ĐƯỜNG
SANH TỬ - ĐƯỜNG BẤT TỬ
Thiền
viện Trúc Lâm - Đà Lạt, ngày 29-08-2004
Hôm
rồi tôi có giảng kinh Bát-nhã, hôm nay tôi sẽ bổ túc thêm
những ý hay trong kinh Bát-nhã mà lần trước tôi chưa nói
hết, kế đó tôi sẽ nói về kiến giải điên khùng của
tôi.
Trước
hết là phần giảng kinh. Ở đây không giảng từng câu, từng
chữ trong Bát-nhã vì tôi đã giảng kinh này đôi ba lần rồi.
Những từ ngữ, những ý nghĩa thông thường quí vị đã nghe,
bây giờ tôi nói những ý nghĩa vượt ngoài sự thông thường.
Nói
đến kinh Bát-nhã ai cũng thuộc lòng. Bát-nhã Tâm Kinh thuộc
hệ thống Bát-nhã. Chúng ta thử đặt lại câu hỏi: “Trong
Ngũ thừa Phật giáo, hệ thống Bát-nhã thuộc thừa nào?”
Nắm được chỗ đứng của Bát-nhã, chúng ta mới hiểu Bát-nhã.
Ngũ thừa Phật giáo gồm có: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh
văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa, Thiên
thừa dạy chúng sanh tu để được trở lại làm người hay
sanh lên cõi trời. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa dạy chúng
sanh tu chứng Tứ quả A-la-hán, quả Duyên giác. Kinh Bát-nhã
thuộc về Bồ-tát thừa, qua cả Thanh văn, Duyên giác đi thẳng
tới Bồ-tát, cao như thế.
Hiểu
vậy khi học kinh chúng ta mới thấy ý nghĩa cao siêu của kinh.
Kinh Bát-nhã có sau hệ thống kinh A-hàm. Mở đầu bài Bát-nhã,
Phật nói: - Bồ-tát Quán Tự Tại hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa
thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ
ách. Đối với Bồ-tát thừa, Phật nói thẳng ngũ uẩn giai
không. Để cho quí vị dễ hiểu, chúng tôi nhắc lại hệ
thống A-hàm. Kinh A-hàm, Phật tùy thuận chư thiên mời thỉnh
dùng phương tiện giáo hóa. Bởi vì khi thành đạo rồi, Ngài
do dự không muốn đi giảng. Ngài tự than giáo lý của ta thấy,
ta ngộ, nói ra không ai hiểu nên không muốn giáo hóa. Do đó
chư thiên hiện ra, đảnh lễ cầu Phật dùng phương tiện
giáo hóa chúng sanh. Đức Phật nhận lời, sau đó Ngài quán
sát những chúng sanh nào có duyên với Ngài thì hóa độ.
Hội
ban đầu ở vườn Lộc Uyển, Phật nói kinh Tứ đế. Đó
là Ngài dùng phương tiện giáo hóa, chớ chưa phải chỉ lẽ
thật Ngài đã thấy. Chúng ta nhớ, trong giáo lý Tứ đế Phật
nói Khổ đế đầu tiên. Tại sao Phật lại nói khổ? Bởi
vì chúng sanh mê lầm cho thế gian là vui. Thế gian cho năm dục:
tài, sắc, danh, thực, thùy là vui. Tài là tiền của, sắc
là sắc đẹp, danh là danh lợi, thực là ăn ngon, thùy ngủ
kỹ. Năm thứ này thế gian cho là vui thích. Đối lại năm
thứ vui ấy, Phật nói bốn thứ khổ của thân là sanh khổ,
già khổ, bệnh khổ, chết khổ. Kế nữa Phật nói bốn thứ
khổ của tâm là ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu
bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Ái biệt ly khổ là
những người mình thương mến phải xa lìa, như mất cha, mất
mẹ, mất anh em, mất người thân. Oán tắng hội khổ là kẻ
mình thù ghét cứ gặp mặt, làm việc chung hoài nên khổ.
Cầu bất đắc khổ là những gì mình mong muốn nhưng không
được như ý nên khổ. Ngũ ấm xí thạnh khổ là thân năm
ấm này sanh ra chứng tật, đủ thứ bệnh hoạn nên khổ.
Thế gian thấy ngũ dục là vui, trong khi đạo Phật nói tới
tám thứ khổ. Đó là vì muốn đối trị lại tâm mê lầm,
tưởng thế gian vui rốt cuộc chỉ toàn đau khổ.
Quí
vị thấy thân này thật không? Nếu thấy thân thật là đang
ở trong vô minh. Tại sao? Vì ai cũng biết thân này nhiều lắm
bảy, tám chục năm cũng phải hoại. Có rồi hoại, làm sao
thật được. Thật thì không hoại, còn hoại thì không thật.
Cho nên thấy thân thật là thấy sai sự thật. Do thấy sai
sự thật nên đắm mê nó, Phật gọi là vô minh. Chúng ta được
mấy người ra khỏi vô minh? Rất ít. Bởi vậy, tiếp nối
sanh tử không cùng. Đó là chỗ chư Phật thương xót, chúng
sanh chìm trong sanh tử không biết lối ra.
Đức
Phật dùng lý nhân duyên để giải thích thân này do nhân duyên
hòa hợp mà thành, nó không tự có. Bắt đầu từ vô minh
lần lần tiếp nối cho đến sanh lão bệnh tử, khiến chúng
sanh đi mãi trong luân hồi sanh tử. Chúng ta thấy thân thật
là nắm tay nhau mà đi trên đường luân hồi sanh tử. Chừng
nào thấy thân này hư giả không thật, ai chửi cũng cười,
mắng cũng cười, đó là ta chuẩn bị ra khỏi vòng vô minh.
Lâu
nay người ta bảo giới xuất gia là giới tu để giải thoát
sanh tử, như vậy tại sao chúng ta lại đồng ý đi trong sanh
tử? Đó là điểm yếu của mình. Chúng ta nguyện thoát ly
sanh tử mới cạo đầu xuất gia, bỏ cha bỏ mẹ, tất cả
quyến thuộc, đi vào đạo với mục đích vạch một con đường
giải thoát để cứu mình và những người thân đang trầm
luân. Ta đã nguyện như thế mà bây giờ cứ tiếp tục đi
trên đường trầm luân thì chừng nào cứu được?
Qua
lý nhân duyên chúng ta thấy thân này do duyên hợp tạm bợ,
không thật nên không có vấn đề gì quan trọng. Bản thân
ta không thật thì việc khen chê, thương ghét cũng không thật.
Chúng đã không thật tại sao ta bị quay trong đó, không ra
khỏi? Như có người phê bình thầy hay cô tu dở quá, quí
vị giận không? Người ta nói sự thật để mình tỉnh mà
lại giận, có phải vô minh không? Chúng ta nói tu mà không
dám nhận sự thật, cứ ôm ấp mê lầm, rồi cùng dẫn nhau
đi trong luân hồi không có ngày ra. Đó là chỗ hết sức quan
trọng. Vì vậy Phật nói Tứ đế, Thập nhị nhân duyên để
phá chấp cho cuộc đời là vui, phá chấp cho thân này là thật.
Tất
cả giáo lý của Phật đều xoay quanh con người, chỉ cho chúng
ta thấy thế nào là duyên hợp, thế nào là khổ để mình
biết mà thức tỉnh, không say mê trong đó nữa. Ai tu theo pháp
Tứ đế đến nơi đến chốn sẽ chứng Tứ quả Thanh văn,
gọi là Thanh văn thừa. Ai tu theo pháp Thập nhị nhân duyên
chứng được lý nhân duyên gọi là Duyên giác thừa.
Kế
đến Bồ-tát thừa. Bồ-tát lấy giác ngộ làm chân, chớ
không đối trị như Thanh văn, Duyên giác. Vì vậy nói tới
Bồ-tát là nói tới giác ngộ. Kinh Bát-nhã, Phật nói với
Bồ-tát, Ngài dạy chỉ cần chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
độ nhất thiết khổ ách, nghĩa là soi thấy năm uẩn đều
không liền qua hết khổ nạn. Ở đây Phật không nói khổ,
không nói duyên hợp gì hết, chỉ biết thân năm uẩn là không
thì qua hết tất cả khổ. Tại sao? Phàm những gì có hình
tướng do nhân duyên hợp thành đều vô thường, mà cuối
cùng của vô thường là không. Như nói cái nhà vô thường,
bởi vì khi nó gãy mục hết sẽ thành không. Con người cũng
vậy, vô thường nên cuối cùng tan rã thành không. Như vậy
không là kết quả cuối cùng của tất cả sự vật có hình
có tướng. Phật dạy soi thấy năm uẩn đều không là đi
tới kết thúc, không còn phân biệt khổ, phân biệt nhân duyên
quanh co, mà đi thẳng vào không, thấy rõ ràng là không. Thấy
như thế nên hết khổ.
Chúng
ta đọc chiếu kiến ngũ uẩn giai không mà thấy toàn là giai
hữu. Phật dạy một đường mình hiểu một ngả, không hiểu
theo Phật, nên không qua khổ nạn được. Khổ nạn nào chúng
ta cũng mắc kẹt. Tăng Ni ở các Thiền viện, lấy kinh Bát-nhã
làm cơ bản tụng niệm hằng ngày. Đó là quí vị đang đi
trên con đường của ai? Của Bồ-tát, chớ không phải của
Thanh văn, Duyên giác. Hiểu như vậy, mới biết rõ được
chỗ đứng của mình.
Bồ-tát
thừa thì không có thứ bậc, đi thẳng đến chỗ cuối cùng.
Như Tứ đế nói thân này sanh, già, bệnh, chết, Bát-nhã nói
thân này là không, nghĩa là chết rồi trở về không. Như
vậy nói không là nói chỗ kết thúc của thân này. Tất cả
tâm duyên theo cảnh cũng là không. Như vậy Bát-nhã thấy tột
lẽ thật ngũ uẩn là không, do thấy tột ngũ uẩn là không
nên hết khổ.
Mở
đầu Bát-nhã Tâm Kinh, Phật nói Bồ-tát Quán Tự Tại hành
sâu Trí tuệ Bát-nhã thấy năm uẩn là không, bởi giác ngộ
nên Ngài qua hết tất cả khổ nạn. Chúng ta không ai quên
câu này nhưng lại không thấy như Bồ-tát Quán Tự Tại. Phật
giải thích từng phần cho ngài Xá-lợi-phất nghe. Trước hết
Phật nói Sắc uẩn là không, vì Sắc uẩn là tứ đại. Tứ
đại là đất, nước, gió, lửa trong thân chúng ta. Da thịt
gân xương là đất. Nước mắt, mồ hôi máu mủ là nước.
Thở ra, hít vào là gió. Hơi ấm trong người là lửa. Tứ
đại hòa hợp thành Sắc uẩn, Phật nói nó là không. Tại
sao? Vì cái gì do duyên hợp thì phải tan. Tan thì thành không.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế, đều là không. Câu
chót Phật nói thị chư pháp không tướng, chỗ này là điểm
quan trọng trong buổi giảng hôm nay.
Thị
chư pháp không tướng nghĩa là tướng không của các pháp.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không sanh, không diệt, không
nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Hồi xưa tôi không
dám nói tướng không của các pháp là không, mà tôi nói thân
do duyên hợp nên không có chủ thể, không có chủ thể nên
gọi là không. Gọi không như thế là tánh không chớ không
phải tướng không. Đó là chỗ trước kia tôi bị kẹt. Một
buổi khuya ngồi thiền chừng một giờ, bất chợt tôi nhớ
lại, tại sao tướng không mà mình lại giảng tánh không?
Vừa đặt câu hỏi xong tôi tự trả lời, tự giải quyết
ngay. Giải quyết được rồi tôi rất vui.
Sở
dĩ trước kia tôi giảng các pháp duyên hợp không chủ thể
gọi là không, vì tôi nghe quí Hòa thượng dạy: “Thà chấp
có bằng núi Tu-di, không nên chấp không bằng hạt cải.”
Tôi nghĩ nếu mình nói không trơn, không trống rỗng, sợ người
ta chấp không thì mang tội, vì vậy tôi nói các pháp duyên
hợp không chủ thể nên gọi là không, để tránh cái chấp
không. Tôi không ngờ cái chấp không của các bậc Tôn túc
dạy là chấp không có thiện, không có ác, không tội, không
phước, không nhân, không quả, không nghiệp báo luân hồi.
Đó gọi là chấp không.
Còn
kinh Bát-nhã thấy triệt để được tướng không của các
pháp, thấy bằng trí tuệ tướng không của các pháp, chớ
không phải chấp không. Tự giải quyết xong điều này, tôi
vui quá. Giờ ngồi thiền còn lại trở về sau, toàn là những
kiến giải điên khùng nổi dậy, hết cái này tới cái kia,
suốt luôn tới sáng không quên. Vì vậy phần giảng kinh tới
đây dừng, tôi sẽ nói sang phần kiến giải điên khùng.
Lâu
nay tôi cứ sợ nói không là chấp không, nhưng sự thật không
phải vậy. Ở đây nói không là đối với những vật có
hình, do sắc chất kết tụ thành nên có sắc. Những thứ
đó gọi là tướng có, vì có hình thể, có sắc chất. Còn
cái không có hình thể, không có sắc chất gọi là tướng
không. Một bên tướng có, một bên tướng không. Nếu không
có tướng không, làm gì có tướng có, vì hai thứ đối đãi
nhau. Cho nên nói tới tướng có thì phải chấp nhận tướng
không.
Tướng
không là tướng thế nào? Hồi xưa tôi cứ mắc kẹt chỗ
này. Tôi nghĩ không thì không có tướng, vì có tướng phải
có hình thức, có vật thể. Không hình thức, không vật thể
làm sao nói có tướng được. Nhưng Phật xác định tướng
không đối với tướng có. Có sắc chất, có hình thể là
tướng có. Không sắc chất, không hình thể là tướng không.
Cho nên cái không là cái thực hữu. Nói thế có điên không?
Tướng có như thân này, như cái nhà, như cây cối trước
mắt chúng ta nhìn thấy, những tướng đó là tướng thật
hay tướng giả? - Tướng giả. Như vậy tướng nào tướng
thật? Đó là điều chúng ta mắc kẹt.
Phàm
những gì duyên hợp mà thành đều là giả tướng, còn tướng
không không có duyên hợp. Có khi nào nó thay đổi không? Muôn
đời không vẫn là không. Chúng ta đọc kinh thấy chữ thật
tướng, mà không biết tướng thật là tướng nào. Chỉ nhớ
những tướng mắt thấy, tay sờ mó được cho là tướng thật,
không ngờ tất cả những tướng ấy là tướng duyên hợp,
hư giả. Còn tướng không mới là tướng thật muôn đời
không thay đổi.
Chúng
ta lâu nay nghe nói không là sợ, đâu ngờ cái không đó lại
là cái thật, cái có tướng mới là cái giả. Tôi nói cái
không là thật, cái có là giả, như vậy có điên không? Điên
rồi. Cả trăm, cả triệu người thấy các tướng của sự
vật là thật, tướng không là không có gì. Bây giờ tôi lại
thấy tướng không là thật, các tướng kia là giả, không
phải điên là gì?
Kinh
Bát-nhã nói thật tướng là vô tướng, không có tướng mới
là tướng thật. Chúng ta chú ý tới câu không tướng bất
sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm,
cái tướng không đó không sanh, không diệt, đời đời không
bao giờ thay đổi, còn cái gì sanh diệt luôn luôn thay đổi.
Không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt là không có hai
bên, không có đối đãi. Như vậy nói tới tướng không là
cái không sanh diệt, không đối đãi. Chúng ta tu nhập Niết-bàn
là nhập cái gì? Niết-bàn là vô sanh, nên nhập Niết-bàn
là nhập vô sanh. Chúng ta có cái không ấy chính là vô sanh
mà lại bỏ qua, chạy theo cái sanh diệt.
Phật
dạy thân này do tứ đại hòa hợp. Tứ đại là đất, nước,
gió, lửa, ai cũng biết rồi. Các kinh A-hàm chỉ nói tới chừng
đó thôi, nhưng qua Bát-nhã thì thêm một đại nữa, đó là
không đại. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật còn nói thêm thức
đại, kiến đại, tổng cộng là bảy đại. Đất, nước,
gió, lửa dễ hiểu rồi, nhưng không đại thì thế nào? Bây
giờ quí vị tự kiểm lại trong thân mình, phần hư không
nhiều hay ít? Hai lỗ mũi trống tức là không, lỗ tai trống
là không, cổ họng trống là không. Trong con người chúng ta,
cái không luồn sẵn khắp hết. Bao tử chứa được cơm cũng
nhờ trống, những mạch máu trống mới dẫn máu chạy khắp
thân, lá phổi nở tóp cũng nhờ trống. Cả thân mình từ
đầu đến chân, mỗi lỗ chân lông đều trống, đều thưa
hở hết. Kiểm lại phần trống trong thân rất nhiều.
Trong
tứ đại, thiếu một đại nào chúng ta còn giải quyết chậm
một chút, chớ không đại mà thiếu thì sao? Lỗ mũi, cổ
họng bít lại thì sao? - Thì chết. Như vậy không đại hệ
trọng đối với sự sống của chúng sanh đến cỡ nào? Vậy
mà chúng ta đâu thèm biết tới nó, cứ lo bồi bổ mấy thứ
có. Thiếu nước, thiếu đất liền lo đem vô, còn cái không
thì quên mất.
Kế
đến thức đại. Chúng ta có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý, mỗi căn đều có thức phân biệt. Thức trùm hết
cả người nên gọi là thức đại. Cuối cùng là kiến đại,
đại này nghe hơi lạ, tôi sẽ nói sau. Bây giờ quí vị nhìn
lại không đại trong con người chúng ta với hư không trống
rỗng bên ngoài, là một hay khác? - Không hai. Giả sử thân
này rã ra, cái không trong người chúng ta sẽ nhập với hư
không. Không không có hai, không có ranh giới. Ở trong người
mình, cái không ít nhưng thân này rã ra, nó hoà nhập với
hư không bên ngoài, chớ không riêng khác. Hư không thì không
hai. Chúng ta có sẵn cái không ấy ở trong con người mình.
Kiểm
lại đất, nước, gió, lửa, bốn thứ đó là vô tri. Đến
cái không là vô tri hay hữu tri? - Cũng vô tri. Như vậy phần
vô tri của thân là tứ đại và không đại. Thức đại thì
hữu tri, vì thức là tâm thức phân biệt nên hữu tri. Thức
phân biệt là thức sanh diệt. Đến kiến đại, nói đủ là
kiến văn giác tri tức thấy, nghe, cảm xúc và biết. Cái đó
hằng hữu, không tướng mạo, không sanh diệt mà thường biết.
Như lỗ tai hay nghe, cái hay đó có tướng mạo gì không? Con
mắt hay thấy có tướng mạo gì không? Như vậy cái nghe, cái
thấy v.v… không có tướng mạo, thường hằng hữu, nó thuộc
phần kiến đại. Nhưng thấy mà khởi niệm phân biệt là
qua thức rồi.
Chúng
ta có hai phần:
1.
Thân và tâm sanh diệt. Thân sanh diệt là thân tứ đại. Tâm
thức sanh diệt bám theo tứ đại phân biệt hơn thua, phải
quấy, thương ghét v.v… gọi là thức. Nó đi theo con đường
của tứ đại, duyên hợp sanh diệt. Nếu chúng ta cho thân
tứ đại là thật thì cũng cho thức phân biệt là thật. Cho
thức là tâm mình, tứ đại là thân mình. Khi tứ đại này
mất nhất định sẽ bám vào tứ đại khác, do tâm thức mang
nghiệp lành dữ. Như vậy tâm thức mang nghiệp lành dữ để
đi tới thân tứ đại khác, tốt xấu tùy theo nghiệp lành
hay dữ. Đó là chúng ta đi trong con đường sanh tử không có
ngày dừng.
2.
Thân và tâm không sanh diệt. Không đại là cái bất sanh bất
diệt, dùng kiến đại để hoà nhập với không đại. Kiến
đại hằng hữu không sanh, không diệt mà thường giác, thường
tri. Lấy cái thường giác, thường tri, không sanh, không diệt
đó làm tâm mình, nhà Phật gọi là Chân tâm hay Phật tánh.
Tâm bất sanh bất diệt là Tánh giác. Lấy tướng không vô
tri không sanh không diệt làm thân. Thân và tâm không sanh không
diệt hòa nhập nhau, gọi là nhập Pháp thân. Pháp thân bao
lớn? Trùm khắp hết. Đây là vấn đề rất quan trọng.
Như
vậy nơi chúng ta có đủ hai phần: Phần tướng sanh diệt
là tứ đại, tâm sanh diệt là thức đại. Sống với tướng
và tâm sanh diệt thì đi một chùm trong luân hồi. Phần tướng
không sanh diệt là không đại, đi chung với tâm bất sanh bất
diệt là kiến đại. Sống với tướng và tâm bất sanh bất
diệt thì đi theo đường giải thoát. Cho nên giải thoát và
trầm luân nơi chúng ta có đủ hết.
Người
tu chọn đường nào? Chọn đường trầm luân hay giải thoát?
Chúng tôi bắt quí vị ngồi thiền để làm gì? Để dẹp
tâm sanh diệt. Nó lặng hết mới sống với tâm vô sanh được.
Sống với tâm vô sanh mới hòa nhập với thân hư không vô
sanh. Nếu chúng ta cứ buồn thương, giận ghét thì sống với
thức sanh diệt, hòa nhập với tứ đại sanh diệt, do đó
đi mãi trong luân hồi sanh tử. Đó là chỗ thấy điên khùng
của tôi.
Tới
đây tôi mới thấy lâu nay mình tu hời hợt quá, nên con đường
giải thoát rất lờ mờ. Cứ chạy tìm cái bên ngoài mà quên
cái sẵn ở trong. Phật xác định tướng không của các pháp
là không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch… rõ ràng
như vậy. Đọc Tín Tâm Minh tôi thấy Tổ Tăng Xán nói: “Chí
đạo vô nan, duy hiềm giản trạch, đản mạc tắng ái, đổng
nhiên minh bạch.” Nếu không có thương ghét thì đại đạo
rõ ràng trước mắt.
Bây
giờ chúng ta thương ghét nhiều ít? Quá nhiều! Thương ghét
quá nhiều thì chắc chắn đời sau đi nữa, nhưng không biết
đi đâu? Thượng tầng là cõi trời, trung tầng là dân gian,
hạ tầng là thấp nữa. Lâu nay chúng ta cứ nghĩ thức phân
biệt là tâm, bám vào đó để phân biệt chia chẻ, khôn dại,
hơn thua, phải quấy, tốt xấu… cả ngày cái đầu không
dừng suy nghĩ. Tâm thức là một dòng sanh diệt, thấy đó
rồi mất đó, tìm lại không có mà chúng ta lấy nó làm tâm,
lấy tứ đại làm thân. Tứ đại vô thường sanh diệt, thức
cũng vô thường sanh diệt, lấy hai cái sanh diệt làm mình
thì muôn kiếp đi trong luân hồi, không thể nào ra khỏi.
Muốn
ra khỏi luân hồi, giải thoát sanh tử thì nơi mình có sẵn
cái không, tựa vào đó rồi dùng cái biết sẵn chưa từng
sanh chưa từng diệt làm tâm, sử dụng hai thứ thân và tâm
không sanh diệt này thì nhắm mắt thân thênh thang, tâm cũng
thênh thang.
Hồi
xưa tôi nghĩ hơi dốt một chút. Tôi nói hư không trong người
mình ít xịu, có chút thôi mà hư không bên ngoài quá lớn,
làm sao hòa nhập được. Nhưng bây giờ thấy rõ hư không
không có giới hạn, không lớn nhỏ. Nhỏ lớn là tại cái
khung đóng nó lại, chớ hư không là hư không, giở cái khung
ra thì hư không chỉ có một. Hư không của thân hòa nhập
với hư không của vũ trụ là một, không phải hai. Nếu lấy
hư không làm thân thì cả vũ trụ là thân mình. Tu như vậy
thân tâm mới trùm hết, nên nói trùm pháp giới. Tâm suy nghĩ,
so lường thì có hình tướng, có sanh diệt, còn tâm hằng
tri hằng giác, không suy nghĩ mà hằng biết, không lúc nào
vắng mặt. Tâm này không có tướng, không sanh diệt. Sống
với tâm không sanh diệt, chúng ta sẽ hòa nhập được với
thân không sanh diệt. Đó là Pháp thân.
Chúng
ta muốn giải thoát sanh tử phải đi con đường bất sanh bất
diệt. Hồi xưa tôi cứ thắc mắc, nhập Niết-bàn là vô sanh,
mà cái gì vô sanh? Về Cực Lạc ngồi tòa sen, vui vẻ đi chơi
nước này nước nọ, hái hoa cúng dường rất vui. Còn nhập
Niết-bàn vô sanh không có gì hết, buồn chết. Nhưng bây giờ
tôi thấy không phải vậy. Chính thể nhập được Pháp thân
rồi mới có Ứng thân, Hóa thân, Báo thân. Từ Báo thân, Ứng
hóa thân muốn độ chúng sanh ở đâu cũng được. Nhập được
thể không rồi thì sau này diệu dụng vô cùng.
Như
chúng ta thường lạy mỗi đêm đức Phật Thích-ca, với danh
hiệu “Nam-mô Thiên Bá Ức Hóa thân Thích-ca Mâu-ni Phật”.
Đức Phật đã nhập Niết-bàn mà Ngài còn có trăm ngàn muôn
ức thân, chớ không phải hết. Còn chúng ta sanh trở lại
hiền lành cũng chỉ một thân thôi. Bao giờ thể nhập được
Pháp thân sẽ ứng hóa vô lượng vô biên, độ hết chúng
sanh. Như vậy thì đừng nói nhập Pháp thân sẽ buồn hiu,
không có gì nữa. Chừng ấy tùy ứng tùy hóa, ai có duyên
thì mình hóa độ để đền trả ân xưa hoặc công đức của
họ.
Đó
là một chặng điên khùng của tôi.
Đến
cái điên khùng khác, tôi nhớ hiện tại mình sống đây, bước
vô nhà người ta thì nhìn bàn ghế, tranh ảnh, chớ không ai
nhìn hư không trong nhà. Nhìn bàn ghế, tranh ảnh rồi khen chê,
toàn là nhìn cái có. Ra vườn thấy cây này cây kia, hoa này
hoa nọ, ít ai nói khung cảnh vườn trống trải. Đa số nhìn
vào tất cả sự vật và ngoại cảnh có hình tướng. Cho nên
cả ngày mắt chúng ta đeo theo các thứ sắc tướng, âm thanh,
còn hư không tràn trề lại không nhớ.
Hôm
trước tôi có nói, bây giờ tôi mang ơn hư không quá chừng.
Nói vậy không phải điên là gì, hư không mà mang ơn? Nhưng
sự thật như thế. Cả ngày có lúc nào chúng ta rời hư không
đâu, kể cả giờ ngủ cũng phải có hư không trống để
hít thở. Hư không mang lại cho chúng ta bao nhiêu điều tốt
lành để chúng ta sống. Thế mà mình không thèm biết, chỉ
biết cơm, bánh, cây cối, hoa quả… toàn các thứ sanh diệt.
Đặt
câu hỏi thêm nữa, trước khi cha mẹ chưa sanh ta là gì? Thân
này có không? Không có, do cha mẹ sanh mới có. Sau khi thân
này chết rồi sao nữa? Cũng là không. Trước không, sau không,
giữa thì ở trong không, ở ngoài không bao bọc. Vậy mà mình
không thèm nhớ cái không, chỉ nhớ toàn những thứ sanh diệt,
đeo theo nó mà bỏ quên hẳn cái không mênh mông. Như vậy
chúng ta biết ơn biết nghĩa không?
Bây
giờ tôi đặt câu hỏi tiếp: “Cây cối sống được, có
hoa có quả cho mình ăn cũng nhờ cái gì?” Nhờ hư không nó
mới sống. Cả quả đất này quay vòng vòng ở đâu? Trong
hư không. Tóm lại, tất cả đều được sự bảo bọc của
hư không, xoay bề này bề kia đều nhờ hư không, nên ở đâu
cũng sống được. Từ người đến muôn vật sống là nhờ
hư không, vậy mà không biết hư không, sợ hư không nhất.
Từ
đó tôi suy luận ra, nếu đặt câu hỏi: “Trong bầu trời
đất này cái gì có trước nhất?” Quả địa cầu chúng
ta thành hình cũng duyên trong hư không tụ lại mà thành, ngày
nào hết duyên nó hoại cũng trở về không. Con mắt của Phật
nhìn thấy các loài động vật đều trải qua bốn tướng
sanh, già, bệnh, chết; các loài thực vật trải qua bốn tướng
sanh, trụ, dị, diệt; còn đối với quả địa cầu là thành,
trụ, hoại, không. Con người có bốn tướng sanh, già, bệnh,
chết, sau cái chết là không. Cây cối thực vật là sanh, trụ,
dị, diệt, sau diệt cũng trở thành không. Đến quả địa
cầu là khoáng chất, khi nó nát rồi cũng trở thành không.
Như vậy từ không mà thành, rồi hoại trở về không. Cái
không là chỗ tuyệt đối, không còn gì đối đãi nữa, cùng
tột là không.
Lý
Bát-nhã chỉ cho chúng ta thấy không là cái tột cùng của
muôn vật. Vì vậy ngài Huyền Giác nói trong Chứng Đạo Ca:
Pháp
thân giác liễu vô nhất vật,
Bản
nguyên tự tánh thiên chân Phật.
Giác
ngộ Pháp thân rồi thì không có một vật. Bản nguyên là
nguồn gốc của tất cả các pháp, tự tánh là tánh chân thật
sẵn có của mình, tức là Phật tánh. Cái không tột cùng
này mới là nguồn gốc, là chỗ cho chúng ta tựa. Chúng ta
tu cũng để giác ngộ chỗ tột cùng này. Chính ngài Huyền
Giác cũng nói:
Chư
hạnh vô thường nhất thiết không,
Tức
thị Như Lai đại viên giác.
Thấy
các hạnh là vô thường, tất cả đều không, đó là đại
viên giác của Phật. Khi nói về Bồ-tát, về Phật là nói
về giác ngộ. Một sự giác ngộ tràn đầy, thấy tất cả
đều là không, bao nhiêu thế giới trong hư không này đều
trở về không. Chúng ta tu nhập được Pháp thân là trở lại
chỗ tột cùng tuyệt đối đó, ngoài ra mọi thứ khác đều
là tương đối sanh diệt. Vậy tu khó hay dễ?
Mục
đích tu của chúng ta như vậy, cho nên mỗi ngày mỗi đêm
phải ngồi thiền để dẹp bớt tâm sanh diệt. Tâm đó chạy
theo nghiệp lành dữ dẫn mình đi trong sanh tử. Con đường
hiện giờ chúng ta tu theo Thiền tông có liên hệ tới Bát-nhã
hay không? Hồi xưa tôi hơi lấy làm lạ, tại sao Ngũ Tổ đem
kinh Kim Cang Bát-nhã giảng cho Lục Tổ nghe mà không giảng
bốn cuốn Lăng-già? Sau này mới thấy rõ, chính Bát-nhã là
con đường đi thẳng, trong nhà thiền gọi là “điểu đạo”
tức đường chim. Cho nên chúng ta phải hiểu rõ Bát-nhã. Lục
Tổ ngộ cũng từ kinh Kim Cang Bát-nhã, sau này đệ tử là
ngài Huyền Giác cũng ngộ từ Bát-nhã. Ngài Huyền Giác nói:
Hữu nhân vấn ngã giải hà tâm, báo đạo ma-ha Bát-nhã lực.
Tức là nếu có ai hỏi ta hiểu tâm nào thì đáp rằng ma-ha
Bát-nhã. Lý này hết sức rõ. Đó là những chặng thấy điên
khùng của tôi.
Bây
giờ trở lại kinh. Kinh Bát-nhã nói: “Trong cái không không
có năm uẩn, không có sáu căn, không có sáu trần, không có
sáu thức, không có mười tám giới. Kế đến không vô minh,
không vô minh tận, không khổ tập diệt đạo, không trí, không
đắc.” Trong cái không không có mười tám giới dễ hiểu
rồi, nhưng tại sao Mười hai nhân duyên, Tứ đế là pháp
tu của hàng Thanh văn, Duyên giác cũng không có nữa?
Như
tôi đã nói, Bát-nhã vượt qua đối đãi của Nhị thừa,
không còn đối đãi của Thanh văn, Duyên giác, nên nói là
Bồ-tát. Qua hết đối đãi nên cái không này là chót. Hồi
xưa giảng tới đây tôi hơi lúng túng, tại sao Tứ đế, Thập
nhị nhân duyên mà cũng không có nữa. Bây giờ mới thấy
rõ Tứ đế, Thập nhị nhân duyên là dùng những phương tiện
đối đãi để đối trị, nó còn hai bên. Cái không này không
có hai bên, nên vượt qua tất cả.
Bồ-tát
là vô trí vô đắc, nếu còn có trí, có đắc là còn đối
đãi, chưa phải đúng chỗ của Bồ-tát. Nếu không tất cả
thì đi tới đâu? Vô sở đắc là không còn cái để ngộ,
để được nữa, chừng đó Bồ-tát y theo Bát-nhã không còn
bị chướng ngại chút nào hết. Không còn nằm trong đối
đãi, trong sanh diệt nên không còn bị chướng ngại, vì vậy
nói vô quái ngại. Không có đối đãi thì còn gì sợ sệt,
vì vậy nói vô hữu khủng bố.
Không
những riêng Bồ-tát mà ba đời chư Phật cũng nương Trí tuệ
Bát-nhã mà được giác ngộ viên mãn. Nói tới Bát-nhã là
nói tới Phật, nói tới Bồ-tát chớ không phải nói tới
Thanh văn, Duyên giác. Cuối cùng của Bát-nhã là đoạn mà
nhiều người nghi ngờ nhất, vì nói thần chú. Điểm này
có lẽ tại các nhà phiên dịch, thời xưa ở Ấn Độ rất
trọng thần chú. Họ thường dùng thần chú trị quỉ thần,
trị những con rắn độc, cọp sói v.v… vì vậy nói Bát-nhã
trị được tất cả bệnh cũng như thần chú linh thiêng nhất.
Trí tuệ Bát-nhã rất mạnh, có giá trị bằng tất cả các
thần chú. Các nhà phiên dịch muốn cho linh thiêng, họ để
nguyên câu chữ Phạn. Chớ thật ra câu “yết-đế, yết-đế,
ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha”,
có nghĩa là qua bờ kia, qua bờ kia, qua đến bờ kia. Bờ kia
là bờ giác ngộ. Đứng bên bờ mê qua tới bên kia là bờ
giác ngộ vậy thôi. Hiểu vậy mới thấy tinh thần Bát-nhã
rất sâu, rất kỳ đặc chớ không phải thường.
Chúng
ta tụng Bát-nhã hằng đêm để nhắc tới nhắc lui, nhớ mình
đang đi con đường đó, chớ không phải tụng cho Phật nghe.
Bây giờ tôi thấy nhiều vị tụng kinh cho hay, cho Phật nghe.
Thật ra tụng kinh là lặp đi lặp lại lời Phật dạy cho
thâm nhập vào tâm, nhớ điều mình nguyện làm, đang hướng
đến. Đó là chỗ rất quan trọng, rất thiết yếu. Chúng
ta phải thâm nhập được lý kinh thì việc tụng kinh mới
có giá trị.
Kinh
Bát-nhã bên chữ Hán có sáu trăm quyển. Lúc trước tôi ngồi
đọc sáu trăm quyển đó, mới thấy Bát-nhã Tâm Kinh cô đọng
lại toàn bộ sáu trăm quyển kinh Bát-nhã. Cho nên chữ Tâm
Kinh có thể dịch là kinh tim. Bởi vì trong sáu trăm quyển
Bát-nhã, bài kinh này rút hết trọng tâm, cô đọng lại toàn
bộ ý chánh của kinh. Con người mình tim nằm giữa cung cấp
máu khắp châu thân. Chữ tâm là tim, một bộ phận quan trọng
bậc nhất trong cơ thể con người. Nếu nói tâm kinh là kinh
ruột thì không diễn đạt được hết tầm vóc trọng yếu
của nó. Vì ruột đâu có cung cấp máu lên xuống khắp châu
thân như tim. Cho nên chữ tâm dịch là tim, quả tim của sáu
trăm quyển Bát-nhã.
Ngày
21 tháng 7 nhuần, mùa an cư năm 1968, buổi khuya tôi ngồi thiền
sáng được lý sắc không bất nhị, sắc không không hai, sắc
tức thị không không tức thị sắc. Sáng được lý này tôi
vui gần ba ngày. Sau đó tôi đọc Tạng kinh, nhất là những
bài kinh về thiền thấy hiểu không khó như ngày xưa nữa.
Tôi nghĩ mình có duyên với thiền, ngang đây dạy tu thiền
được, nên mở cửa thất thành lập Tu viện Chân Không dạy
Tăng Ni tu thiền. Nhưng đến bây giờ tôi mới thấy được
tướng không này. Từ ngày đó đến giờ xa bao nhiêu?
Nói
thế để quí vị thấy tu thiền mà không đạt được lý
Bát-nhã thì không thấu đáo. Vì sao? Ngày xưa tôi thường
nhắc câu Thiền sư Huyền Giác hay nói: Chứng thực tướng
vô nhân pháp, sát-na diệt khước A-tì nghiệp. Nhược tương
vọng ngữ cuống chúng sanh, tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp.
Nghĩa là người nào chứng được thực tướng rồi thì không
còn nhân, pháp. Người đó chỉ trong chớp mắt diệt hết
tội dưới địa ngục A-tì. Nếu tôi nói dối chúng sanh xin
chịu tội bị cắt lưỡi dưới địa ngục trải vô số kiếp.
Câu này làm tôi hơi rùng mình. Tại sao Thiền sư dám khẳng
định và dám chịu tội tới như vậy? Bây giờ tôi mới thấy
rõ. Thực tướng là không còn ngã, không còn có cái ta, bấy
giờ nhận cái thể không là mình, thể không thì còn tướng
gì? Cho nên không có mình, không có người. Không có mình,
không có người thì cái gì dẫn xuống địa ngục. Nếu còn
thấy mình mới bị nghiệp dẫn, mình không có thì còn gì
mà dẫn? Cho nên chỉ trong chớp mắt qua khỏi địa ngục A-tì.
Đó là một lẽ thật.
Chúng
ta thấy con đường này rất kỳ đặc, đi sâu vô lý Bát-nhã
mới nhận ra điều đó.
Dưới
đây là biểu đồ tôi phác họa để chỉ cho quí vị thấy
rõ đầu đuôi, gốc ngọn của hai con đường: Con đường
trầm luân sanh tử và con đường giải thoát sanh tử.