Nai Cứu
Người
Trong
thời quá khứ có con nai chúa thân hình mang bộ lông sắc vàng
óng ánh. Trên đầu mỗi sợi lông là những hạt ngọc kim
cương lóng lánh. Nai tự biết mình có thân hình đặc biệt
hơn các nai khác. Ðêm cũng như ngày từ trên thân nai phát
ra ánh sáng như những vì sao trên nền trời đêm không trăng.
Biết điều nầy dễ khiến cho người chú ý, dẫn đến hiểm
nguy tánh mạng, nên nai chúa thường ẩn mình trong rừng sâu.
Tuy
nai biết ẩn tránh như vậy, nhưng các thợ săn đã nhiều
lần theo dõi tìm cách gài bẫy, giăng lưới, đào hầm, trét
đồ ăn nơi thân cây, bỏ mồi trên cỏ để cố bắt cho được
nai. Thừa biết điều bất trắc hiểm nguy đó, nai chúa đã
khôn ngoan tránh né được tất cả những cạm bẫy. Nai chúa
ở nơi nào cũng đều có một đoàn nai mạnh khỏe lanh lẹ
tùy tùng hầu hạ. Vì vậy mà mỗi cử chỉ động tĩnh xung
quanh liền được báo tin mau lẹ để cho nai chúa kịp thời
ẩn tránh.
Cuộc
sống của nai chúa êm đềm phẳng lặng ngày tháng trôi qua
trong khu rừng già tịch mịch, như thế trải cũng đã bao năm.
Thế rồi, bỗng một hôm trời trong gió mát, khí trời ấm
áp sau những ngày mưa giông dữ dội, thì bỗng nhiên có tiếng
thất thanh kêu cứu từ ghềnh đá thác nước ở ven rừng,
làm phá tan sự yên tĩnh của sơn lâm u tịch bấy lâu nay.
Tiếng kêu ré đứt quãng vang dội cả một góc trời: "Xin
cứu tôi với! Nước cuốn trôi tôi! Bớ người ta ơi, xin
cứu tôi với ..! Tôi sắp chết đuối rồi, xin cứu dùm tôi
với ..!" Tiếng thét la kêu cứu gấp rút nghe mà hãi hùng khiến
phải rùng mình!
Thoạt
nghe, nai chúa vảnh đứng đôi tai thì rõ biết đó là tiếng
người đang chết đuối kêu la cầu cứu. Nai chúa liền hét
lên một tiếng lớn rồi đâm đầu phóng nhanh về hướng
có tiếng người kêu ơi ới cứu mạng. Thấy vậy, đoàn nai
hầu cận cũng co giò cong đuôi phóng theo sau. Ðến bên bờ
thác, quả nhiên nhìn thấy một người đang trồi lên hụp
xuống bị cuốn trôi theo dòng thác lũ bạc đầu cuồn cuộn
chảy. Người nầy đã đuối sức bất lực buông tay theo dòng
nước. Nai chúa nhanh như chớp, phóng mình ra giữa dòng nước
lũ, cố lấy hết sức mang gã thợ săn đã mệt lả bất tỉnh
sắp chết chìm kia để lên trên lưng đưa vào bờ. Rồi nai
chúa liếm mặt mũi kẻ kia cho tỉnh lại.
Gã
thợ săn được nai chúa đưa vào bờ, sau một hồi lấy lại
hơi thở bình thường, hoàn hồn tỉnh táo, nhìn thấy thân
thể nai chúa đầy hạt châu báu kim cương, sắc vàng lóng
lánh. Không dấu được nỗi ngạc nhiên, gã đem lòng hâm mộ,
kính ngưỡng chấp hai tay bái xá nai chúa lia lịa, để bầy
tỏ ơn cứu sống. Gã lẩm bẩm nói: "Thưa ngài, ơn cứu sống
của ngài, tôi không biết lấy gì đền đáp. Tôi nguyện đời
đời ghi mãi nơi lòng. Sau nầy có việc chi cần đến tôi,
bất cứ lúc nào, xin ngài cứ kêu lên một tiếng là tôi sẵn
sàng tuân mạng phục dịch theo ý ngài".
Nai
chúa nói: "Tôi không mong trả ơn. Tôi chỉ mong ông một điều
mà thôi, là đừng nói cho ai biết tôi đang ở khu rừng nầy.
Như vậy là ông đã trả ơn tôi rồi. Chúng tôi sống trong
khu rừng nầy bấy lâu nay, ngày ngày thong dong hưởng thanh
khí thiên nhiên, ăn lá cây hoa cỏ, uống nước suối nguồn,
nghe gió reo từ đồi cây ngọn núi, nói lời chân thật. Chúng
tôi sợ loài người các ông lắm! Xin ông khi rời nơi đây
làm ơn đừng nhớ đến tôi, quên khu rừng già nầy, ấy là
tôi an tâm, là vạn phước lắm rồi". Nói xong, nai chúa dẫn
đàn nai tùy tùng mau lẹ phóng nhanh biến dạng vào rừng sâu.
Gã thợ săn kia đứng nhìn theo ngơ ngác, man mác trong lòng
nỗi tiếc nuối, nai đã mất dạng sau đám cây rừng.
Gã
thợ săn về nhà kể lại cho vợ con nghe tự sự đầu đuôi
câu chuyện trợt chân té xuống dòng thác lũ, được nai chúa
cứu sống. Nai chúa lông vàng óng ánh, thân hình đầy ngọc
ngà châu báu kim cương rực rỡ v.v... Vừa kể, gã thợ săn
vừa vò tay xuýt xoa khâm phục nai quý. Vợ con gã say sưa nghe,
vừa kinh hoàng, vừa ngạc nhiên, vừa mừng, vừa thích thú
như chuyện thần tiên.
Sau
đó chẳng bao lâu, lệnh triều đình truyền rao về sự nằm
mộng của hoàng hậu. Hoàng hậu của vua xứ đó thường nằm
chiêm bao thấy một con nai vàng mình đầy ngọc ngà chói sáng,
ngồi trên tòa dùng tiếng người thuyết pháp. Ðiềm chiêm
bao nầy xảy đến với bà liên tiếp suốt mấy tháng trời.
Hoàng hậu thầm mơ ước được nai quý. Niềm ao ước khiến
cho bà tương tư, rồi ngày biếng ăn, đêm trằn trọc chập
chờn giấc ngủ. Vào một ngày nọ, nhân khi nhà vua đến âu
yếm, hoàng hậu thừa lúc vua thân thiết ân tình, liền đem
chuyện mình nằm mộng thuật lại cho vua nghe, và khuyên vua
nên tìm cách bắt con nai nầy thả trong vườn ngự uyển, trước
để làm tăng thêm giá trị bảo vật của quốc gia, sau là
để cho vua và hoàng hậu ngày ngày thưởng ngoạn.
Nghe
xong, nhà vua đồng ý chiều theo để đẹp lòng hoàng hậu.
Ðồng thời cũng để làm tăng thêm cái giá trị đặc biệt
của quốc triều. Sáng hôm sau, nhà vua truyền lệnh: "Ai bắt
được con nai chúa lông sắc vàng óng ánh, trên mình đầy
châu báu đem dâng thì sẽ được trọng thưởng ngàn lượng
vàng, và cắt cho một huyện để trọn quyền cai trị cùng
với mười mỹ nữ trẻ đẹp làm thê thiếp hầu hạ. Hoặc
ai biết chỗ nai chúa ở mà dẫn chỉ cho vua cũng được trọng
thưởng bằng nhau".
Khi
lệnh vua được truyền ra nhân gian, các chàng thanh niên, các
thợ săn hăng hái thi nhau đi tìm bắt nai chúa, những mong để
được trọng thưởng. Riêng gã thợ săn được nai chúa cứu
sống, khi nghe nhà vua treo giải thưởng đặc biệt to lớn
như vậy, lòng cảm thấy xao xuyến giao động, cộng thêm bên
cạnh, vợ gã cứ lân la thủ thỉ nỉ non đêm vắn tình dài
xúi dục: "Anh ơi! Ðây là dịp may ngàn năm một thuở, không
còn có cơ hội nào tốt hơn nữa. Giàu sang danh vọng đã kề
tay mà anh không nắm lấy, cứ nhẫn tâm để cho vợ con mãi
mãi sống trong cảnh nghèo nàn đến thế nầy sao!? Ơn nghĩa
cái giống gì? Ðồ cái loài thú vật mà cũng bận tâm ơn
với nghĩa!? Ðàn ông chi mà nhu nhược ngu đần quá thế trời
ơi!"
Tiếng
khóc than của người vợ trẻ mỗi lúc mỗi nỉ non thống
thiết làm cho anh chàng thợ săn sốt ruột khó xử. Trong tâm
trí của gã còn hiện rõ cử chỉ hiền từ, lời nói thành
khẩn thiết tha của nai chúa: "Xin ông đừng nói cho ai biết,
tôi ở chốn rừng nầy. Ông hãy quên tôi, ấy là ông trả
ơn tôi rồi đó. Tôi sợ lòng dạ con người lắm ..."
Nhưng
liền ngay đó, hình ảnh giàu sang phú quý vua ban cứ mỗi lúc
lại sôi động trong trí óc của anh như nước sôi sùng sục,
làm mờ lý trí. Lại thêm cô vợ bên cạnh cứ nỉ non thúc
dục, làm cho lương tâm anh mỗi lúc một mờ dần như ngọn
đèn cạn dầu trước gió, để nhường lại lòng tham tiền
của giàu sang vinh hoa phú quý lấn át ngự trị. Không còn
giữ được thái độ sáng suốt bình thản nữa. Một ngày
nọ, anh lẹ làng tìm vào hoàng cung tâu vua.
Trước
triều đình lộng lẫy uy nghiêm, vua và đình thần cân đai
áo mão uy phong lẫm liệt, mà từ trước tới giờ chưa một
lần nào thấy qua, khiến anh quá khiếp sợ. Ðối trước cảnh
tượng uy nghiêm của triều đình, hình dáng anh càng lúng túng
mất tự nhiên, áo quần không tươm tất, mặt mũi thất sắc
lộ vẻ sợ hãi, làm cho nhà vua đem lòng ngờ vực. Sợ vua
không tin, anh nói: "Muôn tâu Bệ-hạ, nếu bần dân không chỉ
ra được chỗ nai chúa ở, thì xin đem cái đầu nầy ra đền
tội".
Nhà
vua nghe giọng nói run run của anh quả quyết như thế, liền
ra lệnh cho quân lính chuẩn bị ngựa xe lên đường theo sự
hướng dẫn của anh. Còn đích thân nhà vua dẫn đoàn quân
đặc biệt tiếp cận. Khi đến khu rừng già, nhà vua ra lệnh
cho quân lính phân ra đội ngũ cẩn mật bao vây lấy cả khu
rừng. Còn chính nhà vua và đoàn tùy tùng hùng hậu, đi theo
sự hướng dẫn của gã thợ săn. Dọc theo dòng suối, lần
sâu vào rừng già âm u một hồi lâu, bỗng xa xa có ánh sáng
lấp lánh như sao đêm, gã thợ săn ra hiệu, mọi người nằm
sát mặt đất im lặng rình xem động tĩnh. Nai chúa như linh
cảm biết có sự chẳng lành xảy đến, quát to một tiếng,
các nai cận vệ co giò tháo chạy chỉ còn lại mình nai chúa
đứng yên một chỗ, hướng mắt nhìn về đám người sát
dấu thân dưới cây lá.
Gã
thợ săn đưa tay chỉ nai chúa, tâu nhỏ với vua rằng: "Tâu
Bệ-hạ, con nai chúa mình đầy châu ngọc kia đó kìa! Nó đang
nhìn về chúng ta đấy! Xin Bệ-hạ ra lệnh gấp kẻo nó chạy
mất!"
Nhà
vua lẹ như chớp lấp tên dương cung bắn nai, thì liền ngay
khi đó bàn tay của gã thợ săn cũng đứt rụng xuống đất
máu phun lai láng.
Tên
không trúng nai. Nai chúa biết mình nguy khốn đến nơi không
còn cách nào trốn thoát được, liền cúi đầu quỳ mọp
kêu lớn: "Muôn tâu Bệ-hạ dừng tay! Vì tôi mà Bệ-hạ phải
cực nhọc long thể ngự giá đến chốn rừng sâu âm u nầy.
Ðể đền tội làm phiền lòng Bệ-hạ, nay tôi xin vui vẻ
nạp mạng, để khỏi phiền nhọc đến long thể . Nhưng trước
khi chết, cho tôi được xin hỏi một điều là, ai chỉ cho
Bệ-hạ biết tôi ở chốn nầy?"
Nhà
vua chỉ tay vào gã thợ săn.
Nai
chúa hướng về gã thợ săn với giọng thống thiết nói:
"Ta đã sống ẩn cư nơi chốn rừng sâu an ổn tự bấy lâu.
Nhưng nào có ngờ đâu, vì lòng từ bi thương xót cứu mạng
sống cho ngươi, mà ngày nay ta phải mang họa vào thân đến
nông nổi nầy! Ta đã biết lòng người phản trắc, cứu nhơn
nhơn trả oán. Nên trước đây, khi đôi ta chia tay, ta đã khẩn
thiết van xin ngươi một điều: Ðừng cho ai biết ta ở chốn
nầy. Từ lâu ta sống xa cách thế nhơn, nào ngờ hôm nay vì
cứu sống nhà ngươi mà ta phải nhận lấy hậu quả bi thảm
như thế nầy!"
Trước
thái độ hiền hòa thống trách của nai, nhà vua nghe lấy làm
lạ, liền hạ cung xuống hỏi đầu đuôi câu chuyện. Nai kể
hết sự tình đã xảy ra, khiến cho nhà vua và quần thần
xót xa cảm động. Nghe nai cúa nói xong, sắc mặt nhà vua trở
nên nghiêm nghị, xoay lại hỏi gã thợ săn: "Có đúng như
thế không? Ngươi phải nói thật, bằng không sẽ bị mất
đầu ngay bây giờ".
Gã
thợ săn run sợ quỳ thưa: "Muôn tâu Bệ-hạ, quả đúng như
thế".
Vua
vừa xấu hổ với nai, vì nghĩ rằng loài người quá ư tệ
bạc thua cả loài thú. Ðồng thời, vừa giận ghét khinh bỉ
gã thợ săn kia là kẻ vong ân bội nghĩa ơn cứu sống, nên
định dương cung bắn gã thợ săn một phát cho rồi đời.
Nhưng nai chúa mau lẹ nhảy đến trước vua lạy mọp xin tha
sống cho gã.
Trước
nghĩa cử nhân từ quân tử của nai chúa, nhà vua vô cùng cảm
phục đức tánh từ bi nhân hậu nhẫn nhục của con thú vật,
nên đã ra lệnh cho quân hầu sửa soạn chiếc xe đặc biệt
để đưa nai về cung.
Trước
khi lên xe về cung, nai lại một lần nữa quỳ mọp khẩn khoản
xin vua một điều, là mong nhà vua lấy đức hiền hòa khoan
hậu để an dân trị quốc. Nếu nhà vua hứa làm được như
vậy, thì nai mới theo vua về triều. Bằng không, xin vua mở
lượng hải hà cho nai ở lại chốn rừng già để tiếp tục
sống cuộc đời ẩn dật, hoặc chết ngay tại chỗ cũng cam
lòng. Nghe qua những lời nhân hậu phát xuất từ miệng của
một con thú vật, khiến cho lòng vua và đoàn tùy tùng tướng
sĩ vô cùng xúc động cảm phục, nên nhà vua đã hứa khả
với nai. Lúc ấy, nai mới chịu lên xe về triều.
Về
đến hoàng cung, hoàng thân quốc thích, văn võ bá quan triều
thần, ai nhìn thấy hình thể của nai cũng đều cảm mến
ngưỡng mộ.
Riêng
vua và hoàng hậu từ ngày có nai nơi vườn ngự uyển, lòng
cảm thấy thoải mái hơn, đối đãi với bá quan trong triều
cũng như đối với hoàng thân quốc thích và dân chúng hết
sức là rộng lượng cởi mở hơn trước. Ngày ngày mọi người
ra nhìn nai, ai nấy cũng cảm thấy trong lòng thanh thản vui
vui, tự nhiên muốn phát tâm ăn ở hiền lành, tinh tấn tu
tâm dưỡng tánh.
Cũng
từ ngày có nai chúa trong vườn ngự uyển, cứ ba năm vào
khoảng cuối xuân đầu hạ, khi hoa lá đua nhau trổ mầu, dưới
đầm hoa sen chớm nở, nhà vua lệnh mở hết cửa thành để
cho dân chúng vào xem nai và thưởng ngoạn đền đài phong cảnh
hoàng cung. Thấy vua không còn đóng kín hoàng thành như trước,
nên dân chúng cảm thấy vua cùng với trăm họ dân gian gần
gũi không cách biệt xa lạ nữa. Ai nấy đều khấp khởi vui
mừng. Nhờ đức của vua và hoàng hậu biết tu, nhân dân cũng
theo gương đó mà ăn ở hiền lành, nên cuộc sống của muôn
dân trăm họ được thêm phần an cư lạc nghiệp.
Nói
đến đây, đức Phật xoay lại gọi A-Nan mà bảo rằng: "Gã
thợ săn kia chính là tiền thân của Ðề-Bà Ðạt-Ða. Nhà
vua chính là tiền thân của A-Nan ông đấy. Còn nai chúa có
thân hình đầy châu ngọc chính là tiền thân của Như-Lai
ta đây. Bởi do một kiếp xa xưa ta vụng tu mà phải sa đọa
làm thân nai. Tuy bị đọa làm thân nai, nhưng lòng ta vẫn giữ
mãi tu Bồ-Tát hạnh. Do nhiều kiếp tu Bồ-Tát hạnh tích lũy
công đức, mà ngày hôm nay ta đạt thành đạo quả Vô-thượng
Bồ-đề.