đèn trong tay
trông thật thánh thiện, anh chàng thanh niên nọ cũng hết sức
thành kính đốt từng cây nến[4].
Bên trong tháp những lời kinh bắt đầu vang vọng, tôi không
hiểu ý nghĩa những lời kinh ấy nói gì, nhưng tôi cảm nhận
nơi đó một sự thành tâm, tấm lòng cung kính dâng lên Ðức
Phật. Tiếng chuông trước cổng vào tháp thỉnh thoảng ngân
lên những đợt âm thanh như thức tỉnh những ai còn trong
vòng mê muội. Tôi ngồi lặng im, lắng đọng tư duy để mong
được nghe dư âm của hơn 2500 năm trước vọng về. Hai chú
cháu tôi không ai nói với ai một lời, suy tư, chìm đắm trong
cái không gian linh thiêng, trầm mặc của Bồ Ðề Ðạo Tràng.
8
giờ tối, chúng tôi mới về đến chùa Ðài Loan. Bấm đến
hồi chuông thứ 7, thầy Phát mới ra mở cổng, thầy chỉ
lên trời "tài wăn le" (tối quá rồi, khuya quá rồi), tôi xin
lỗi. Bữa cơm tối cũng chỉ có mình tôi, vừa bắt đầu
ăn điện lại cúp. Ðèn thắp lên, người cũng đã thấm mệt,
tôi nuốt vội qua loa, rồi dọn. Cơm xong, điện lại có. Lại
những bình trà "Ô Long", những câu chuyện về đất nước
Ấn Ðộ lại bắt đầu. Thầy Phát phân tích đất nước
Ấn Ðộ nghèo nhưng có tiềm năng vững mạnh về mọi mặt:
về tiềm năng phát triển khoa học, Ấn Ðộ có đội ngũ
khoa học gia hùng mạnh ở hầu hết mọi lĩnh vực, người
Ấn có những lợi thế thuận tiện trong việc tiếp xúc các
nền khoa học mới. Vì tiếng Anh được bắt đầu sử dụng
ở Ấn độ từ thế kỷ XVIII, và trở thành một trong 15 ngôn
ngữ hành chánh chính thức[5]
ở Ấn độ. Hiện nay Ấn Ðộ đang là một trong những quốc
gia hàng đầu về xuất khẩu phần mềm vi tính trên thế giới,
Ấn Ðộ có vũ khí hạt nhân cho những cuộc chiến hạt nhân,
kinh tế Ấn Ðộ hiện nay là nền kinh tế tự túc tự phát
nên ít bị ảnh hưởng trong các cuộc khủng hoảng kinh tế.
Tất cả những yếu tố ấy, chứng tỏ rằng người Ấn chuẩn
bị rất kỹ những triền tố để bước vào một thời kỳ
phân công lao động mới. Ðiện lại cúp, thầy Phát mời chú
cháu tôi lên mái bê tông cao nhất của chùa đang xây dở dang,
ngồi hóng gió và ngắm trăng. Trăng hôm ấy không tròn nhưng
rất sáng, trên bầu trời muôn vàn vì tinh tú nhấp nháy gọi
mời, Bodhgaya chìm ngập trong bóng mờ hư ảo. Tôi hướng nhìn
ra Ðại Tháp tỏa sáng cả một vùng[6].
Trong bóng đêm, ngôi tháp nổi bật lên nền trời, ngỡ như
cung điện của các cõi trời trong Kinh Pháp Hoa, chưa lúc nào
tôi thấy tháp Ðại Giác vĩ đại như lúc này! Có chiếc phi
cơ di chuyển trong bầu trời đêm, tạo nên một đường ánh
sáng thẳng tắp, Sư thúc chỉ tay theo nói "chiếc máy bay đó
bay về hướng nước mình". Một phút lòng bỗng ngậm ngùi,
tôi cố nén lòng để khỏi bật thành tiếng khóc, trong bóng
đêm những giọt nước mắt âm thầm lăn dài trên má. Nhớ
ngày ra đi tôi nhận được rất nhiều thiệp chúc mừng, những
lời cầu mong tôi đạt được những hoài bão mà tôi hằng
mơ ước, nhưng cũng không ít những dòng chữ viết vội "...thành
công nơi đất Phật & nhớ đến quê nhà!", "...nhớ trở
về nha Thầy!".v.v. những lời nhắn nhủ thật đơn giản,
không văn hoa, bóng bẩy, nhưng chứa đựng cả tấm thâm tình
mà tôi luôn mang theo bên mình. Dõi theo chiếc máy bay, tôi hướng
về phương Nam, tin rằng nơi đó chính là quê hương mà tôi
hằng luyến lưu thương nhớ, ở đó có những con người đang
trông ngóng, dõi theo từng bước chân của tôi trên đất Phật.
Có xa quê mới thấu hiểu được sự nhớ nhà, có ở trên
xứ lạ quê người mới thấy quê hương mình đẹp và ấm
áp! Tôi chợt nhớ đến một lời thoại mà có lần tôi tình
cờ nghe trên CD "Nhớ Huế": "Tôi không hiểu "Quê hương" là
gì, mà sao người ta phải nặng lòng với nó như vậy?", câu
hỏi thật ngớ ngẩn của một cô bé, nhưng mấy ai có một
lời giải đáp trọn vẹn! Tôi ngồi lặng thinh trong cái thế
giới tư duy của riêng mình. Càng về khuya trăng càng sáng,
tiếng kêu của một loài chim lạ rải đều vào không gian
tĩnh mịch, trên trời muôn ngàn vì sao kết thành những chuỗi
hạt kim cương lấp lánh. Một phút, tôi bỗng thấy mình chính
là ngôi sao lạc mất quê hương!
Ðêm
ấy, hai chú cháu tôi lại mất ngủ với những dự tính cho
ngày hôm sau: Trước tiên, Thấy trò chúng tôi dự định đến
thăm núi Linh Thứu -một địa danh thường xuất hiện trong
các bộ Kinh- nơi mà Ðức Phật đã khai mở nhiều pháp hội,
như hội Pháp Hoa, hội Kim Cang, hội Lăng Nghiêm.v.v. Sau đó
sẽ đến thăm vườn Trúc Lâm, một khu vườn với những khóm
trúc xanh tươi, những hồ nước trong vắt; đây chính là thượng
uyển của vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) đã dâng cúng Ðức Phật,
khi Ngài cùng hơn 1000 vị đệ tử đầu tiên, từ Bồ đề
Ðạo tràng đến Vương xá Thành hóa độ đức Vua. Vua đã
xây dựng trong khu vườn này một tịnh xá lớn và rất khang
trang, dùng làm nơi lưu trú cho Ðức Phật và Tăng đoàn. Ngôi
tịnh xá này có tên Trúc Lâm Tịnh Xá, và trở thành ngôi
tự viện Phật giáo đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Cuối
cùng, sẽ đến Trường Ðại học Na Lan Ðà (Nalanda Mahavihara),
nơi được mệnh danh là Trường Ðại học Phật giáo đầu
tiên của thế giới. Các bậc danh tăng học giả trứ danh
một thời, xuất phát từ Nalanda như: ngài Long Thọ (Nagarjurna),
ngài Thánh Thiên Ðề Bà (Arya Deva), ngài Nguyệt Xứng (Chandrakirti),
ngài Sằn Ðề Ðề Bà (Shantideva), ngài Vô Trước (Asanga),
ngài Thế Thân (Vasubandhu), ngài Trần Na (Dignaga), ngài Pháp
Hộ (Dharmapala), ngài Giới Hiền (Silabhadra), ngài Pháp Xứng
(Dharmakirti)... những bậc học giả đã bẻ gãy tất cả những
lý luận tà đạo của bọn luận sư ngoại đạo Ấn Ðộ
giáo thời đó. Cũng chính nơi này Nhà chiêm bái học giả
lỗi lạc Trần Huyền Trang đã trải qua gần 10 năm khổ luyện,
để tham học tất cả học thuyết của các trường phái Phật
giáo lúc bấy giờ. Na Lan Ðà cũng là nơi đã đào tạo nhiều
bậc Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam như: Hòa thượng Thích
Minh Châu, Hòa thượng Thích Huyền Vi, Hòa thượng Thích Thiện
Châu...Và đây cũng là dịp tôi đến Na Lan Ðà thăm thầy
Ðồng Trí -một thầy đồng hương- đang làm Ph.D Phật học
tại Trường Ðại học này.
Chú
thích
1.
Ðại Y hay Tăng già Lê, một trong sáu vật tùy thân của các
vị Tỳ Kheo. Sáu vật ấy là: 1. An Ðà Hội (Trung túc y, tạp
tác y, hạ y - Y năm điều), 2. Uất Ða La Tăng (Thượng trước
y, nhập chúng y - Y bảy điều, 3. Tăng già Lê (Tổ y, trùng
y, tạp toái y. Hạ tọa có 3 bậc là Y Tăng già Lê 9 điều,
11 điều và 13 điều; Trung tọa có 3 bậc là 15 điều, 17 điều
và 19 điều; Thượng tọa có 3 bậc là 21 điều, 23 điều
và 25 điều), 4. Ni sư đàn (tùy túc y - Tọa cụ), 5. Bát Ða
La (Ứng lượng khí - Bình bát) và 6. Lự thủy nang (đãy lọc
nước).
2.
Phật giáo Tây Tạng có bốn Tông lớn chính và từ đó phát
triển thành nhiều trường phái, hệ phái khác nhau. Tên bốn
Tông lớn của Phật giáo Tây Tạng là:
-
Tông
Nyingma: Do Tổ sư Padmasambhava (thường gọi là ngài Liên Hoa
Sanh) sáng lập vào thế kỷ thứ VII (tại Ấn Ðộ).
-
Tông
Kagyupa: Do Tổ sư Tilopa (988-1069) sáng lập và truyền dần sang
ngài Naropa (1016-1100).
-
Tông
Sakya: Do Tổ sư Konchog Gyalpo sáng lập vào năm 1073.
-
Tông
Gelugpa: Do Tổ sư Tsongkapa (1357-1419) sáng lập.
3.
Một số danh lam tại Băng Cốc: Wat Pra Keo (Temple of the Emerald
Buddha - Chùa Ngọc Lục Bảo Phật), Wai Traimit (nơi có tượng
Phật bằng vàng lớn nhất thế giới), Wat Arun (The Temple of
Dawn- Chùa Bình Minh), Wat Po (Wat Chetuphon, Chùa Cổ và lớn nhất
trong 71 ngôi chùa lớn ở Bangkok, được xây dựng vào thế
kỷ tứ XVI), Wat Benchamabophit (The Marble Temple- Chùa Cẩm thạch),
Wat Suthus.v.v.
4.
Tôi có lấy máy ảnh, mở hết khẩu độ sáng, cố ghi lại
hình ảnh có một không hai này, nhưng kết quả cuối cùng
cho ra một tấm ảnh xám xịt (với loại phim 100 ISO).
5.
15 ngôn ngữ được sử dụng trong hành chánh Ấn độ là:
English, Hindi, Assam, Bengal, Gujarati, Kashmir, Marathi, Oriya, Punjabi,
Sanskrit, Shindi, Tamil, Telugu Kannada, Malayalam và Urdu.
6.
Ban quản lý Bồ Ðề Ðạo Tràng luôn chuẩn bị máy phát điện
công suất lớn, phòng trường hợp cúp điện thường xuyên.
Vì vậy, lúc nào Ðại Tháp cũng được thắp sáng, dù rằng
cả vùng điện cúp hoàn toàn .
