Nhẫn
Nhục Tiên Nhân
Một
hôm trên núi Linh-Thứu thuộc thành Vương-Xá trong pháp hội
Pháp-Hoa, đức Phật đã tuyên bố thọ ký cho những đồ đệ
có căn trí cao sâu vào thời tương lai sẽ chứng đạo quả
Vô-thượng Bồ-đề.
Trong
số tăng đồ được thọ ký ấy gồm có: A-Nhã Kiều-Trần-Như
đời sau sẽ thành Phật hiệu là Phổ-Minh Như-Lai; Ma-Ha Ca-Diếp
sẽ thành Phật hiệu là Quang-Minh Như-Lai; Xá-Lợi-Phất sẽ
thành Phật hiệu là Hoa-Quang Như-Lai; Mục-Kiền-Liên sẽ thành
Phật hiệu là Ða-Ma La-Bạt Chiên-Ðàn-Hương Như-Lai; A-Nan
sẽ thành Phật hiệu là Sơn-Hải-Huệ Tự-Tại Thông-Vương
Như-Lai; Ma-Ha Ba-Xà Ba-Ðề pháp danh là Ðại-Ái-Nhạo Tỳ-kheo
ni đạo hiệu là Ma-Ha Kiều-Ðàm-Di sẽ thành Phật hiệu là
Nhất-Thiết Chúng-Sanh Hỷ-Kiến Như-Lai; Da-Du Ðà-La sẽ thành
Phật hiệu là Cụ-Túc Thiên-Vạn Như-Lai; Ðề-Bà Ðạt-Ða
sẽ thành Phật hiệu là Thiên-Vương Như-Lai v.v... Những người
đủ duyên đức đáng được thọ ký, đức Phật đều đã
thọ ký cho cả. Nhưng trong số những người được Phật
thọ ký thì A-Nhã Kiều-Trần-Như là người có những đặc
thù khác biệt khiến cho đại chúng chú ý muốn biết duyên
do sâu xa.
Lúc
bấy giờ tôn giả Xá-Lợi-Phất quán biết lòng của đại
chúng muốn thấu rõ về phước duyên đặc thù của A-Nhã
Kiều-Trần-Như, nhưng không dám thưa hỏi Phật. Thấy vậy,
tôn giả Xá-Lợi-Phất đến trước Phật cung kính chấp tay
đảnh lễ rồi quỳ thưa với Phật rằng: "Bạch đức Thế-Tôn!
Con nay quán thấy tâm của đại chúng đây hàng xuất gia cũng
như tại gia đều muốn biết về đời trước của tôn giả
A-Nhã Kiều-Trần-Như có nhân duyên đặc thù gì mà được
đức Thế-Tôn sau khi thành đạo liền hóa độ ông ấy làm
đệ tử trước nhất trong hàng trưởng-tử Như-Lai? Cúi mong
xin đức Thế-Tôn rủ lòng thương xót giảng nói để cho tứ
chúng khởi lòng kinh ngưỡng thâm sâu!"
Ðức
Phật nở nụ cười hiền hòa đáp: "Hay lắm! Hay lắm! Xá-Lợi-Phất!
Như-Lai sẽ vì các thầy mà nói rõ việc nầy".
Ðức
Phật tiếp: "Nầy Xá-Lợi-Phất! Ta nhớ thuở đời quá khứ
có một kiếp nọ, ta làm vị tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục
mà người thời bấy giờ gọi là Ðại-Nhẫn-Nhục tiên nhân.
Vị tiên nhân nầy ẩn mình trong rừng núi thâm sâu, gác bỏ
thế sự, đói ăn hoa trái, khát uống nước suối nguồn, ngày
đêm chuyên tâm tu niệm ở chốn sơn lâm thâm sâu u tịch đầy
hoa thơm trái lạ, đã bao năm không có bóng người lai vảng.
Bạn của Ðại-Nhẫn-Nhục tiên nhân là trăng sao mây nước.
Nhà cửa của Ðại-Nhẫn-Nhục tiên nhân là đất rừng trời
núi bao la. Ngày ngày, tiên nhân hết tọa thiền trên tảng
đá bên dòng suối, lại đến dưới gốc cây ven rừng quán
niệm. Tiên nhân lúc kinh hành niệm Phật dọc theo dòng suối,
khi ngồi thiền quán dưới tàng cây cổ thụ um tùm. Ðại-Nhẫn-Nhục
tiên nhân vui thú với chim hót suốt tháng năm, thưởng ngoạn
hoa rừng quanh suốt bốn mùa. Cuộc sống phẳng lặng như thế
đã bao năm, tưởng chừng như bồng lai tiên cảnh, không bị
ảnh hưởng trần gian thế sự nhiễu phiền.
Nào
ngờ, vào một chiều tà, khu rừng êm ả tĩnh mịch như mọi
ngày, chim muông hót trên cành cây kẽ lá, Ðại-Nhẫn-Nhục
tiên nhân đang tĩnh tọa thiền quán trên tảng đá ven thác
suối, thì bỗng có tiếng người nói rộn rã xen lẫn tiếng
vó ngựa chập chập ngổn ngang như tiếng sắt cành lẫn lộn
mỗi lúc mỗi gần. Tiên nhân lấy làm lạ, liền nhập thiền
quán sát thì biết vua Ca-Lỵ là vị đại quốc vương đang
trị vì đất nước đương thời. dẫn đoàn tùy tùng đi săn
bắn với cõi lòng thất vọng đầy tức giận. Tiên nhân cảm
thấy có triệu chứng chẳng lành sẽ xảy đến cho mình, liền
tiếp tục nhập định thiền quán.
Chẳng
mấy chốc, nhà vua cùng đoàn tùy tùng tay cung tay kiếm hùng
hổ xông tới trước Ðại-Nhẫn-Nhục tiên nhân. Như được
dịp trút nỗi bực tức thất vọng trong lòng, nhà vua dõng
dạc to tiếng hỏi: "Ngươi là ai? Ở đây làm gì?"
- Tâu
Bệ-hạ, bần đạo là kẻ tu hành. Ở đây tu tâm dưỡng tánh,
tập hạnh nhẫn nhục.
Nhà
vua đang cơn bực bội gằn giọng quát to: "Tu là cái quái gì?
Chính tại ngươi ở đây mà suốt mấy ngày nay, từ sáng đến
giờ ta không săn được con thú nào. Ngươi có biết tội đáng
chết không?"
Trước
thái độ giận dữ của nhà vua, Nhẫn-Nhục tiên nhân vẫn
thái độ bình thản đáp: "Tâu Bệ-hạ! Bần đạo là kẻ
tu hành ở chốn rừng núi thâm sâu, thoát ngoài thế sự, đâu
dám làm gì xúc phạm đến long thể Bệ-hạ?"
Nhà
vua: "Hừ! Không xúc phạm hả? Chính do ngươi ở đây mà làm
cho thú rừng sợ hãi xa lánh hết cả!"
Tiên
nhân thưa: "Muôn tâu Bệ-hạ! xin Bệ-hạ mở lượng hải hà
rộng xét. Bảo vệ mạng sống thì muôn thú mới không sợ.
Bằng chứng là ngày ngày thú rừng đến làm bạn với bần
đạo. Bần đạo sống nhờ hoa trái của thú rừng đem đến
cho".
Vừa
nghe tiên nhân nói thế, cơn tức giận bỗng nhiên trở nên
sôi sục, nhà vua hét to: "Láo! Vừa rồi ngươi nói tu nhẫn
nhục hả? Hừ! Xem thử ngươi có thật nhẫn nhục không? "
Vừa
dứt lời, nhà vua rút gươm ra khỏi vỏ, không một chút do
dự liền chặt tay tiên nhân. Mỗi nhát gươm sáng lòe phập
xuống tức khắc cánh tay của tiên nhân rơi rụng, máu phun
lai láng. Nhà vua như trút nỗi hằn học giận tức lên mình
Ðại-Nhẫn-Nhục tiên nhân. Tuy tay bị chặt đứt, nhưng gương
mặt của tiên nhân vẫn bình thản trong thái độ an nhiên
tự tại không chút nao núng giận hờn. Chẳng những thế,
tiên nhân còn trải tâm từ bi thương xót nhà vua đầy sân
si.
Liền
ngay khi cánh tay đứt rời thân thể rơi xuống đất, Ðại-Nhẫn-Nhục
tiên nhân phát lời thệ nguyện: "Nguyện đời đời dưới
mọi hình thức, trong mọi hoàn cảnh, ta tìm cách giúp đỡ
cho nhà vua si mê nầy sớm có ngày hồi tâm hướng thiện;
nguyện khi tu hành thành đạo chứng quả giác ngộ, trước
hết ta sẽ hóa độ cho vị vua sân si nầy sớm hiểu được
đạo quả giải thoát".
Do
lời nguyện chí thành khẩn thiết phát xuất từ lòng đại
bi, nên đời đời Ðại-Nhẫn-Nhục tiên nhân và vua Ca-Lỵ
thường gặp nhau và sách tấn giúp đỡ cho nhau trên đường
thánh thiện.
Thuật
xong câu chuyện, đức Phật hướng về tôn giả Xá-Lợi-Phất
nói: "Nầy Xá-Lợi-Phất! và chính ngay trong đời nầy, trong
những ngày còn tầm sư học đạo, khi ta đến cầu học với
tiên nhân Uất-Ðầu Lam-Phất, thì A-Nhã Kiều-Trần-Như trước
đó đã sớm thọ giáo với vị tiên nhân nầy rồi. Khi ta
rời bỏ Uất-Ðầu Lam-Phất, thì A-Nhã Kiều-Trần-Như cũng
theo ta về ở rừng tu khổ hạnh. Rồi ta bỏ lối tu khổ hạnh
để đến tĩnh tọa dưới cây Bồ-đề bên dòng sông Ni-Liên-Thiền,
thực hành trung đạo. Sau bốn mươi chín ngày, liên tục tĩnh
tọa bất động, vào một hôm, khi sao mai vừa rạng mọc, thì
ta chứng được đạo quả Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.
Khi ta trở lại rừng tu khổ hạnh Lộc-Uyển độ cho năm bạn
đồng tu khổ hạnh, thì chính A-Nhã Kiều-Trần-Như là người
đầu tiên rất lấy làm hoan hỷ tiếp thọ giáo pháp Tứ-diệu-đế
và chứng được quả A-la-hán".
Nói
đến đây, đức Phật nhìn thẳng vào tôn giả Xá-Lợi-Phất
mà bảo rằng: "Nầy Xá-Lợi-Phất! Thầy nên biết, vua Ca-Lỵ
thời quá khứ kia, chính là tiền thân của A-Nhã Kiều-Trần-Như.
Còn vị Ðại-Nhẫn-Nhục tiên nhân kia, chính là tiền thân
của Như-Lai ta đây vậy.