Không
chỉ riêng mình tôi, mà hàng triệu triệu những người con
Phật từ khắp nơi trên thế giới đều mơ ước được đến
nơi ấy một lần, dù chỉ một lần duy nhất trong đời -
Bồ đề Ðạo tràng - một trong bốn Thánh tích [1]
quan trọng nhất của Phật Giáo.
Ðến
Ấn Ðộ 20 ngày, sau khi hoàn tất mọi thủ tục nhập học
tại Trường Ðại học Delhi, vào một buổi chiều Sư thúc
Ðồng Văn ngỏ ý mời Sư Giác Ngôn - vừa từ Việt Nam trở
lại Delhi tiếp tục công việc viết luận án Tiến sĩ Phật
học - cùng tôi đi Bồ đề Ðạo tràng chiêm bái và lễ Phật.
Vì Thầy vừa hoàn thành luận án Tiến sĩ Phật học, với
đề tài "A Study of the Buddhist view of the World and Man as depicted
in The Abhidharmakosa of Vasubandhu", nên muốn về Bồ đề Ðạo
tràng để gọi là "trả lễ". Với tôi, đó là cơ duyên tốt
để thực hiện ước mơ mà từ lâu tôi hằng ôm ấp. Nhớ
hồi còn theo học ở Trường Cơ Bản Phật học Vĩnh Nghiêm,
vào những năm của thập niên 90, lúc bấy giờ Cố Hòa thượng
Thích Minh Thành - Vị giáo thọ môn Luật học khả kính của
chúng tôi- có dịp hành hương đến Ấn Ðộ, sau khi chiêm
bái các Thánh tích trở về, đến giờ Luật học Hòa thượng
đem những câu chuyện, hành trình về chuyến hành hương của
Ngài kể cho cả lớp, chúng tôi yên lặng, chú tâm lắng nghe
dù rằng "108 anh hùng Lương Sơn Bạt" của lớp Tăng
B lúc bấy giờ luôn vượt trội hơn những lớp khác về nhiều
"thành tích". Bởi lẽ Lớp Tăng B là nơi các "Hảo Hán" cả
nước tụ hội về: Minh Phước đen, Phước Từ cao, Hạnh
Minh nhí, Tâm Khánh già, Thiện Hữu ốm, Thiện Hiền vé số...
những "tay tổ" nổi tiếng của lớp hôm ấy bỗng chăm chú
lạ thường. Tôi cũng là một thành viên của nhóm "các tay
tổ" đó yên lặng lắng nghe. Tôi nuôi trồng ước mơ được
đi Ấn độ chiêm bái các Thánh tích từ đó.
Trước
ngày ra đi một vài sự cố nho nhỏ xảy ra, sư Giác Ngôn "tuyên
bố rút lui", chú cháu tôi quyết định lên đường dù trong
túi có phần không mấy "trù phú" lắm. Hơn nữa trong
lòng tôi cứ nao nao như người con đã về đến cố hương
nhưng vẫn chưa về lại ngôi nhà xưa, ở đó có người mẹ
hiền đang mòn mỏi ngóng trông con bao ngày tháng.
Ngày
01 tháng 08 năm 2000
Chiều
ngày 01/ 08/ 2000, chú cháu tôi lên ga xe lửa New Delhi (New Delhi
Railway Station) mua vé đến Gaya. Ðó là lần đầu tiên tôi
chứng kiến sự vĩ đại của sân ga New Delhi, sân ga lớn gấp
vài chục lần ga Hòa Hưng, Sài gòn - Việt Nam. Ga có 24 cặp
đường sắt, mỗi cặp đường sắt là mỗi tuyến đường,
mỗi loại tàu có cổng vào từ cầu vượt gọi là "Platform",
mỗi Platform có hai cặp đường sắt song song. Ðể đến được
chuyến tàu của mình, hành khách phải vượt qua chiếc cầu
vượt dài hơn cây số được bắc ngang trên cao, có cầu thang
đi xuống từng cổng (mỗi cổng có 2 Platform); muốn biết
tàu của mình thuộc cổng số mấy, hành khách phải đến
xem bảng thông tin lịch tàu chạy ở cổng chính, bảng thông
tin này thông báo các chi tiết cần thiết bằng điện tử
giống như "lịch bay" tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ví dụ: chuyến
tàu chúng tôi đi hôm ấy có những thông tin cần thiết sau:
"PURSHOTTAM EXP Train No.2802, Platform No.08, Boarding on 10:35 P.M 03/08/2000,..."
(Tên- số tàu, cổng vào, ngày giờ lên tàu...). Nếu hành khách
đến quá sớm trước giờ ban điều hành nhà ga lên lịch,
muốn có thông tin một cách nhanh nhất thì không ai khác ngoài
các thành viên của "tập đoàn Cửu Vạn"[2]
, họ sẽ cho ta biết chính xác cổng số mấy, đi bằng cách
nào...Và nếu ai đó mang theo lượng hành lý khá nhiều, thì
họ sẽ là người giúp việc khá đắc lực với chi phí hết
sức rẻ: chỉ cần trả vài chục Rupees (Rs), anh chàng khuân
vác sẽ chuyển cho khách cả tạ hàng hóa từ cổng chính lên
đến chỗ ngồi trên toa tàu cách hàng cây số, và họ chỉ
nhận thù lao trước lúc tàu xuất phát vài phút. Nhân đây
có lời khuyên đối với những ai lần đầu đến Ấn Ðộ
muốn nhờ đến "lực lượng cộng sự" này: "Hãy kiểm tra
số thẻ hành nghề đeo trên cổ (hay tay trái) của các chàng
thanh niên khuân vác, trước khi giao phó hành lý". Vì sân ga
New Delhi khá rộng và hết sức nhộn nhịp, nếu ai đó quên
thực hiện điều này thì số đồ vật mang theo kia có thể
sẽ không bao giờ trở về với chủ nó nữa. Tất nhiên không
phải lúc nào hành khách cũng gặp phải những chàng phu khuân
vác có "máu gian" (Ở đời, người nghèo đôi khi bị
người ta nhìn thành kẻ xấu!). Những người hành nghề này
hầu hết đều vạm vỡ, khoác trên người bộ y phục màu
đỏ sậm, làn da đen nhánh, trên đầu là cái vòng đội (không
biết gọi thế nào cho chính xác, vì trên đầu họ đội một
vật như khăn đóng của các Cụ ông ở Việt nam, cái khăn
đóng này được quấn bằng rơm và vải, dùng để đỡ các
vật được vác trên đầu). Người Ấn không biết dùng đôi
vai để gánh vác như người Việt, tất cả các vật nặng
đều dùng đầu để di chuyển, nhìn họ thao tác rất nhanh
và dường như các cơ bắp đều dồn lên làm tăng thêm sức
chịu đựng của bộ phận phát xuất ra mọi tư tưởng của
con người- cái đầu. Nếu ai đó thắc mắc "tại sao?" thì
hãy đến "phỏng vấn" người Ấn, tác giả bài viết
này chưa đủ "tự tin" để thực hiện điều đó.
Chú
thích:
1.
Bốn
Thánh tích chính của Phật giáo là: Lumbini (Lâm Tì Ni) nơi
Phật đản sanh, Bodhgaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng) nơi Phật thành
đạo, Sarnath (Lộc Uyển) nơi Phật thuyết pháp lần đầu
tiên cho năm anh em Kiều Trần Như và Kushinarga (Câu Thi Na) nơi
Phật nhập niết bàn.
2.
Phu khuân vác.
