KHÁM
PHÁ ÔNG CHỦ
Thiền
viện Trúc Lâm - Đà Lạt, ngày 08-10-2004
Hôm
nay Tăng Ni về đây nghe tôi nói chuyện, vì gần hai năm không
thuyết pháp nên hơi ngắn, tôi nói nhiều không được, nói
từ từ chút chút thôi. Đề tài buổi nói chuyện hôm nay là
Khám phá Ông chủ. Đơn giản vậy!
Chúng
ta ai cũng có Ông chủ, nhưng hỏi Ông chủ ở đâu thì không
biết. Lâu nay người tu thường mắc bệnh tìm bên ngoài hơn
là quay lại mình. Giờ đây khám phá được Ông chủ là niềm
vui lớn của tôi. Tôi nghĩ cũng là niềm vui chung của tất
cả Tăng Ni, Phật tử. Lý do gì tôi khám phá được Ông chủ?
Đó là đi sâu trong vấn đề.
Cách
đây mười hai hôm, 7 giờ tối ngày 13 tháng 08 năm Giáp Thân,
tôi ngồi thiền tới khoảng 8 giờ. Được yên định khoảng
thời gian không biết bao lâu, tôi tự phản chiếu lại cái
định của mình sao không được rõ ràng thường biết như
định nghĩa Chân tâm. Vì vậy tôi hơi ngờ, không chấp nhận
được. Bởi không chấp nhận nên tôi dừng lại, tỉnh táo
đặt câu hỏi: “Nếu là Chân tâm của mình, đòi hỏi phải
thường xuyên rõ ràng. Bây giờ mình yên định mà hơi mờ
mờ không biết rõ ràng. Đó không phải là Chân tâm.”
Khi
ấy tôi ngồi lại bình thường, đặt từng câu hỏi để
khám phá ra Chân tâm là gì, ở đâu? Bấy giờ tôi nhớ trong
kinh, Phật nói Chân tâm ở ngay sáu căn, nơi sáu căn đầy
đủ Chân tâm. Tôi ngạc nhiên tự hỏi: “Nơi sáu căn, làm
sao mình biết được Chân tâm?” Ngồi một hồi tôi tỉnh,
nhớ lại trong Duy thức học nói, niệm đầu là chân, niệm
thứ hai thứ ba là vọng. Tôi nghĩ khi mắt mở ra nhìn thấy
cái này, cái nọ, phân biệt tốt xấu là rơi vào niệm thứ
hai. Nó đi một mạch chớ không dừng. Nếu nói Chân tâm là
niệm đầu nơi sáu căn, làm sao mình giữ được niệm đầu?
Vừa thấy liền chạy qua niệm thứ hai, thứ ba mất. Tôi nghĩ
muốn nhận ra Chân tâm thì phải biết rõ Chân tâm.
Trong
nhà Phật thường nói Chân tâm là cái thường biết rõ ràng,
tỉnh táo sáng suốt chớ không mờ mờ. Như vậy khi sáu căn
tiếp xúc với sáu trần mình biết rõ ràng, làm sao dừng ở
chặng đầu, đó là điều quan trọng. Ngồi gẫm thật kỹ,
tôi thấy bây giờ mình nên đặt thành phương tiện. Vừa
nhìn chưa cần thấy cái gì, tự nhủ mắt biết thấy là Chân
tâm. Biết là tâm. Thấy được cảnh, ngay niệm đầu đừng
có niệm thứ hai thứ ba. Thấy biết là Chân tâm, còn thêm
cái gì nữa thì quá Chân tâm rồi.
Ngay
nơi sáu căn, mắt thấy - biết - dừng. Tai nghe - biết - dừng.
Thân xúc chạm - biết - dừng, không cho đi qua niệm thứ hai
thứ ba. Tôi sử dụng như thế thấy có hiệu nghiệm. Khi thấy
nói Chân tâm, nó dừng lại. Khi nghe nói Chân tâm, nó dừng
lại. Vừa khởi phân biệt nói Chân tâm, nó dừng lại. Nếu
để nó đi thì nó đi luôn một mạch, chớ không dừng. Muốn
nó dừng phải chận lại, bằng cách đem Ông chủ ra chận.
Vừa thấy là Chân tâm, vừa nghe là Chân tâm, sáu căn vừa
tiếp xúc với sáu trần, vừa ở niệm đầu là Chân tâm.
Mới thấy Chân tâm ở sẵn nơi mình, tại vì chúng ta cứ
cho qua hoài nên không thấy. Bây giờ ngay nơi niệm đầu nhận
là Chân tâm thì các niệm khác không xen vào. Tôi ứng dụng
tu phương pháp này thấy có hiệu nghiệm.
Trong
sáu căn, nổi nhất là mắt, kế đến tai, kế nữa là thân.
Đó là ba căn nổi, luôn tiếp xúc với bên ngoài. Còn mũi,
lưỡi, ý thì chìm, khi có khi không. Vì vậy tôi lấy ba căn
nổi làm chỗ tựa. Mắt biết thấy là Chân tâm. Tai biết
nghe là Chân tâm. Thân biết xúc chạm là Chân tâm. Biết thấy,
biết nghe, biết xúc chạm đều là Chân tâm hiện tiền, không
có niệm nào nữa.
Như
vậy tự mình thấy mình có cái chân thật hiện tiền, chẳng
phải không. Lâu nay chúng ta quên đi, thấy thì thấy cái gì,
nghe thì nghe cái gì, xúc chạm thì xúc chạm cái gì… cứ
tìm cái thứ hai thứ ba, từ đó dẫn mình đi luôn, quên mất
cội gốc. Bây giờ vừa thấy, vừa nghe, vừa biết xúc chạm
liền đặt thẳng “Chân tâm”, nó dừng ngay, không bước
qua niệm thứ hai thứ ba. Đó là tự mình quay trở về với
chính mình, không chạy ra ngoài nữa.
Thí
nghiệm được rồi, tôi nghĩ nếu Chân tâm ở khắp sáu căn,
mình biết ba căn chưa đủ. Còn ba căn kia tôi cũng dùng phương
tiện như mắt biết thấy là Chân tâm, tai biết nghe là Chân
tâm, mũi biết mùi là Chân tâm, lưỡi biết nếm là Chân tâm
v.v… tôi đi một mạch, tới ý biết pháp trần là Chân tâm.
Chỉ biết thôi, không có phân biệt. Như vậy sáu căn tiếp
xúc với sáu trần, biết là dừng ngay. Ngay sáu căn vừa tiếp
xúc sáu trần mình chận đứng, nó không chạy nữa. Tự nhiên
tôi phấn khởi trong lòng, nhớ lại câu chuyện ngài Đại
An đến hỏi Tổ Bá Trượng:
- Bạch
Hòa thượng, thế nào là Phật?
Tổ
Bá Trượng nói:
- Như
người cỡi trâu tìm trâu.
Chúng
ta có giống cỡi trâu tìm trâu không? Phật ở ngay nơi sáu
căn mà mình bỏ, cứ tìm Phật bên ngoài, khác gì cỡi trâu
tìm trâu. Cho nên khi thấy được Chân tâm sẵn nơi sáu căn,
chúng ta tự nhận lấy, không tìm Phật ở ngoài nữa. Đến
đây tôi nhận ra cái chân thật của chính mình ngay nơi sáu
căn, với điều kiện chỉ có niệm đầu thôi thì là chân,
đừng để tới niệm thứ hai thứ ba là qua vọng thức rồi.
Từ
hôm đó, mỗi đêm ngồi thiền tôi hết buồn ngủ. Nhớ sáu
căn, nhớ ông Phật của mình, nhớ hoài hết buồn ngủ. Từ
sự tỉnh táo đó tôi đi sâu thêm. Sáu căn là cái chân thật
hiện có của chính mình, biết sống ngay đó là biết sống
trở về với mình. Trở về với mình là biết được Ông
chủ. Đến đây tôi đặt câu hỏi: “Chân tâm là gì?” Lâu
nay chúng ta cứ định nghĩa, Chân tâm là Tâm chân thật của
chính mình. Tâm chân thât là cái biết chân thật. Bây giờ
tôi không định nghĩa mà tự hỏi: “Chân tâm là gì?” Tôi
thấy Chân tâm là Ông chủ thường biết rõ ràng, trùm khắp
sáu căn, không có tướng mạo, không có sanh diệt. Định được
nghĩa đó rồi, tôi thấy mình có Ông chủ hay nói cách khác
là khám phá ra Ông chủ.
Khi
khám phá được như vậy, tôi thấy trên đường tu, chúng
ta ứng dụng lối tu trở về với Ông chủ là lối tu gần
nhất, còn những lối tu khác hơi xa hơn. Tôi nghĩ hiện mình
có Ông chủ sẵn nơi sáu căn, làm sao đừng vượt qua Ông
chủ, chạy đầu này đầu nọ. Tới Ông chủ là dừng, như
vậy trở về không khó. Vì thế khi thấy tôi nói biết thấy,
khi nghe tôi nói biết nghe, khi xúc chạm tôi nói biết xúc chạm.
Biết thấy là Chân tâm, biết nghe là Chân tâm, biết xúc chạm
là Chân tâm. Ngang đó nghĩ là Chân tâm thì các niệm khác
không có. Cho nên tu bằng cách này gọi là đánh phủ đầu.
Đem Ông chủ ra dọa, đánh cho các niệm thứ hai thứ ba chạy
mất. Vừa thấy biết là thấy, nếu không biết làm sao thấy?
Biết tức là thấy, thấy đó là Chân tâm, có ai chen vô được?
Đằng này mình biết liền hỏi “cái gì”, nên bị nó dẫn
đi một mạch.
Tất
cả những thấy, nghe… đều là biểu hiện cái chân thật
của chính mình. Khi ứng dụng như vậy tôi thấy giờ ngồi
thiền chỉ ròng rã trong cái biết chân thật thôi. Thấy là
Chân tâm, nghe là Chân tâm, cái gì cũng Chân tâm, cả ngày
mình sống trong Chân tâm mà không hay. Tìm ra tới đó thì hết
giờ ngồi thiền, tôi xả thiền rồi đi ngủ, nhưng ngủ không
được. Nó phơi phới trong lòng, nhẹ nhàng làm sao! Mới thấy
lâu nay mình cứ tìm bên ngoài.
Ngồi
thiền muốn định để thấy Chân tâm, nhưng định lại thấy
mờ mờ. Chân tâm là rõ ràng thường biết mà thấy mờ mờ
thì đâu phải Chân tâm. Vì vậy tôi không chấp nhận thấy
mờ mờ, đòi hỏi rõ ràng thường biết. Muốn rõ ràng thường
biết phải tỉnh táo, hơi mờ mờ không được. Lâu nay mình
quan niệm hơi lệch một chút, ngồi thiền muốn được yên
nên kềm, làm như bị say trong định. Định rồi có khi quên
ngày quên tháng, tưởng như vậy rất tiến bộ, nhưng định
như thế là quên mình.
Lần
này tôi thí nghiệm, ngồi thiền bắt buộc quên hết không
còn biết gì. Quả nhiên tôi quên hết. Tới hồi xả thiền,
không biết nãy giờ mình làm cái gì. Tôi nghĩ đó là định
nhưng thuộc về si định, vì định mà không biết gì. Định
sáng sủa mới định trong Chân tâm. Chân tâm mà không sáng
sủa thì đâu được Chân tâm. Nên đôi khi chúng ta cũng bị
lầm, cứ ngỡ ai ngồi được năm ngày, bảy ngày cho là đại
định. Định đó thuộc về Thanh văn, không phải định của
Thiền tông. Thiền tông là định trong cái rõ ràng thường
biết. Thường biết thì không quên, quên thì không định.
Đó là những kinh nghiệm tôi trải qua, nhất là trong thời
gian gần đây.
Từ
hồi đầu năm đến giờ trong thất, tôi hơi nặng về Bát-nhã,
nghiên cứu sâu về Bát-nhã. Càng đi sâu vào Bát-nhã tôi lại
cảm thấy lo. Nếu thấu triệt lý Bát-nhã để tu kết quả
cũng tốt, nhưng đem truyền bá nói không ai dám nghe, vì cái
gì cũng không hết, tam thiên đại thiên thế giới cũng không
thì cái gì có? Nếu không hết làm sao Phật tử dám tu? Cho
nên đi sâu trong lý Bát-nhã chừng nào tôi thấy càng khó truyền
bá. Đang băn khoăn về lẽ đó thì hôm ngồi thiền này, tôi
thấy được Ông chủ hiện tiền, ai cũng có. Ông chủ đã
có, mất mát đâu mà sợ, do đó khỏi nói lý không. Mắt thấy
là Ông chủ thấy, tai nghe là Ông chủ nghe. Ông chủ hiện
tiền, lúc nào cũng có.
Nhận
ra như thế, tôi thấy ai cũng có thể tu được, không phải
chỉ riêng một ít người thôi, vì ai cũng muốn thấy Ông
chủ. Mình là chủ, muốn sống về Ông chủ của mình, đó
là chuyện thích hợp. Cho nên nhận ra được lẽ thật này,
tôi nghĩ đây là con đường dễ truyền bá, gần gũi với
quần chúng, còn đường trước khó hơn. Đó là nói đại
cương.
Bây
giờ đi sâu trong Chân tâm, biết rõ mình có Chân tâm. Một
bữa khuya ngồi thiền, tôi đặt câu hỏi: “Chân tâm là gì?”
Thường chúng ta định nghĩa chân là chân thật, tâm là cái
biết, Chân tâm là cái biết chân thật, nhưng bây giờ tôi
không định nghĩa như vậy. Tôi nói Chân tâm là Ông chủ thường
biết rõ ràng, trùm khắp sáu căn, không tướng mạo, không
sanh diệt. Bởi không tướng mạo nên đồng với hư không,
không sanh diệt nên giải thoát sanh tử. Đi tới đó mới ra
khỏi dòng sanh tử. Nếu chỉ hiểu Chân tâm theo nghĩa Chân
tâm thôi thì chúng ta không thấy gì là giải thoát sanh tử.
Chân
tâm trùm hết sáu căn nhưng không có tướng mạo, nếu có
tướng mạo làm sao trùm hết sáu căn được? Không có tướng
mạo nên khi thân này hoại nó đồng với hư không, tức Pháp
thân. Chân tâm không có sanh diệt, còn gì nữa mà sanh tử
nên giải thoát sanh tử. Chân tâm có đủ trong tất cả chúng
ta, không hề thiếu. Có Ông chủ là có đủ khả năng đi tới
giải thoát, không tìm kiếm ở đâu khác.
Như
vậy biết được tột cùng gốc Chân tâm rồi, khi khởi sự
tu chúng ta phải tu bằng cách nào? Khi trước đọc câu chuyện
Tổ Đạt-ma, Tổ Huệ Khả, tôi lãnh hội và đề ra pháp tu.
Tổ Huệ Khả thưa:
- Bạch
Hòa thượng, tâm con không an xin Hòa thượng dạy con pháp an
tâm.
Tổ
Bồ-đề-đạt-ma nói:
- Đem
tâm ra ta an cho.
Ngài
Huệ Khả sửng sốt tìm tâm, tìm mãi không thấy mới thưa:
- Con
tìm tâm không được.
Tổ
nói:
- Ta
an tâm cho ngươi rồi.
Ngài
Huệ Khả lãnh hội được, thời gian sau trình:
- Bạch
Hòa thượng, con dứt hết các duyên.
Tổ
Bồ-đề-đạt-ma nói:
- Coi
chừng rơi vào không.
Ngài
Huệ Khả thưa:
- Rõ
ràng thường biết, không sao được?
Tổ
liền ấn chứng.
Qua
câu chuyện đó, tôi thấy an tâm là quay lại tìm xem cái tâm
ở đâu, biết nó không thật là an. Lâu nay chúng ta cứ cho
cái nghĩ suy hơn thua, phải quấy là tâm mình, sự thật đó
chỉ là bóng dáng thôi, tâm thật không phải vậy. Khi chúng
ta xoay tìm lại những bóng dáng ấy mất, đó là an. Cho nên
tôi hướng dẫn quí vị tu thấy vọng khởi liền buông. Buông
hết nó tỉnh lặng, nhưng đi sâu trong sự tu hành trăm người
tu chưa được kết quả một hai người. Tại sao? Vì thiếu
Bát-nhã mà ra, do đó tôi bắt đêm nào cũng tụng Bát-nhã,
nhưng tụng bằng chữ chưa thấm.
Tâm
lăng xăng lộn xộn không dừng được tại vì chúng ta thấy
người thật, cảnh thật, muôn vật đều thật. Người thật,
cảnh thật, muôn vật đều thật thì không nhớ cái này cũng
nhớ cái kia, luôn luôn tâm không an. Bây giờ muốn nó an phải
thấu triệt lý Bát-nhã, người không, cảnh không, cái gì
cũng không hết, tự nhiên an liền. Muốn tu có kết quả tốt
phải ứng dụng Bát-nhã triệt để, ứng dụng triệt để
Bát-nhã rồi, không muốn an nó cũng an. Vì không có gì thật
hết nên đâu còn nhớ chi nữa, do đó tâm an.
Quí
vị thấy cái gì cũng thật nên bảo bỏ, bảo đừng nghĩ
không được. Người ta mắng mình thật, ngồi lại nhớ chuyện
vui, chuyện buồn, chuyện hay, chuyện dở, đủ thứ chuyện
thật hết nên tâm bất an. Một năm rưỡi tôi đi sâu trong
Bát-nhã, càng đi sâu càng thấy không có ngã, không có pháp.
Không ngã không pháp thì còn gì nghĩ? Bây giờ chúng ta chưa
bỏ ngã, chưa bỏ pháp được thì chấp còn nguyên. Ngã, pháp
còn thì tu không tiến.
Bởi
vậy tôi lo đi sâu Bát-nhã, thấy ngã pháp không có, mình nói
đạo lý sao đây? Không nói được làm sao giáo hóa? Trong khi
tâm tôi ngại ngùng như vậy, bỗng dưng tôi thấy được lý
này, tôi hết lo. Ai cũng muốn biết mình có Ông chủ, không
ai nói mình không ngơ, thì bây giờ chỉ Ông chủ cho họ. Sống
được với Ông chủ ai cũng vui. Cho nên đường lối này gần
gũi, rõ ràng, thích hợp với mọi người, vì ai cũng có sẵn.
Chúng
ta tu tới hết vọng tưởng, còn Chân tâm thì nhắm mắt mới
nhập Pháp thân, từ Pháp thân có Ứng thân, Hóa thân độ
chúng sanh. Ở đây Ông chủ có đủ, thường biết rõ ràng,
không sắc tướng, không sanh diệt. Vì vậy biết được Ông
chủ thì không còn kẹt thân sắc tướng nữa. Bấy giờ thân
đồng hư không, là Pháp thân bất sanh bất diệt, giải thoát
sanh tử. Ngay đây mình có đủ hết, chúng ta nhân danh Ông
chủ đi thẳng vào chỗ bất sanh bất diệt. Chớ tu mà không
có gì thì buồn chết, không biết sẽ đi về đâu, ai chịu
trách nhiệm trong việc tu này?
Vì
vậy khi nói tới sự tu, tôi thấy nhà Thiền phân hai loại:
một là Thiền tông tu loại ra, hai là Thiền tông tu thu vào.
Phương pháp chúng ta ứng dụng lúc trước thuộc về loại
ra. Nhưng quí vị loại hoài không hết vì còn thấy thật.
Chừng nào thấy thân không, cảnh không, tất cả đều không
thì dễ loại. Còn nếu thấy thân thật, cảnh thật thì không
bao giờ loại hết. Phương pháp thu vào, thật giả không cần
biết, chỉ cần biết Ông chủ thôi, bám vào Ông chủ làm
chỗ tựa. Phương pháp loại ra lấy Bát-nhã làm trí tuệ dẹp
phá. Phương pháp thu vào lấy Ông chủ làm chỗ tựa. Biết.
Ông chủ biết thấy, Ông chủ biết nghe, Ông chủ biết xúc
chạm v.v… Nhớ như vậy, sống như vậy thì trở về gốc,
gọi là thu vào. Bởi vì cái gì cũng đem vô Ông chủ hết,
không bỏ ra. Còn pháp kia cái gì cũng bỏ ra. Phương pháp thu
vào thấy như lạ, nhưng thật tình đó là gốc của Thiền
tông. Cưỡi trâu chỉ biết trâu chớ không biết gì hết,
chỉ giữ con trâu thôi, không kiếm ở đâu khác.
Tất
cả chúng ta tu, mỗi người mỗi hạnh nhưng pháp nào gần
gũi hơn, cần thiết hơn thì mình sử dụng tu, dạy người
cùng tu. Từ hôm tôi thấy được cái gốc đó, tới nay chỉ
mười hai mười ba ngày, chưa đủ thời gian kinh nghiệm kỹ.
Nhưng tôi nghĩ vô thường bất cập lắm, bây giờ chờ đủ
kinh nghiệm mới kêu nói thì không biết mình còn sống hay
chết mất, nên tôi phải nói sớm cho tất cả biết. Giả
sử tôi có tịch, quí vị cũng có một lối đi rồi phăng
lần thêm. Chúng ta cứ đi theo lối cũ thì không thuận tiện
trong việc giáo hóa hiện tại. Nói tới thiền phải nói tới
tột cùng, không thể đi nửa chặng, không phải tu thiền để
yên tâm, để khỏe, mà là phải đi tới tột cùng.
Bây
giờ trở lại phương pháp tôi đã và đang ứng dụng trong
thời gian gần đây. Khi sử dụng pháp này thì đi, đứng,
nằm, ngồi đều rất dễ tu. Như sáng tôi đi chơi, chống
gậy đi trên đường, vừa bước đi, mắt thấy, tôi nói “mắt
thấy là Chân tâm”; vừa nghe tiếng chim kêu, tôi nói “tai
nghe là Chân tâm”; chân bước cộp cộp là thân xúc chạm,
tôi nói “thân xúc chạm là Chân tâm”. Như vậy thấy, nghe,
vận động đều không ngoài Chân tâm, cái nào cũng Chân tâm.
Đi giáp một vòng không biết mấy trăm lần Chân tâm. Tôi
không nói sống được với Chân tâm, nhưng đi tới đi lui
đều có Chân tâm. Như vậy tôi có sống được chút nào chưa?
Đi
từng bước mình biết đi trong Chân tâm. Bởi vì định nghĩa
Chân tâm là cái thấy, cái biết. Thấy biết ở chặng đầu,
không phải chặng thứ hai thứ ba. Chúng ta thấy đường đi,
đó là Chân tâm chớ gì, đâu có nghĩ suy. Thấy đường thì
cứ vậy mà đi, đó là sống trong Chân tâm. Đi nghe chim kêu
biết nghe, đó là Chân tâm. Giở chân bước tới, biết thân
xúc chạm là Chân tâm. Trong sáu căn, ba căn đầu mắt, tai,
thân là ba căn nổi, còn ba căn sau mũi, lưỡi, ý là ba căn
chìm. Bởi ba căn nổi nên chúng ta dễ ứng dụng tu.
Lối
tu này ứng dụng khi ngồi thiền, khi làm công tác, khi ra đường.
Chúng ta cứ làm một cách tự nhiên, không ngại chi hết, nhưng
nhớ mắt nhìn là Chân tâm, tai nghe là Chân tâm, thân biết
xúc chạm là Chân tâm. Đi một giờ, nửa giờ giống như ngồi
thiền, chỉ nhớ Chân tâm, không nhớ gì khác. Như vậy có
thiền không? Đi, đứng, nằm, ngồi đều nhớ Chân tâm. Nhớ
Chân tâm là nhớ niệm đầu, không nghĩ bậy. Vì vậy chúng
ta tu rất thuận lợi, trong hoạt động cũng tu, giờ ngồi
thiền cũng tu.
Giờ
ngồi thiền tôi bắt mình làm hai việc. Việc thứ nhất mắt
thấy là Chân tâm, tai nghe là Chân tâm, thân xúc chạm là Chân
tâm. Tức mắt biết thấy, tai biết nghe, thân biết xúc chạm,
đó là Chân tâm. Cứ thế lặp tới lặp lui mắt biết thấy,
tai biết nghe, thân biết xúc chạm đều là Chân tâm. Nói nguyên
câu là “mắt biết thấy là Chân tâm, tai biết nghe là Chân
tâm, thân biết xúc chạm là Chân tâm, Chân tâm luôn hiện
tiền”. Lặp đi lặp lại như thế ngồi thiền không buồn
ngủ chút nào, vì nhớ Chân tâm nên không buồn ngủ, tỉnh
táo hoàn toàn.
Lặp
tới lặp lui bao nhiêu đó thấy như không định. Không định
mà Chân tâm hiện tiền tức là định. Khi nói như vậy một
hồi thấy nhọc, tôi cho nó nghĩ một chút bằng cách nhớ
Chân tâm hiện tiền. Nhớ Chân tâm hiện tiền đến lúc khỏe,
tiếp tục nhắc tới nhắc lui lại. Suốt giờ ngồi thiền
làm việc ấy, đó là chặng số một.
Qua
chặng thứ hai, tôi đặt câu hỏi: Chân tâm là gì? Như tôi
đã nói “Chân tâm là Ông chủ thường biết rõ ràng, trùm
khắp sáu căn, không có tướng mạo, không có sanh diệt”.
Chân tâm là thường biết rõ ràng. Cái thường biết rõ ràng
đó trùm khắp cả sáu căn, chớ không phải biết một chỗ.
Nó không có tướng mạo, nếu có tướng mạo làm sao trùm
được? Ngồi đó nhớ Ông chủ, định nghĩa “Ông chủ thường
biết rõ ràng, trùm khắp sáu căn, không có tướng mạo, không
có sanh diệt”. Bởi không tướng mạo nên khi bỏ thân này,
Ông chủ nhập Pháp thân đồng hư không. Không sanh diệt nên
giải thoát sanh tử, vì có gì dẫn trong sanh tử?
Như
vậy đường đi từ thủy tới chung có manh mối rõ ràng. Bởi
vậy tôi ngồi thiền, có lúc khoe với Thị giả:
- Bây
giờ tôi mới biết Thiền duyệt vi thực.
Ngồi
trong yên tịnh mới thấy vui, nhẹ. Khi trước ngồi một, hai
giờ thấy đau, bây giờ ngồi hoài thấy thích, nên người
ta nói Thiền duyệt. Tôi cũng trải qua những trạng thái ấy,
nhưng tới lần này mới thấy chính xác, mình đi thẳng ngay
từ một con người mê lầm trở lại con người tỉnh táo,
sáng suốt rồi tiến tới chỗ tột cùng mình nhắm là được
thể nhập Pháp thân, giải thoát sanh tử. Như vậy mới gọi
là tu giải thoát.
Tu
lừng chừng mà nói giải thoát thì hơi ngờ, không biết chừng
nào thấy. Trên đường tu chúng ta phải đi tới nơi tới chốn
mới thấy cái hay cái quí. Nếu tu thường thường không bao
giờ thấy những cái đó. Tu miên mật với Chân tâm của mình,
giả sử ngang đây tắt thở, chúng ta còn gì? Chân tâm thôi.
Khỏi lo, khỏi cầu nguyện chi hết, vì mình đang sống với
Chân tâm.
Con
đường cuối của chúng ta tu đến chỗ giải thoát sanh tử
là như vậy, bởi vì sống được với Chân tâm thì không
sanh diệt, đâu có tướng mạo. Không tướng mạo nên trùm
khắp pháp giới. Không tướng mạo cũng không sanh diệt, nên
giải thoát sanh tử. Như vậy trên con đường tu, đi từ mê
lầm đến giải thoát sanh tử, chúng ta có manh mối, có đường
hướng rõ ràng sẵn đủ nơi mình, chớ không đâu khác. Đây
là cách tu thu hồi về mình, thường biết rõ ràng, thiếu
thường biết rõ ràng là nguy hiểm. Lúc nào cũng nhớ thường
biết rõ ràng, không lầm, không sai.
Thật
ra Tăng Ni ứng dụng pháp tu này có hiệu quả nhất trong giai
đoạn nhập thất. Vì cả ngày mình nhớ Ông chủ dễ, nếu
chúng ta đang chạy tứ tung thì nhớ Ông chủ hơi khó. Giai
đoạn này là giai đoạn đầu tôi ứng dụng, chưa phải giai
đoạn cuối. Tôi ứng dụng từ nay cho tới ngày ra thất chắc
cũng được khá khá một chút. Khi biết được điều này
rồi tôi thấy sự tu dễ, hướng dẫn người ta cũng dễ.
Lúc
trước tôi nghĩ ba năm ra không biết dạy gì, vì tất cả
đều không, dạy gì bây giờ? Thời này người ta ham tu thiền,
nhưng không biết tu thế nào? Đường lối tu này không có
gì nguy hiểm, vì quay lại mình mà. Mắt mình thấy, tai mình
nghe, thân xúc chạm, cái gì mình cũng biết có Ông chủ, Chân
tâm hiện tiền vậy thôi, không có chi nguy hiểm. Còn người
ngồi kềm chế quá mới có những phản ứng nguy hiểm. Tu
theo phương pháp này không kềm, nhẹ nhàng thảnh thơi, tu như
không tu. Nói thế cũng nên nhắc lại, nhiều người lợi dụng
“tu như không tu” rồi không tu gì hết. Nói đi, đứng, nằm,
ngồi tôi cũng tu vậy, nhưng mà ai biết? Miệng nói thế nhưng
trong ruột không phải vậy.
Người
thật sự biết tu, ham tu dù ở hoàn cảnh nào, trường hợp
nào cũng có thể tu được. Tu với Tâm chân thật của mình
thì lợi ích lớn, trường hợp nào cũng có kết quả tốt.
Còn nếu thiếu chân thật, gian lận thì không tốt. Tôi nhắc
cho tất cả nhớ để dè dặt cẩn thận.
Như
vậy kể từ hôm nay, tôi không ứng dụng như ngày xưa nữa,
mà đi con đường mới. Nói thế để quí vị đừng hiểu
lầm, ngày trước thầy dạy thế này, ngày nay thầy dạy thế
kia. Sự thật hai cái thấy tuy khác, nhưng cuối cùng không
hai. Bên loại ra thì dứt hết các duyên, Chân tâm hiện tiền.
Chân tâm hiện tiền, bỏ thân này nhập Pháp thân. Bên thu
vào cũng vậy, dứt hết các duyên, chỉ biết có Ông chủ.
Ông chủ đó không tướng mạo, không tướng mạo thì như
hư không, nhập Pháp thân hết sanh tử. Tuy hai bên thấy như
khác, nhưng cuối cùng là một. Phật dạy nhiều pháp tu nhưng
cuối cùng đều gặp nhau, chớ không khác. Khác thì không phải
đạo Phật. Miễn đi đúng đường thì cuối cùng gặp nhau,
trừ khi đi sai đường.
Còn
ba căn mũi, lưỡi và ý, chúng ta ít sử dụng, nhưng tôi cũng
nhắc cho đủ. Mắt thấy là Chân tâm, tai nghe là Chân tâm,
thân xúc chạm là Chân tâm, mũi biết ngửi là Chân tâm, lưỡi
biết nếm là Chân tâm, ý biết pháp trần là Chân tâm, như
vậy đi một mạch đủ sáu căn. Biết pháp trần là đủ rồi,
còn biết cái gì là phân tích tức vọng thức. Mắt biết
thấy là Chân tâm, đừng nói mắt tôi thấy này thấy kia.
Chỉ biết thấy là được, mới là niệm đầu, là chân.