Ngày
04 tháng 08 năm 2000
5:30
sáng, tôi giật mình thức dậy. Ngoài kia vạn vật cũng đang
bắt đầu một ngày mới. Vầng thái dương từ từ nhô lên
ở phía chân trời, mặt trời buổi sáng trông giống như màu
hồng của lòng đỏ trứng gà sáng rực. Con tàu vẫn lao nhanh
về phía trước, cái lòng đỏ trứng gà khổng lồ kia dường
như cũng muốn chạy theo đùa giỡn. Một khung cảnh thật nên
thơ, lâu lắm rồi tôi lại có dịp được nhìn mặt trời
mọc lúc bình minh. Cuộc sống nơi phố thị đôi khi làm cho
con người ta quên lãng sự hiện diện của thiên nhiên. Ðoàn
tàu chạy ngang qua những cánh đồng bạt ngàn, xa tắp, xanh
rì thấp thoáng một chút hình bóng quê hương, tôi chợt phát
hiện ra một điều gì đó thật xa lạ, đó đây một vài
cây xoài đứng bơ vơ, lạc lõng, xa xa những hàng cọ cao cao
tạo thành một phong cách "rất Ấn Ðộ", khác với đồng
quê Việt Nam ở đâu cũng thấy thấp thoáng lũy tre làng. Thỉnh
thoảng tàu chạy ngang qua những vùng có hàng trăm lều trại
dựng tạm, ban đầu tôi cứ ngỡ học sinh- sinh viên đi dã
ngoại, sau thấy có cả người già và trẻ em, rồi những
đàn gia súc lớn, cùng lời thuyết minh của Sư thúc bên cạnh,
tôi mới biết họ là dân du mục, hai tiếng "Du mục" tôi từng
biết qua sách vở và phim ảnh hoàn toàn khác, họ là những
con người hung hăng, thiện chiến, lúc nào trong tay cũng cầm
cây cung hoặc một loại vũ khí, họ ngồi trên những con ngựa
to lớn phóng như tên bay. Còn ở đây, trong mắt tôi những
du mục trên thảo nguyên Ấn Ðộ là những con người sống
trong chịu đựng, đói rách, tật bệnh. Ngồi trên tàu, tôi
tiếp xúc hàng loạt những hình ảnh và khái niệm qua lời
thuyết minh của Sư thúc: khắp đất nước Ấn Ðộ, lò thiêu
được cất lên chi chít, có cái trông giống như bản sao thu
nhỏ lò nung gạch ở quê tôi, có cái đơn giản chỉ là bốn
bức vách bằng gạch, hai loại lò thiêu này thường chỉ dùng
vào những ngày mưa gió, còn hầu hết các thi thể người
chết chỉ đem ra bãi đất trống chất củi lên hỏa táng.
Cứ vài chục phút tàu chạy lại thấy một đài hỏa táng,
rải rác trên những cánh đồng hoặc bên những nhánh sông
lớn của con sông Hằng thiêng liêng mang đầy màu sắc huyền
thoại. Theo những truyền thuyết trong trí tưởng tượng phong
phú của người Ấn, sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganga/Gange)
như hai cô gái kiều diễm, vốn là hai chị em sinh đôi, nhưng
từ khi sanh ra đã ngoảnh mặt lại nhau và mãi mãi chẳng bao
giờ nhìn mặt nhau. Sông Hằng bắt nguồn từ dãy Hy Mã Lạp
Sơn (Himalaya), ngọn núi hùng vĩ xếp thành vòng cung bao bọc
Ấn Ðộ với chiều dài hơn 2600 Km, Hy Mã Lạp Sơn có cả
thảy 40 ngọn núi cao trên 7000 mét so với mực nước biển.
Người Ấn thời xa xưa tin rằng Hy Mã Lạp Sơn là "trụ trời"
nâng cao vòm trời lên, để cho nhân gian sinh sống; Hy Mã Lạp
Sơn là nơi tiếp giáp giữa cõi trời và trần gian, là nơi
trú ngụ và đi về của các đấng thần linh giữa Thiên giới
và hạ giới. Himalaya, theo tiếng Sanskrit, có nghĩa là "nơi
trú ngụ của tuyết" hay "xứ sở của tuyết". Hy Mã Lạp Sơn
là dãy núi cao nhất thế giới với khối băng tuyết vĩnh
cửu là nguồn nước vô tận của sông Hằng. Vì vậy trong
tư duy huyền thoại của người Ấn, sông Hằng là người
con gái của Hy Mã Lạp Sơn. Không những thế, sông Hằng là
con sông bắt nguồn từ trên trời, nó chảy tung bọt dưới
chân thần Vishnu (thần bảo tồn), nên nó có tên là Vishnupadi.
Sông Hằng chảy xuống tưới mát trần gian ngang qua Hy Mã Lạp
Sơn và tiếp tục chảy xuống âm phủ. Vì vậy dòng nước
sông Hằng chảy qua cả ba thế giới: trên trời nó là Ngân
Hà, ở mặt đất nó là Hằng Hà và dưới âm phủ nó có
tên là Patalaganga. Vì nó chảy qua ba thế giới nên còn được
gọi là Tripathaga. Với người Ấn, nước sông Hằng có sức
thanh tẩy rất mầu nhiệm, ai có tội đến tắm nước sông
sẽ trở lại trong sạch. Chính vì tin vào sự thanh lọc đặc
biệt đó mà việc tắm nước sông Hằng đã trở thành một
sinh hoạt tôn giáo hết sức thiêng liêng - Lễ hội tắm Kumbh
Mela - với hàng triệu tín đồ Hindu, không phân biệt già-trẻ,
trai-gái, trí thức- bình dân,từ khắp nơi hành hương về
mỗi năm, với ước mong được tắm dưới dòng nước mát
sông Hằng, để được rửa sạch mọi lỗi lầm, để được
tĩnh tâm, được an ủi. Sông Hằng được xem như một người
mẹ hết sức bao dung nhân từ, thông qua hình ảnh nhân hóa
là một người đàn bà mang trên mình bình nước đầy, đứng
trên một con cá sấu. Vì vậy trong nền văn học Ấn Ðộ
ví nước sông Hằng là sữa trường sinh, Mẹ muôn đời nuôi
dưỡng đàn con khao khát. Sông Hằng là nơi mà mọi tín đồ
Hindu đều mong được ngâm mình trong lòng của nó một lần
trong đời, và cũng mong được diễm phúc nằm lại nơi đó
khi trút bỏ xác thân để đi về thế giới vĩnh hằng. Bởi
vì: "... nó là con sông của người Ấn Ðộ, con sông đã
nắm giữ trái tim của những người dân xứ Ấn, nó đã thu
hút hàng bao nhiêu triệu triệu con người đến bên bờ của
nó từ buổi bình minh của lịch sử." như Jawaharlal Nehru
từng viết trong cuốn "Discovery of India".
Tục
lệ người Ấn thường hỏa táng sau khi chết, khi mãn phần
thi thể người quá cố sẽ được đưa đến một lò thiêu,
hay một bãi đất trống bên sông trên một chiếc cáng được
làm bằng hai thanh gỗ đơn sơ, không có áo quan chỉ một tấm
vải thô quấn quanh thi thể, đám tang chỉ có bốn thanh niên
vác chiếc cáng có thi thể và một vài người thân lặng lẽ
theo sau, chẳng có kèn trống, di ảnh, bát hương, lễ nhạc,
cũng chẳng có tiếng khóc than của những người thân trong
gia quyến, sau khi hỏa thiêu người ta đem tro ném xuống dòng
sông, tất cả diễn ra trong sự lặng im, vô tình. Vâng, cái
dấu chấm hết của một kiếp người trên mảnh đất Ấn
Ðộ huyền bí và khổ đau này lạ thường đến như vậy[1]!
Cái chết đã lạnh lùng, cuộc sống cũng hết sức giản đơn:
hầu hết nhà ở người dân vùng Bắc Ấn rất đơn sơ, không
xây dựng cầu kỳ, cao tầng, chỉ dùng phân bò trộn với
đất sét làm vật liệu đắp lên khung gỗ làm tường, giống
như cách làm nhà đất ở Việt Nam, các gia đình khá giả
cũng xây nhà rất đơn giản, chỉ là những mái nhà nhỏ xây
bằng gạch, và hầu như nhà ở người Ấn đều xây rất
vuông vức, xa xa nhìn như những cái hộp quẹt màu hồng (không
có nóc nhà như ở Việt Nam). Phương thức canh tác nông nghiệp
phần nhiều vẫn còn ở cấp độ thủ công, dùng sức kéo
động vật, máy móc cơ giới hầu như chưa được vận dụng
nhiều vào lĩnh vực này.
Trên
tàu Ấn Ðộ không như ở Việt Nam, cứ mỗi 15 phút tôi lại
tiếp một vị "khách không có thư mời" đến "thăm
hỏi", tất nhiên sau những lời chào hỏi vài giây kia tôi
phải "trả lễ" mỗi lần 2 hoặc 3Rs. Thỉnh thoảng lại
xuất hiện một chú bé có đôi chân tật nguyền, đến chỗ
ngồi của mình xin được quét rác, dù rằng một chú bé khác
vừa làm công việc tương tự vài phút trước đó. Ðồ nghề
làm "kế sinh nhai" của các chú bé hành khất kia đơn giản
chỉ là một chiếc khăn lông rách tả tơi hoặc vài que tăm
nhóm lại, sau khi làm xong công việc "phục vụ vệ sinh hành
khách" từ đầu toa đến cuối toa, chú bé nọ trở lại "kêu
gọi" từng người. Ðương nhiên không ai có thể làm ngơ trước
những hoàn cảnh như vậy. Ðặc biệt nhất là cách xin tiền
của các nhóm "quái kiệt đa hệ", mỗi nhóm có khoảng
4 hoặc 5 người tuổi từ 25 đến 40, thuộc trường phái "chưa
được xếp hạng" (ngôn ngữ văn chương thường gọi là
"bán nam bán nữ"), họ vừa đi vừa hát, vừa hát vừa vỗ
tay, đến đâu cũng đều được mọi người "hoan nghênh" ủng
hộ nhiệt liệt và không ai chối từ việc "tự nguyện móc
túi", người Ấn rất thương những con người có hoàn cảnh
"trái tự nhiên" như vậy. Nếu là du khách nước ngoài,
mỗi hành khách phải chuẩn bị một phần ba số tiền vé
cho khoảng "các chi phí phát sinh" trên tàu, cũng đừng quên
đến các điểm đổi tiền, đổi thành tiền lẻ trước khi
xuất hành.
1:15
trưa, người đàn ông ngồi đối diện nhắc chúng tôi tàu
sắp đến ga Gaya, tôi chuẩn bị hành lý mang lên vai, tạm
biệt và chúc gia đình ông gặp nhiều may mắn, cậu con trai
vẫn vô tư với tập truyện tranh người cha vừa mua ở ga
trước đó, cô con gái không còn bộ mặt "lành lạnh" như
hôm qua, nở nụ cười vẫy tay "Good bye, Bhànte" (Tạm biệt
Thầy). Ðúng 01:25 tàu dừng hẳn. Tàu hỏa Ấn Ðộ không có
cửa sổ song sắt để tuồn hành lý qua như tàu Việt Nam[2],
vì vậy người và hành lý phải xuống bằng cửa chính, bên
trên chen chúc, xô đẩy nhau bước xuống tàu, hàng người
từ dưới ga cũng tranh thủ "tấn công" lên, tất cả tạo
ra một cuộc xô đẩy rất lạ mắt. Tận dụng ưu thế cao
to và chiếc ba lô cồng kềnh sau lưng, tôi vừa đi vừa mở
đường cho Sư thúc theo sau. Sân ga Gaya tuy nhỏ, nhưng cũng
quy mô và tấp nập không kém ga Hòa Hưng- Sài gòn (ga Gaya có
cả thảy 5 Platform, mỗi Platform là mỗi cặp đường sắt),
Tây, Tàu, Nhật, Hàn đủ cả. Khắp sân ga, những người dân
lao động nghèo rời Gaya để đến những thành phố lớn tìm
việc làm, họ ngồi thành từng nhóm chờ đợi những chuyến
"tàu Chợ", họ nằm la liệt khắp nơi đợi những chuyến
tàu có thể miễn phí. Như đã nói châm ngôn sống của người
Ấn là "Nhịn đói, suy tư và chờ đợi", vì vậy người
Ấn "chi tiêu" thời gian rất "hào phóng", họ có
thể nhịn đói, chờ đợi vài chục giờ đồng hồ là việc
rất bình thường. Trong sân ga Gaya các vị "Thần bò Nandi"
hiên ngang đi lại khắp nơi, chúng vô tư thải phân "mọi nơi
mọi lúc", người Ấn cũng "tỉnh queo" và không hề có
bất kỳ phản ứng nào về việc đó, dù rằng các "vị
thần" kia thải "chất thánh" ngay bên chỗ họ ngồi.
Các loài gia súc cũng tranh thủ sinh hoạt chung với con người,
ở Ấn Ðộ người và vật luôn theo phương thức "chung sống
hòa bình". Ấn tượng nhất vẫn là đoàn người đi ngược
dòng sông Hằng, đến đầu nguồn con sông này rước nước
thiêng mang về cho địa phương, cầu nguyện năm ấy địa
phương được mưa thuận gió hòa, nhân dân an lạc; đoàn người
rước nước là những chàng thanh niên Ấn tuổi từ 20-30,
tất cả họ đều mặc chiếc áo đồng phục màu cam sậm
có in hình thần Brahma[3].
Trên đường "mang trọng trách của địa phương" thực hiện
cuộc hành trình "vì làng nước" ấy, họ cũng tranh thủ viếng
Bodhgaya- đó là cơ hội hiếm có để những chàng thanh niên
kia mở chuyến du lịch đến các vùng đất thiêng Ấn Ðộ
miễn phí. Vì họ được nhân viên đường sắt không thu tiền
vé. Một anh chàng trong nhóm rước nước có máy ảnh, mời
tôi chụp chung tấm hình, đó là lần đầu tiên trong đời
anh ta cùng nhóm chụp hình chung với một người ngoại quốc
(theo lời anh ta). Ở Ấn Ðộ, vấn đề phân biệt giai cấp
hết sức rõ ràng, một người thuộc giai cấp trên không bao
giờ chịu chụp hình chung với một người giai cấp thấp
hơn mình, cũng đừng bao giờ nhờ họ cầm máy ảnh chụp
hình một người thuộc giai cấp dưới.
Chú
cháu tôi "hợp tác" với bốn du khách người Pháp thuê chung
một chiếc xe từ ga Gaya vào Bodh-Gaya, anh chàng Tài xế "hét"
cái giá 500 Rs[4],
sau 15 phút làm cái công việc "thuyết phục" cuối cùng anh
chàng tài xế kia phải lắc đầu chịu giá 150Rs (trả giá
theo lối Việt Nam thì người Ấn đầu hàng). Chú cháu tôi
ngồi phía trước, bốn người Pháp nọ chen chúc ở hàng ghế
sau, không ai có thể nhúc nhích, anh chàng tài xế người Ấn
nhìn qua gương chiếu hậu lắc đầu [5]
mỉm cười, một bài hòa tấu nhạc Ấn Ðộ phát ra nho nhỏ.
Con đường từ ga Gaya đến Bodhgaya dài 12Km chạy men theo triền
núi, tương đối sạch và xanh hơn thủ đô Delhi đầy ô nhiễm,
hai bên đường những hàng cây xanh trồng thẳng tắp, cỏ
cũng được trồng gọn gàng và được chăm sóc như tiêu chuẩn
trong các công viên, một cảm giác thanh thản, dễ chịu kể
từ ngày đặt chân đến Ấn Ðộ. Chào bốn người Pháp nọ,
chúng tôi xuống chùa Ðài Loan (Taiwan Temple)[6].
Hôm ấy, Hòa thượng Viện Chủ vừa đi dự hội nghị Phật
giáo Hoa Tông tại Hàn Quốc, sư cô Tri sự cũng trở về Ðài
Loan chuẩn bị cho mùa Vu Lan một tuần trước đó, một vị
Tân Tỳ kheo vừa từ Ðài Loan được "cắt cử" đến trông
coi ngôi chùa và quản lý nhóm thợ xây dựng đang xây cất
một hồ chứa nước. Qua lời giới thiệu, thấy tôi biết
chút ít tiếng Hoa, thầy Từ Phát - tên vị Tân Tỳ kheo nọ-
vui vẻ sắp xếp cho chúng tôi căn phòng mới nhất có cửa
sổ rộng, thầy mời chú cháu tôi hai chai Pepsi ướp lạnh,
uống xong vẫn thấy khát thầy lại đem thêm chai nước suối
Bisleri loại 5 lít, "cơn khát tan biến ngay tức thì" (cười).
Xếp
hành lý vào ngăn tủ, hai chú cháu tôi đi bộ ra hướng Ðại
tháp Giác Ngộ mà người dân ở đây gọi là Chùa chính (Main
Temple), tôi cố bước đi thật nhanh nhưng cái khoảng cách
một ngàn mét lúc ấy như xa nửa ngày. Rồi một phút đôi
mắt dường như cay cay, tôi dừng lại trước cái khung cảnh
vô cùng quen thuộc nhưng cũng thật mới lạ kia, lòng lại
hỏi lòng "mình có mơ không nhĩ!". Tôi bỗng nhận ra hình bóng
chàng du tử dọc ngang bốn biển, vạn dặm cô thân đang cúi
đầu thành kính, khoảnh khắc im lặng trăm năm bỗng hiện
về. Lời chào Bồ đề Ðạo tràng không phát ra thành âm thanh,
không thể hiện trên đôi mắt, tôi lặng lẽ bước qua từng
bậc tam cấp, cố nén lòng mình bước nhẹ để khỏi phá
vỡ không gian yên tịnh vốn có của Bồ Ðề Ðạo Tràng,
nhẹ nhàng vào bên trong tháp - nơi Tôn trí kim thân Ðức Phật
- một bài kinh vô tự không màu sắc, không âm thanh, không
giai điệu, không tiết tấu, lặng thinh mà thông suốt. Tôi
quỳ mọp xuống đảnh lễ Ðấng Từ Phụ, một cảm giác
thiêng liêng vô tận lan tỏa, tôi cố kéo dài thêm cái khoảnh
khắc thiêng liêng kỳ diệu kia, cái khoảnh khắc khó quên
mà trong cuộc hành trình học đạo của tôi chỉ xuất hiện
hai lần: Lần thứ nhất, khi quỳ trước Thập sư nơi Pháp
đàn lãnh nhận y, bát, giới pháp Cụ túc; và lần này được
quỳ chính nơi mà hơn 2500 năm trước, bậc Vương giả có
tên gọi là Tất Ðạt Ða Cồ Ðàm (Siddhattha Gotama) đã nhập
Ðại định, chiến thắng nội tâm lẫn ngoại cảnh, đạt
đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Sau
nghi thức lễ Phật bên trong Ðại tháp, tôi lại nôn nao ra
cội Bồ đề lịch sử. Và tôi đã tận mắt nhìn thấy, chạm
bằng tay vào cây Bồ Ðề thiêng, đảnh lễ Kim cang tòa- nơi
ghi dấu sự chứng đạo của Ðức Phật- mà trước đây chưa
bao giờ tôi dám nghĩ đến, ngay cả trong những giấc mơ. Ðược
biết cây Bồ đề hiện tại chỉ mới hơn 100 tuổi, là con
cháu cội Bồ đề mà Ðức Phật đã tọa thiền hai mươi
mấy thế kỷ trước. Tương truyền, cùng với những thăng
trầm, thịnh suy của Phật giáo, cây Bồ đề đã bao phen bị
đốn chặt, đốt phá, đào gốc chẻ ngọn... nhưng kỳ diệu
thay từ một đống tro tàn lại mọc lên cây Bồ đề khác.
Theo nhà khảo cổ lừng danh Cunningham, cây Bồ đề ngày nay
mọc chính xác nơi cây Bồ đề trước đây. Một giai thoại
kể rằng[7]:
Sau khi Phật nhập diệt, vua A Dục những ngày đầu trị vì
tin theo Bà la môn giáo, vì muốn tiêu diệt mọi dấu vết của
Phật giáo nên đã triệu tập một đoàn quân và đích thân
dẫn đoàn quân kia đến tiêu diệt cây Bồ đề. Vua đã đốn
cây tận rễ, chẻ thân và những nhánh cây thành những miếng
gỗ nhỏ vụn và đổ về phía tây gốc Bồ đề cũ, ra lệnh
cho một người Bà la môn làm lễ thiêu đốt đống gỗ kia
để cúng dường Phạm Thiên. Khi những làn khói từ đống
gỗ bị thiêu kia tan biến, kỳ diệu thay: một cây Bồ đề
đã mọc lên từ đống tro tàn với những cành lá lung linh
như lông vũ, cây này được gọi là "cây Bồ đề từ tro
tàn". Chứng kiến sự nhiệm mầu này, vua A Dục sanh tâm hối
hận, Vua dùng sữa thơm tưới vào gốc cây con, sáng hôm sau
cây đã lớn mạnh... Và cây Bồ đề linh thiêng này, đã làm
Vua phát tâm chăm sóc, bón dưỡng đến nỗi quên cả việc
quay về cung. Thấy vậy Hoàng hậu- một tín đồ Bà la môn
giáo- ngày nọ cho người lén đến đốn và đốt cây kia.
Sáng hôm sau khi Vua đến để chăm sóc cây, chỉ thấy trơ
không gốc cây bị chặt, vô cùng đau lòng mà khóc than. Với
tất cả lòng thành, Vua cầu nguyện và lại tưới gốc cây
bằng sữa thơm, không đầy một ngày cây Bồ đề mọc lại
như cũ. Lại một lần cảm động trước phép mầu, Vua đã
cho xây một bức tường cao 10 feet [8]
chung quanh cây Bồ đề (bức tường này ngày nay vẫn còn).
Một giai thoại khác cho rằng[9]:
việc chặt phá "Bồ đề Linh thọ" nguyên thủy là do Quý phi
Tissarakkhà- người được vua A Dục tuyển vào cung bốn năm
trước khi băng hà- vì vị hoàng đế này đã dành nhiều thời
giờ quan tâm đến cây Bồ Ðề hơn việc chăm sóc bà. Chuyện
kể rằng: Quý phi Tissarakkhà đã dùng thứ gai nhọn có tên
"Mandu" đâm vào thân cây, mà bà tưởng rằng có một tiên
nữ bên trong. Người Ấn tin rằng Mandu là thứ gai có khả
năng hủy diệt nguồn sống của cây cối, làm cho cây cối
phải héo khô. Việc phá hủy cây Bồ đề thay thế (cây con)
gán cho vua Sasànka xứ Ganda (Bengal) vì lý do tôn giáo. Theo ký
sự của ngài Huyền Trang: Vua Sasànka là một người cuồng
tín Ấn giáo, nên rất mực thù ghét Phật giáo, một lần
trong chiến dịch chống Kànya - Kubja (Kanauj) vào đầu thế
kỷ thứ VII, Vua đi ngang qua Bồ Ðề Ðạo Tràng, với cái
nhìn méo mó về Phật giáo Ông không những ra lệnh đốn phá
cây, mà còn truyền cho quân lính đào gốc rễ đem đốt cho
tuyệt giống. Cây thay thế lần thứ hai (cây cháu) lại được
vua Pùrnavarman- vua cuối cùng kế ngôi dòng A Dục ở nươùc
Ma kiệt đà (Magadha)- trồng ngay vị trí cây cũ (cây này được
chiết từ nhánh cây Bồ đề Ðức Phật nhập đại định)[10].
Hôm
ấy, một đoàn Phật tử Tích Lan cũng hành hương đến Bồ
Ðề Ðạo Tràng, theo truyền thống Phật giáo Tích Lan tất
cả Cư sĩ tại gia đều mặc đồng phục màu trắng, đúng
với nghĩa "bạch y cư sĩ", lối trang phục tương tự như trang
phục cổ truyền người Ấn. Cả đoàn khoảng 60 người, đang
ngồi tập trung bên tay trái cách cội "Bồ đề linh thọ" khoảng
chừng 4 mét, bao trùm cả lối đi, tất cả chăm chú nghe Hòa
thượng Viện chủ Mahabodhi Society- người Tích Lan - thuyết
giảng bằng ngôn ngữ địa phương. Trong số thính chúng có
vị Sư ở cùng nhà với tôi ở Kamla Nagar, mà những ngày sau
đó qua Sư tôi được biết: Ở Tích Lan, hàng năm có hai mùa
hành hương về đất Phật, thời gian từ giữa tháng 7 đến
cuối tháng 8 và từ đầu tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Hòa
thượng giảng pháp là bậc Thượng thư của Phật giáo Tích
Lan tại Ấn Ðộ, Ngài giảng về ý nghĩa thành đạo của
Ðức Phật, về tính chất thiêng liêng của Bồ Ðề Ðạo
Tràng và tự hào về công cuộc phục hưng Bồ Ðề Ðạo Tràng
của những người Phật tử Tích Lan.
Sau
khi chiêm bái cội Bồ đề thiêng và đảnh lễ Kim cang tòa[11],
trời đã về chiều Sư thúc dắt tôi đến thăm Thầy Quảng
Trí -người Việt xuất gia tại Hoa Kỳ- đang hành trì lễ
Phật bên cạnh ngôi Tháp. Từ xa nhìn thấy vị Tăng nhỏ con,
mặc pháp phục Bắc tông đang chí thành hướng về ngôi Ðại
Tháp đảnh lễ, tôi quả quyết "Thầy Quảng Trí kia rồi",
tất nhiên là tôi đoán đúng 100%. Qua câu chuyện và lời giới
thiệu của Sư thúc, được biết thầy Quảng Trí là đệ
tử Hòa thượng Thích Ðức Niệm tại Hoa Kỳ, thầy vừa xuất
gia cách đó vài năm, phát nguyện được sang chiêm bái và
hành trì lễ sám nơi đất Phật. Khi đến Sứ quán Ấn Ðộ
tại Hoa kỳ xin Visa sang Ấn, Ðại Sứ Ấn Ðộ hỏi "Mục
đích của Ông đến Ấn Ðộ để làm gì?", sau khi thầy Quảng
Trí trình bày về việc xin đến Ấn Ðộ tu học và hành trì,
Ông Ðại sứ nọ đã cấp Visa dài hạn ở Ấn Ðộ (10 năm).
Khi đến Bodhgaya, Thầy xin vào ở trọ một ngôi Chùa Trung
Quốc (đối diện Chùa Ðài Loan), Hòa thượng Viện chủ chùa
này đồng ý để Thầy lưu trú đến khi nào Thầy không thích
ở nữa thì thôi. Mỗi ngày, bắt đầu từ 8 giờ sáng Thầy
ra tháp hướng về Ðại Tháp và cây Bồ đề hành trì lễ
bái 1000 lạy rồi về chùa thọ trai, chiều lại tiếp túc
1000 lạy nữa, hôm nào khỏe và có "bạn" thì Thầy thọ trì
thêm 500 lạy đến 8 giờ tối. Qua những người quen sau đó,
tôi được biết Thầy đã hành trì như vậy gần năm nay.
Tiếp xúc với Thầy Quảng Trí, tôi cảm nhận được có một
cái gì đó hay hay phát ra từ nơi Thầy, một sự khiêm cung
từ tốn, một sự thành tâm không giải đãi; nhìn tấm ván
mà thầy dùng làm nơi lễ bái tôi thấy tấm ván đã mòn nhẵn
và láng bóng, tất cả như muốn nói lên một sự kiên trì
khó tả... Cách đó 5 mét, một vị sư Tây tạng cũng hành
trì lễ Phật theo cách "Ngũ thể đầu địa" trên một bộ
ván khác, vị Sư này tuổi khoảng 36-40, thân hình cao và ốm,
đôi gò má như bị cóp lại, tuy nhiên đằng sau thân hình
gầy ốm kia Sư có một đôi mắt rất bao dung, từ ái. Nhìn
vị sư Tây Tạng nọ, tôi chợt nhớ đến những bài tập
"Tumo" huyền bí mà người Tây Tạng thường hay mô tả trong
các bài viết, khi người ta nói về Tây Tạng, xứ sở của
"huyền bí và đau khổ". Theo những người dân từng sinh ra
và lớn lên trên xứ sở của những chú Yak[12],
thì các vị Lạt Ma mà họ tin là có thể "tái sanh" là người
hướng dẫn, là Bồ tát thị hiện để cứu giúp người dân
Tây Tạng. "Tumo" trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là "áo khoác
ấm và dịu của thần linh". Người ta kể rằng: mỗi sáng
sớm, khi trời còn mờ tối, các vị Lạt ma lại bắt đầu
luyện tập "bài tập bí hiểm Tumo" và chấm dứt khi ông mặt
trời bắt đầu đi ngủ. Bài tập này thường được các
vị Lạt ma chọn một nơi nào đó trên những đỉnh núi tuyết
cao và có khí hậu lạnh nhất, rồi ngồi xếp bằng trên những
tảng đá băng, tất nhiên chỉ có ít y phục che đậy những
nơi cần thiết, còn những người mới tập thì có thể lót
thêm tấm thảm hay miếng ván mỏng. Những người luyện tập
"Tumo" phải nhịn ăn, nhịn uống hoàn toàn cho đến khi bài
tập kết thúc. Ðêm về, các vị chỉ lót dạ bằng một loại
bánh duy nhất có tên là "Fatou"[13]
rất nghèo chất dinh dưỡng và chỉ uống vài cốc nước.
Thường thì những bài tập khổ luyện như thế này kéo dài
liên tiếp trong ba tháng, sau đó là những cuộc thi tài được
diễn ra trên những ngọn núi cao của dãy Hy Mã Lạp Sơn. Sự
thi tài giữa các vị Lạt Ma diễn ra thật khó mà tưởng tượng,
người ta đua nhau nhúng những chiếc khăn khổ lớn xuống
nước cực lạnh, hoặc trộn chúng vào tuyết rồi khoác lên
mình mỗi người, chiếc khăn sẽ khô dần do nhiệt lượng
tỏa ra từ cơ thể của các vị Lạt Ma, khi mặt trời gác
núi vị nào có nhiều khăn khô nhất sẽ là người thắng
cuộc. Ðến nay, các bài tập "Tumo" vẫn còn là một câu hỏi
lớn đối với những khoa học gia.
5
giờ rưỡi chiều, để khỏi ảnh hưởng đến việc lễ bái
của thầy Quảng Trí, hai chú cháu tôi chào Thầy để đi một
vòng khuôn viên Bồ Ðề Ðạo Tràng. Trên đường đi, thầy
trò tôi gặp anh Nên -một Việt kiều ở Canada- phát tâm làm
công quả cho Việt Nam Phật Quốc tự của thầy Huyền Diệu,
anh mời chúng tôi trưa hôm sau ra Chùa Việt Nam uống "Trà đạo"
(từ do anh dùng). Vừa đi Sư thúc thuyết minh về những di
tích quanh tháp. Dọc theo bờ tường hướng Bắc của đại
tháp (bên tay phải từ cổng chính, và bên trái cây Bồ đề),
một khối đá có các chiều dài, cao, rộng là (18,2m x 0,9m
x 1,2m), bên trên có khắc những biểu tượng hoa sen được
gọi là trụ Chankramenar (còn gọi là trụ Cankamana). Tương
truyền rằng đây là nơi Ðức Phật kinh hành trong tuần lễ
thứ ba sau khi thành đạo. Gần đến cửa vào tháp, bức tường
bên tay phải (từ cổng chính nhìn vào) có bức tượng Quán
Thế Âm Bồ tát tạc theo truyền thống Tây Tạng: là người
nam và khoác trang phục như một vị Pháp vương tử, có rất
nhiều người đang cầu nguyện và nhắm mắt đi thẳng tới
tượng. Ðược biết đây là một trong những tượng rất
linh thiêng, những ai có ước nguyện gì đến đây khấn xin
và nhắm mắt đi thẳng đến tượng ở trước mặt (khoảng
5 mét), nếu ai đến và sờ được chân tượng thì nguyện
sẽ thành, còn như mất định hướng đi lệch quá xa thì xin
lại... những ngày ở đây, nhận thấy số người đến đảnh
lễ và cầu xin Bồ tát Quan Thế Âm rất đông, có cả vài
đôi vợ chồng theo đạo Hồi mới sanh con. Sư thúc chỉ tôi
ba trụ đá nhỏ do vua A Dục trồng ngay trước cổng ra vào
của tháp, rồi dắt đến trụ đá lớn của vua A dục. Trụ
đá lớn vua A Dục được tạc theo khối hình trụ có đường
kính khoảng 0,65 mét, chiều cao khoảng 6 mét, đỡ chân phía
dưới cũng là một khối đá hình vuông có nền tròn... được
trồng trước hồ Mucalinda khoảng 4 mét. Lối vào hồ Mucalinda
là một nhà vòm kiên cố màu đỏ gạch, nhà vòm này chia thành
5 khung nhỏ, ở đó có vài vị sư Ấn giáo đang lâm râm tụng
kinh, một thềm tam cấp 21 bậc từ nhà vòm bước thẳng xuống
hồ, trong hồ trồng rất nhiều loại sen nở rất đẹp, giữa
hồ có tượng Phật ngồi thiền được con rắn hổ mang che
chở. Tương truyền hồ nước này đánh dấu nơi Ðức Phật
ngồi thiền trong tuần thứ sáu sau khi giác ngộ, một giai
thoại kể rằng:[14]"Tuần
thứ sáu. Từ cây Ajapàla Ðức Phật sang qua cây Mucalinda và
ngự tại đây một tuần lễ để chứng nghiệm hạnh phúc
giải thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to kéo đến. Trời
sẫm tối dưới lớp mây đen nghịt và gió lạnh thổi suốt
nhiều ngày. Vừa lúc ấy, Mucalinda- Mãng xà vương- từ ổ
chun ra, uốn mình quấn xung quanh Ðức Phật bảy vòng và lấy
cái mỏ to che đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không
động đến thân Ðức Phật. Ðến cuối ngày thứ bảy, thấy
trời quang mây tạnh trở lại Mucalinda tháo mình trở ra và
bỏ hình rắn hóa thành một thanh niên chắp tay đứng trước
mặt Ðức Phật". Hồ Mucalinda có diện tích khoảng (150mx70m),
trong hồ có rất nhiều cá do Phật tử mang đến phóng sanh,
tất cả chúng rất to, mỗi con ước lượng khoảng 5 hoặc
6 kg, thỉnh thoảng chúng tung hứng nhảy lên và rơi xuống
làm nước tung toé cả một vùng, chúng rất háu ăn chỉ thấy
bóng người là chúng thi nhau "biểu diễn nhào lộn", một ổ
bánh mì rơi xuống chúng sẽ làm sạch trong vòng vài giây.
Quanh hồ có nhiều người đang mua thức ăn rải xuống bố
thí cho chúng: hai cô người Nhật, bốn người khách Tây, mười
mấy Phật tử Tích Lan và tôi cũng có trong số những người
bố thí ấy; có cả một "dịch vụ" bán thức ăn cho cá do
một số thanh niên trong vùng thực hiện, một bịch nhỏ thức
ăn của cá bao gồm: bánh quy vụng, bắp rang, chapati vụng,
gạo cốm rang... được bán với giá từ 15 đến 20Rs và bọn
cá háu ăn kia chỉ thanh toán trong chớp mắt. Nghe nói ngày
trước vào mỗi buổi sáng, những tu sĩ Ấn giáo thường đến
hồ này tắm và dâng nước cúng Phật cùng mặt trời, nhưng
từ khi "bọn cá" này xuất hiện và lớn lên rất nhanh thì
họ tuyên bố rút lui, dành chỗ ấy lại cho chúng. Trời cũng
đã chập tối, theo lời dặn của thầy Từ Phát chúng tôi
phải về Chùa sớm, để đảm bảo an toàn chùa phải khóa
cổng "giới nghiêm" lúc 7 giờ. Về đến Chùa, thầy Từ Phát
đã dọn sẵn một mâm cơm với thức ăn Ðài Loan do chính
tay thầy làm, Sư thúc "trì ngọ" nên phần cơm ấy coi như
tôi hưởng trọn, thú thật từ ngày đến Ấn Ðộ chưa bao
giờ tôi ăn một bữa ngon lành đến như vậy, phần cơm cho
cả hai người tôi "thanh toán" chỉ trong chốc lát... Xong bữa
cơm, thầy Phát lại mời chúng tôi dùng loại trà nổi tiếng
của Ðài Loan "Ô Long trà", vừa thưởng thức trà tôi vừa
làm "thông dịch viên" (cái vốn tiếng Hoa dở ẹt). Thầy Phát
hướng dẫn hai chú cháu tôi cách pha chế như thế nào để
có một bình trà ngon, những vật dụng dùng để lấy trà,
loại bình cần dùng để chế trà, thời gian chờ bao lâu để
trà tỏa vị thơm... rồi Thầy lại bắt đầu nói về bản
thân từ ngày đến Ấn Ðộ. Thầy kể, từ lúc đặt chân
đến Bồ Ðề Ðạo Tràng, Thầy chỉ "ngang nhiên, công khai"
ra Ðại Tháp Giác ngộ lễ Phật một lần, rồi các lần sau
chỉ diễn ra âm thầm vào lúc mờ sáng, đi đến đâu cũng
thấy người ta xin tiền, cho ít thì không chịu lấy (vì Thầy
"mang quốc tịch Ðài Loan"), cũng tương tự như tôi Thầy đã
khóc ngay ngày đầu tiên đến Ấn Ðộ, với thầy mọi vật
ở Ấn Ðộ đều buồn và mờ mịt như cái nghèo đói của
người dân tiểu bang Bihar. Chùa rộng thênh thang, một mình
Thầy phải "tự sanh tự diệt" lo liệu mọi việc trong ngoài,
nào chỉ huy đám thợ Ấn Ðộ tay nghề dở ẹt, xây xong phải
phá ra làm lại, hết ngày này sang ngày khác, thỉnh thoảng
chúng lại "cắt bớt" tiền mua vật tư, nào phải quét dọn,
nấu nướng, trực điện thoại... những thứ đổ dồn lên
đầu mà thầy Phát phải khổ công hoàn thành. Khó khăn nhất
là Thầy không nói được tiếng Anh, tiếng Hindi thì thầy
cũng không biết, mọi thứ cứ cuống cuồng từ việc chỉ
huy đám thợ chỉ biết nói tiếng Hindi, đến những lần nhấc
điện thoại từ đầu dây bên kia "sổ" nguyên một tràng tiếng
Anh, thế là Thầy chỉ "Sorry, I can’t speak English. Thanks" (Xin
lỗi, Tôi không thể nói tiếng Anh. Cảm ơn) rồi cúp máy.
Thấy hai chú cháu tôi có thể hiểu được lòng mình, thầy
Phát nói thao thao không dứt, Thầy trút hết nỗi niềm buồn
bực từ ngày sang Ấn... những bình trà Ô Long nối nhau đã
giữ chúng tôi lại với Thầy đến gần 12 giờ rưỡi đêm.
Thấy người "thông dịch" có vẻ mỏi mệt, thầy hẹn câu
chuyện nối tiếp vào đêm sau.
Ðêm
ấy, Bodhgaya điện cúp liên tục, trong phòng nóng như lửa
đốt, chùa Trung Quốc bên cạnh lại mở máy phát điện ầm
ĩ suốt đêm, hai chú cháu tôi không tài nào chợp mắt, Sư
thúc bắt đầu câu chuyện về Bodhgaya (còn gọi Buddhagaya,
tức Bồ Ðề Ðạo Tràng). Bồ đề Ðạo tràng là địa danh
mà vào một đêm năm 528 trước công nguyên, dưới gốc cây
Bồ Ðề nhà tu hành Tất Ðạt Ða đã thành Phật. Bồ Ðề
Ðạo Tràng thuộc quận Gaya, tiểu bang Bihar- một tiểu bang
nghèo thuộc khu vực Ðông Ấn Ðộ- người Ấn Ðộ thường
dùng danh từ "dân Bihar" (Bihari) để chỉ những người nghèo
đói, dốt nát. Bởi lẽ, tiểu bang này là một trong những
tiểu bang có số lượng dân nghèo, đói rách, thất nghiệp,
ăn xin, thất học và cướp giật cao nhất nước. Theo bộ
sách "Dreamland's Atlas of India" của hai tác giả Ved Prakash và
Prashant Gupta, trang 87 có đoạn chép: "Bihar là một trong những
tiểu bang nghèo và đông dân nhất Ấn Ðộ"[15].
Cũng theo bộ "Dreamland's Atlas of India": Tiểu bang Bihar có diện
tích 94163 km2, thủ phủ là thành phố Patna, dân số lên đến
82.878.796 người với mật độ phân bố cư dân là 880người/km2,
số người biết đọc viết là 47.53%, với 30491 km đường
bộ (kể cả Jharkhand) và 5333 km đường sắt (kể cả Jharkhand),
Hindi được sử dụng làm ngôn ngữ chính, nhiệt độ mùa
hè từ 20 đến 47 độ C, mùa đông từ 4 đến 28 độ C, mùa
mưa từ tháng Sáu đến tháng Mười hàng năm. Bodhgaya nằm
cách phố cổ Gaya khoảng 12 km về phía bắc, cách thủ phủ
Patna 106 km, sân bay quốc tế gần nhất là Calcutta, sân bay
quốc nội gần nhất là Patna. Ngày nay, đến Bodhgaya du khách
sẽ thấy đây là một thị trấn sung túc, thịnh vượng với
những công trình, các thắng tích thời đại mà các nước
Phật giáo như: Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam, Miến Ðiện,
Ðài Loan, Thái Lan, Tích Lan, Tây Tạng, Bhutan, Lào, Népal...
đã và đang xây dựng trên vùng đất này[16].
Bodhgaya cũng trở thành một thị trấn nhỏ đẹp với đầy
đủ tiện nghi: khách sạn, ngân hàng, bưu điện, bệnh xá,
chợ, trung tâm Internet, đại lý du lịch mọc lên như nấm.
Bodhgaya trở thành một địa danh thu hút du khách tham quan đến
từ các nước trên thế giới, đặc biệt đây là Thánh địa
không thể thiếu trong các cuộc hành hương của những người
Phật tử. Hết câu chuyện về thị trấn Bodhgaya, lại tiếp
về chuyện chùa chiền ở quê nhà, hai thầy trò lại bàn đến
phương cách thỉnh Sư Ông chúng tôi - Hòa thượng Viện chủ
Tổ Ðình Phổ Bảo- cùng Chư Tôn Ðức trong Tỉnh nhà qua đây
chiêm bái một lần. Rồi những câu chuyện về Tổ đình Phổ
Bảo, về chùa Hưng Khánh kéo dài đến gần 5 giờ sáng.
Chú
thích
1.
Có bốn loại người sau khi chết không đem đi thiêu và ném
tro xuống sông:
(1)Bậc
hiền trí: có công năng tu tập loại bỏ được các phiền
não, tội lỗi. Không cần phải rửa sạch tội lỗi bằng
nước sông Hằng.
(2)Em
bé mới sanh: còn trong trắng, chưa tạo tội lỗi.
(3)Người
bị rắn cắn: có thể được cứu chữa bởi một loại linh
dược nào đó khi cơ may này đến.
(4)Người
bị trúng độc: như người bị rắn cắn.
2.
Trên tàu Ấn Ðộ chỉ có các của sổ dành cho những trường
hợp khẩn cấp gọi là "Emegency Window", cứ 8 giừơng nằm
có 2 cửa sổ khẩn cấp, trên mỗi cửa sổ ấy một hàng
tiếng Anh màu đỏ in đậm, nguyên văn như sau: “EMEGENCY
WINDOW: Open during emegency only".
3.
Với dân số là 1.027.015.247 người có đến 83% dân số Ấn
Ðộ theo đạo Hindu, Hồi giáo 11%, Thiên chúa giáo 2%, Sikh 2%
và số còn lại là Phật giáo, Kỳ na giáo, Bái hỏa giáo.
Hindu thờ rất nhiều thần, tuy nhiên ba vị thần tượng trưng
cho ba nguyên lý của vũ trụ được tôn thờ nhiều nhất:
(1)Brahma
: Vị thần tượng trưng cho sự sáng tạo, thần Brahma có bốn
đầu và giáo lý Hindu cho rằng Brahma là vị thần đã tạo
ra quả địa cầu này. Phối ngẫu với thần Brahma là nữ
thần Sarasvati (nữ thần nghệ thuật và trí thức).
(2)Vishnu
: Vị thần tượng trưng cho sự bảo tồn, duy trì. Thần Vishnu
thường được trình bày qua các hình tượng ngồi trên hoa
sen, nằm trên con rắn hổ mang, cưỡi trên lưng con đại bàng
hay cầm rìu...Phối ngẫu với thần Vishnu là nữ thần Lakshmi
(nữ thần may mắn và sắc đẹp).
(3)
Shiva : Vị thần tượng trưng cho sự hủy diệt, chiến tranh,
...Thần Shiva thường được trình bày qua hình tượ`ng ngồi
trên con bò mộng Nandi. Phối ngẫu với Shiva là nữ thần Parvati
(nữ thần Hương quế).
4.
Giá 1 Rupee Ấn Ðộ (Rs) tương đương 320 đồng Việt Nam(VND),
hối giá vào cuối tháng 07/2000 là: 100 USD ~ 4520 Rs.
5.
Khác với người Việt Nam, thay vì gật đầu khi đồng ý một
vấn đề nào đó, thì người Ấn lại lắc đầu.
6.
Chùa Ðài Loan tại Bồ Ðề Ðạo Tràng thuộc Hội Phật giáo
Hoa Tông Quốc tế, do Hòa thượng Ngộ Nguyên sáng lập và
trụ trì.
7.
Rút ra từ tập "Xứ Phật - Tình quê" tập 1 của hai thầy:
Hạnh Nguyện & Hạnh Tấn.
8.
Feet là đơn vị đo chiều dài của người Anh, người ta tính
như sau: 3 feet của Anh (ft) = 1 yard của Hoa kỳ (yd) = 0,914 metre
(m).
9.
Dựa theo tư liệu từ tập "Ðức Phật lịch sử" (The Hictorical
Buddha) của H.W Schumann do Trần Phương Lan dịch sang tiếng Việt,
Viện nghiên cứu Phật học Viêt Nam, 1997, tr. 152.
10.
Tương truyền: Cây Bồ đề hiện nay tại Bồ Ðề Ðạo Tràng
được chiết từ nhánh của cây Bồ đề ở Anuràdhapura (Tích
Lan). Cây Bồ đề ở kinh đô Anuràdhapura là một nhánh của
cây Bồ đề nguyên thủy (cây Ðức Phật ngồi thiền), do
chính vua A Dục chiết tặng cho vua Devànampiyatissa, vào năm
242 trước công nguyên. Và cây Bồ đề ở kinh đô Anuraødhapura
đã liên tục cung cấp nhánh hoặc hạt giống để thay thế
cây Bồ đề ở Ấn Ðộ sau nhiều lần bị chặt phá.
11.
Kim cang tòa (Vajrasana, Diamond throne) nằm giữa cây Bồ đề
và Ðại tháp, được làm bằng sa thạch mạ vàng, có các
chiều dài, rộng và cao là: 2,28 x 1,5 x 0,6 (m). Bên trên tòa
được trải một tấm tọa cụ và Phật tử đặt vào đó
các loài hoa thơm, vải vóc...cúng dường.
12.
Yak là một loại bò có lông dài màu đen ở Tây Tạng. Yak
được xem như con vật biểu tượng trong văn hóa Tây Tạng.
13.
Fatou là loại bánh giống như bánh mì, có hình tròn, đây là
món ăn phổ thông của người Tây Tạng.
14.
Theo "Ðức Phật và Phật pháp" (The Buddha anh His teachings) của
ngài Nàrada Thera, do Phạm Kim Khánh dịch sang Việt ngữ, Thành
hội Phật giáo Tp.HCM, 1991, tr. 69.
15.
Nguyên văn tiếng Anh là: " Bihar is one of India's poorest states
and the most densely populated",
16.
Theo cuốn "Dreamland's Atlas of India", trang 88 viết:" Buddhist Temples
built by foreign Buddhists: Bodhgaya abounds with monasteries and temples
built by the Buddhist from various countries, including Japan, China, Myanmar,
Thailand, Sri Lanka, Tibet, Vietnam, Laos, Nepal and Bhutan. All the Buddhist
temples have the images of Buddha.
